Wednesday, March 15, 2017

Giới thiệu cuốn “Tản mạn về ca dao lịch sử” của nhà giáo Đào Đức Nhuận

Người là một sinh vật có những hoạt động tập thể và có ý thức rất rõ về sự cần thiết của những hoạt động tập thể ấy. Từ giai đoạn sơ khai đã có đời sống bộ lạc. Phát triển thêm có đời sống gia đình, gia tộc, thị tộc, làng xã …, tiến tới quốc gia, rồi xã hội, quốc tế. Ở mỗi cấp của hoạt động tập thể, đều có những lời nói, việc làm … đưa ảnh hưởng từ cá nhân vào tập thể và ngược lại. Những lời nói, việc làm ấy có khi đúng, có khi sai. Những ảnh hưởng ấy có khi tốt, có khi xấu. Nhưng điều hiển nhiên là cá nhân cũng như tập thể đều có quá khứ đáng ghi nhớ để có thể từ đó rút ra những kinh nghiệm, thu được những bài học hữu ích. Chúng ta biết “ôn cố nhi tri tân” (ôn lại chuyện cũ để biết thêm về sự việc mới). Nhân loại có lịch sử, và có thể học hỏi từ lịch sử của mình.  


Trong những xã hội tiến bộ từ Đông sang Tây, chép sử là một việc làm quan trọng, không riêng của triều đình hay bộ máy cầm quyền, mà còn của nhiều bậc thức giả. Khi chép lại sử cũ, nhiều tác giả cũng nói rõ: Chép sử là đem những việc sai, việc hỏng đời trước viết vào sách để làm gương soi cho đời sau. Nhiều cuốn sử lấy tên là “thông giám,” trong ý nghĩa “giám” là “gương soi.” Trung Hoa có Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang đời Tống. Việt Nam có Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn.

Sử do triều đình chép hẳn sẽ phản ảnh cách nhìn của triều đình. Sau những cuộc tranh bá đồ vương, sử do kẻ chiến thắng chép đương nhiên đưa ra cách nhìn một chiều của kẻ chiến thắng. Sau khi nhà Lý thay nhà Tiền Lê, sự thật về những năm cuối của nhà Tiền Lê không được trình bày một cách đầy đủ và đúng mức, thiếu tính cách khách quan. Sau khi nhà Nguyễn diệt nhà Tây Sơn, nhiều sự kiện về nhà Tây Sơn đã bị che dấu, hoặc trình bày lại một cách thiếu trung thực.

Cũng may dân gian thường có nhận định vô tư, khách quan hơn. Những thiếu sót, thiên lệch trong sách sử do triều đình biên soạn có thể được bổ khuyết bằng những truyện truyền miệng, những câu vè, ca dao … phổ biến trong dân gian. Nếu chỉ đọc sử của triều đình, chúng ta khó có thể biết những tồi tệ của tình trạng mua quan bán tước từng xảy ra trong một vài giai đoạn xã hội suy thoái:

Mười quan thì đặng tước hầu
Năm quan tước bá ai hầu kém ai.

Việc vua Tự Đức cho xây Khiêm lăng (đương thời gọi là “Vạn niên cơ”) cũng đưa tới nhiều oán than trong dân chúng. Nhưng nếu chỉ đọc chính sử của nhà Nguyễn, ta khó có thể biết tới những lời than oán ấy:

Vạn niên là vạn niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

Dùng ca dao để tìm hiểu thêm về quá khứ của dân tộc, đất nước … là một ngành nghiên cứu hữu ích và lý thú. Đây cũng là một việc khó, có một số giới hạn, đòi hỏi nơi người nghiên cứu và giải thích một trình độ kiến thức vững chắc,  đọc nhiều, biết rộng …. Người làm được việc ấy cũng cần có những nhận thức tinh tế và giữ một tinh thần khách quan, vô tư, vì nếu không có những thứ ấy, dễ đi tới sai lạc.   

Giáo sư Đào Đức Nhuận dạy Quốc văn và Sử Địa nhiều năm ở Việt Nam. Yêu văn chương, yêu quốc sử, thông thạo địa dư, ông sưu tầm những câu ca dao mang ý nghĩa lịch sử từ rất lâu, nghiền ngẫm thật kỹ về ý nghĩa của chúng. Ông còn đối chiếu những bản được truyền tụng khác nhau để tìm hiểu sự thật trước khi giới thiệu tới độc giả. Với kiến thức uyên bác và đặc tính cẩn trọng, cuốn biên khảo về tỉnh Quảng Ngãi của ông (Quảng Ngãi, quê hương thân yêu, xuất bản năm 2014), đã được biết là một tác phẩm có giá trị. Trong niềm mong đợi và với sự tin cậy, người viết những dòng này hân hoan đón nhận bản thảo cuốn Tản mạn về ca dao lịch sử của ông.

Với tinh thần tìm tòi công phu, Gs. Nhuận phát hiện và giới thiệu nhiều câu ca dao lịch sử ít người biết.  Chẳng hạn những câu liên quan đến việc Đăng Quận công Nguyễn Khải ở Thanh Hóa vào đầu thế kỷ 17 bắt dân kéo đá, gánh đá xây khu vực sinh từ:

Cơm ăn mỗi bữa một lưng
Bao giờ gánh đá ông Đăng cho rồi!
Cơm ăn mỗi bữa một vơi
Bao giờ kéo đá cho rồi ông Đăng?

Ông còn đối chiếu với chính sử (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) để tìm hiểu thêm về tình trạng sinh sống của người dân thời đó, với những tài liệu biên khảo có thẩm quyền (như Lịch triều Hiến chương Loại chí của Phan Huy Chú) để biết rõ hơn về những nhân vật ông muốn đề cập tới. Ông còn lưu tâm tới những tài liệu biên khảo khác về cùng đề tài, chẳng hạn những bài viết của học giả Huỳnh Sanh Thông, khi bàn về sự thật lịch sử cũng như về những dị bản của câu ca dao ông muốn giải thích.

Khi giới thiệu những câu ca dao liên quan đến nhà Tây Sơn, ông trình bày và phân tích những câu bộc lộ niềm hân hoan ủng hộ anh em Tây Sơn trong giai đoạn đầu, cho tới những câu bày tỏ niềm thất vọng, chán ngán, đôi khi oán trách nữa, trong giai đoạn sau. Ông phân tách một cách vô tư nhưng rất lý thú thái độ của dân chúng trong khu vực Tây Sơn cai trị đối với việc binh thuyền chúa Nguyễn từ trong Nam ra đánh trong giai đoạn đầu:

Gió nồm thổi rộ tháng ba
Giặc mùa trong ấy kéo ra hãi hùng

tương phản hẳn với giai đoạn sau:

Lạy trời cho cả gió nồm
Cho thuyền chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra.

Với câu nói lưu truyền trong dân gian, “Bỏ vua không Khả, bới mả không Bài” (hay “Phế vua không Khả, đào mả không Bài”), ông tìm tòi thật kỹ trong các sử liệu thời bấy giờ để giải thích ý nghĩa của câu ấy một cách tường tận. Ông biện luận một cách minh bạch tính cách hữu lý của những từ khác nhau, “bỏ vua, phế vua, đày vua,” và phản bác những người hoặc hiểu sai, hoặc cố tình xuyên tạc câu ấy thành “Đày vua có Khả, đào mả có Bài.” Theo thiển ý, bài viết của ông là tài liệu rõ và vô tư nhất về hai câu truyền miệng mang tính cách lịch sử này.   

Bài viết của ông về câu ca dao:

Gái đâu có gái lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua

là bài viết đầy đủ, rõ, đưa ra nhiều chi tiết nhất về cuộc đời hai công chúa Ngọc Hân, Ngọc Bình, hai vị công chúa nhà Lê đã khiến nhiều người lẫn với nhau.

Ông còn cung cấp một bài viết phong phú và lý thú về những câu ca dao được coi là sấm ngữ, từ những câu được coi là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tới những câu sấm khác. Phạm vi bài của ông từ giai đoạn đầu của thời vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, qua thời vua Lê Chiêu Thống mất ngôi, tới những câu liên quan tới Nguyễn Công Trứ, Phan Bá Vành đời Nguyễn, kết thúc với việc Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier gặp tai nạn máy bay bốc cháy năm 1934. Người đọc sẽ tìm thấy từ tập sách của ông nhiều thông tin bổ ích và thật vui.

Với kiến thức rộng và đặc tính cẩn trọng, Gs. Đào Đức Nhuận tham khảo rất kỹ và chu đáo khi viết. Ông đã sử dụng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Đại Nam Thực Lục, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí …, cho tới những sử liệu gần đây như Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn …. Về văn học, ông tham khảo những tài liệu được biên soạn công phu như Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên của Phạm Thế Ngũ, Văn Học Nam Hà của Nguyễn Văn Sâm… cùng nhiều tài liệu khác. Ông cũng đặc biệt sử dụng một tài liệu ít người biết tới và không dễ có tại quốc ngoại là Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ Lục kỷ Phụ biên. Đây là cuốn Đại Nam Thực Lục chép sự việc trong hai triều Thành Thái và Duy Tân, chỉ mới được phiên dịch và xuất bản năm 2011, số bản in khá giới hạn, trong nước cũng ít người có chứ không nói tới quốc ngoại. Ông cũng tham khảo và sử dụng một cách dè dặt một số tài liệu trên Net. Điều ấy cho ta thấy cuốn Tản mạn về ca dao lịch sử của Gs. Đào Đức Nhuận là một cuốn biên khảo nghiêm túc, công phu, hữu ích, rất đáng tin cậy.

Trong nhận thức rằng ca dao lịch sử là một nguồn tài liệu phong phú, có thể giúp chúng ta hiểu  thêm một cách thích thú về lịch sử nước nhà, trong ý thức rằng những ca dao ấy cần được phân tích và chú giải do một nhà biên khảo có kiến thức đáng tin cậy với tinh thần cẩn trọng, vô tư, người viết những dòng này xin hân hoan giới thiệu cuốn Tản mạn về ca dao lịch sử của Gs. Đào Đức Nhuận tới với độc giả.
                                                                                                                                                                                                                                                                                           Trần Huy Bích

Thông tin bổ túc:

Tản mạn về ca dao lịch sử của Đào Đức Nhuận do Nhân Ảnh Tân Văn xuất bản đầu năm 2017. Sách gồm 295 trang với 19 bài phân tích một số câu ca dao lịch sử đáng chú ý.