Tuesday, December 5, 2017

MỘT VỊ QUAN BẢO VỆ QUỐC THỂ VÀ CHĂM LO CHO DÂN TRONG THỜI PHÁP THUỘC: TỔNG ĐỐC VŨ QUANG NHẠ


Sau khi người Pháp đặt nền đô hộ trên đất nước ta cuối thế kỷ 19, nhiều nhà ái quốc vẫn tiếp tục chiến đấu. Ta có những nho sĩ cựu học trong phong trào Cần vương như Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Xuân Ôn, Đinh Công Tráng …, những sĩ phu khảng khái như Hoàng Hoa Thám …, các nhà nho có khuynh hướng tiến bộ như Phan Bội Châu, Tiểu La Nguyễn Thành …, những thanh niên tân học như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính... Có người ra cộng tác với Pháp, giúp Pháp dẹp các cuộc khởi nghĩa, như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Lê Hoan... Cũng có những vị quan tuy cộng tác với Pháp và triều đình nhưng chỉ chăm lo cho dân, không chống lại các nhà ái quốc. Điển hình cho các vị quan trong nhóm ấy là cụ Vũ Quang Nhạ, Tổng đốc tại các tỉnh Bắc Ninh, Nam Định…


Tổng đốc Vũ Quang Nhạ (1847-1932)

Theo một bài viết của một người cháu nội cụ Vũ Quang Nhạ là cụ Vũ Thế Hùng, thì cụ Nhạ người làng Trung Lao, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Cụ là hậu duệ của cụ Vũ Hồn, gốc làng Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương, nhưng một chi nhánh thiên cư về Nam Định. Theo cuốn  Catholic Vietnam : A Church from Empire to Nation của Keith Charles (Berkeley, CA : Univ. of  California Press, 2012) thì cụ Nhạ sinh năm 1847. Cụ là con thứ ba trong một gia đình trung nông, thân phụ là cụ Vũ Quang Thanh, theo đạo Công giáo. Giữa giai đoạn cấm đạo hà khắc trong đời vua Tự Đức, cụ Thanh bị thích vào má hai chữ “Tả đạo.” Được coi là một tội phạm, con cái không được đi thi. Tuy nhiên, cụ Thanh vẫn cho con theo học các nho sĩ trong làng để biết chữ và có kiến thức.

Năm 1867, cụ Nhạ được 20 tuổi. trở thành một thanh niên cao lớn, có học vấn và khôi ngô, tuấn tú. Nhân làng khuyết chức Lý trưởng, cụ xin ra ứng cử vào chức vụ ấy. Phe bảo thủ trong làng không chấp thuận, viện lẽ “con một ‘tội phạm,’ không thể làm hương chức.” Đơn bị xé bỏ, không được phép tranh cử. Cụ uất ức bỏ ra đi, quyết “lập công danh sự nghiệp,” với lời nguyện rằng nếu không thành đạt sẽ không trở về làng. Điều ấy cũng giống Tư Mã Tương Như đời Hán bên Trung Hoa, người đã viết vào cây cầu ở đầu làng mấy chữ trước khi lìa quê hương ra đi, “Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều" (Không ngồi xe cao bốn ngựa, không trở lại đi qua cây cầu này nữa).

Lên tới tỉnh lỵ Nam Định, do ngẫu nhiên, cụ gặp một vị quan là Nguyễn Hữu Độ, đang có việc tới Nam Định lúc đó. Theo một bài viết đăng trên Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 145, thì khi ấy Nguyễn Hữu Độ đang làm Kinh lược Bắc Kỳ.  Điều này không được chính xác.  Đại thần Nguyễn Hữu Độ (người tỉnh Thanh Hóa, đậu Cử nhân năm 1837, đậu Phó bảng năm 1838)  sau có được cử làm Khâm sai, Kinh lược Bắc Kỳ, nhưng đó là việc của hơn 10 năm sau, từ 1880 đến 1883. Theo Đại Nam Thực Lục của Quốc sử quán triều Nguyễn thì năm 1857, Nguyễn Hữu Độ còn giữ chức Bố chánh ở tỉnh Bình Định (miền Trung). Năm 1873, nhân đang có mặt ở miền Bắc (không ghi rõ nhiệm vụ), được cử quyền Bố chánh Hải Dương. Năm 1875, được thăng hàm Thị độc, Hồng lô tự khanh, sung chức quản lý Thương chánh tại Hải dương, kiêm việc phòng giữ bờ biển. Vậy khi gặp và cất nhắc cụ Vũ Quang Nhạ ở tỉnh lỵ Nam Định năm 1867, nhiều phần cụ Nguyễn Hữu Độ đang là một viên quan trông coi việc Thương chánh, kiêm việc phòng thủ bờ biển ở mạn Hải Dương, cần người tiếp tay trong nhiệm vụ này.


Theo các vị trưởng thượng trong gia đình họ Vũ ở Trung Lao, thì công trạng đầu tiên của cụ Vũ Quang Nhạ là đánh dẹp cướp biển ở mạn Hải Dương, Quảng Yên. Theo bài viết của cụ Vũ Thế Hùng, khi tình cờ trông thấy cụ Vũ Quang Nhạ lần đầu ở Nam Định năm 1867, cụ Nguyễn Hữu Độ cho gọi tới hỏi chuyện. Các tài liệu cho biết thêm rằng bên cạnh vóc dáng cao lớn, vạm vỡ,  cụ Nhạ khôi ngô, tuấn tú, mắt sáng quắc, giọng nói sang sảng, cử chỉ đĩnh đạc. Có lẽ vì thế cụ Nguyễn Hữu Độ rất có thiện cảm, lập tức tin cậy, tuyển dụng ngay sau khi trò chuyện. Nhiệm vụ đầu tiên của cụ Nhạ là chỉ huy một đơn vị nhỏ trong việc đánh dẹp cướp biển. Cụ đã chứng tỏ là can đảm, có tài chỉ huy, và lập được quân công.

Chức quan đầu tiên cụ Nhạ được bổ nhiệm là một chức quan nhỏ: làm Bang tá ở phủ Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Yên. Khi ấy cụ Độ đã được đổi về làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội + Ninh Bình) ở gần đó. Theo Từ điển nhà Nguyễn của Võ Hương An (Irvine, CA : Nam Việt, 2012) thì Bang tá là một chức quan đặc trách về an ninh, trật tự tại các địa phương, có thể là tỉnh hay phủ, huyện, tùy theo tình hình. Với khả năng cùng sự tận tâm, can đảm và cương trực, cụ được thăng chức nhanh chóng. Theo Charles Keith trong cuốn Catholic Vietnam kể trên (trang 52), thì trong vòng 6 năm từ 1883 đến 1889, cụ Nhạ được thăng tới 10 cấp, trở thành Tổng đốc Bắc Ninh năm1896.  

Đại Nam Thực Lục Chính biên, Đệ Lục kỷ Phụ biên cung cấp nhiều chi tiết hơn. Năm Kỷ Sửu 1889 (Thành Thái nguyên niên), cụ Nhạ được cử làm Tán lý Quân vụ. Thực Lục cũng cho biết rằng “hạt Bắc Ninh còn giặc cướp tụ họp, cần người vỗ về đánh dẹp.” Năm Nhâm Thìn 1892 (Thành Thái thứ 4), cụ giữ chức Hộ Tổng đốc Ninh Thái (Bắc Ninh + Thái Nguyên), “giúp việc quân, nhiều lần lập công,” được phong tước An Tập nam (phẩm hàm chót trong 5 bậc công, hầu, bá, tử, nam). Năm Quý Tỵ 1893 (Thành Thái thứ 5) đang giữ chức Tổng đốc Bắc Ninh, cụ bị triệt, đưa về Nha Kinh lược Bắc Kỳ, người được cử tới thay là Lê Hoan, lúc ấy đang làm Tuần phủ Hưng Hóa. Một vị Tổng đốc bị triệt chức hẳn phải có lỗi rất nặng nhưng sử không hề chép cụ phạm lỗi gì. Chỉ biết đến năm Đinh Dậu 1897 (Thành Thái thứ 9), Đại Nam Thực Lục lại chép cụ giữ chức Tổng đốc Định Ninh (Nam Định + Ninh Bình), và được phong tước An Tập tử.

Sự việc cụ trở lại chức Tổng đốc và được thăng từ tước “nam” lên tước “tử” cho thấy việc bị triệt chức năm 1893 không phải là do tội lỗi mà vì một lý do Đại Nam Thực Lục không tiện chép ra. Theo bài viết của Ts. Khổng Đức Thiêm, đăng trên báo điện tử Bắc Giang ngày 23-7-2016, thì sau khi thay cụ Nhạ ở Bắc Ninh, tháng 10 năm 1893, tân Tổng đốc Lê Hoan đã phải “đem 200 lính khố xanh, 600 lính cơ, phối hợp với đạo quân của Thiếu tá Valance” tiến lên vây đánh căn cứ Yên Thế của nhà ái quốc Hoàng Hoa Thám (ở tỉnh Bắc Giang, tiếp giáp với Bắc Ninh):

Theo các tài liệu để lại, Lê Hoan chỉ cho quân càn quét lấy lệ, rồi nhờ người liên lạc với Bá Phức bên phía Đề Thám để tìm cách nghị hòa, nhưng việc ấy ở ngoài phạm vi của bài viết này. Ta chỉ cần biết rằng cụ Nhạ bị triệt chức Tổng đốc Bắc Ninh năm 1893 không phải do có tội hay bất tài, nhưng vì đã không chịu làm một việc mà người tới thay cụ, tân Tổng đốc Lê Hoan, đã phải làm: đem quân của tỉnh Bắc Ninh lên giúp quân Pháp, vây đánh căn cứ Yên Thế của nhà ái quốc Hoàng Hoa Thám .

Trong thời gian ở Bắc Ninh, cụ Nhạ được biết đến là một vị Tổng đốc giỏi, liêm khiết, được lòng dân, và tận tâm lo cho dân. Trong đời vua Tự Đức, đê Văn Giang bị vỡ liên miên (18 lần trong vòng 23 năm, từ 1863 tới 1886). Một năm sau khi cụ Nhạ được cử làm Hộ Tổng đốc Ninh Thái (năm 1892), tỉnh Bắc Ninh chịu thêm một trận lụt lớn năm Quý Tỵ 1893, có chỗ nước ngập tới trên 3 tháng khiến dân cư phiêu bạt, nhiều làng xóm trở thành đồng lầy. Hiện nay ở làng Văn Chung (tên cũ là Văn Đình) thuộc huyện Tiên Du còn một tấm bia ca ngợi công đức cụ đã chiêu tập những dân lưu tán, khai thông nước ứ đọng, lập lại xã ấp. Cụ cũng tận tâm và can đảm đánh dẹp các đám giặc cướp cùng loại bỏ những viên chức tham nhũng. Một viên Tri huyện dựa vào thế người Pháp cùng những che chở ở Nha Kinh lược, làm nhiều việc tham ô, nhiễu hại dân lành. Thu được nhiều chứng cớ về những chuyện hà hiếp dân chúng, bất tuân luật lệ, cụ lên án tử hình. Viên Tri huyện đem vàng bạc lo lót ở Nha Kinh lược, mong được bênh vực. Cụ Nhạ dùng quyền “tiền trảm hậu tấu” được triều đình ban cho, đem ra hành quyết. Từ đó dân chúng dễ thở vì những quan chức, nha lại tham nhũng không dám làm xằng bậy nữa. Trong dân gian còn kể lại chuyện cụ trị tội một người Pháp vô lễ, cho trói vào gốc cây trước khi đánh đòn.

Năm Thành Thái 12 (Canh Tý 1900), nước Pháp tổ chức một cuộc triển lãm quốc tế thật quy mô ở Paris. Danh hiệu chính thức là “Exposition Universelle 1900,” tiếng Việt thời đó gọi là “đấu xảo.” Muốn vua Thành Thái chứng kiến tận mắt sự tiến bộ của Pháp, chính phủ Pháp mời nhà vua sang dự. Vua Thành Thái từ khước, cử cụ Vũ Quang Nhạ đi thay. Cụ nhận chức Chánh sứ, dẫn một phái đoàn từ Việt Nam sang thăm nước Pháp. Cụ được thăng hàm “Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Tổng đốc Bắc Ninh” nhân chuyến đi này. Vị Phó sứ là cụ Trần Đình Lượng (vốn là bạn, sau thành thông gia), lúc ấy đang làm Tuần phủ Bắc giang. Bồi sứ là ông Hoàng Trọng Phu (con thứ hai của Kinh lược Hoàng Cao Khải), lúc ấy đang giữ chức Tham tri bộ Lễ kiêm Đốc học trường Quốc học. Ông Phu được chọn vào chức vụ này cũng vì có bằng Tú tài Pháp và thông thạo tiếng Pháp.

Khi tàu cập bến Marseille, cụ cử ông Hoàng Trọng Phu lên bờ trước để xem việc đón tiếp có được tổ chức chu đáo hay không. Ông Phu trở về báo tin rằng nước Pháp chuẩn bị một khách sạn để phái bộ nghỉ trước khi lên Paris, nhưng tại Marseille không có nghi thức tiếp đón nào. Cụ Nhạ bèn gửi một bức thư cho đại diện chính quyền Pháp tại địa phương, cho biết phái đoàn tới “thay mặt hoàng đế nước Nam,” nếu không đón với đúng theo nghi lễ cụ sẽ quay về chứ không đặt chân lên đất Pháp. Nhà cầm quyền Pháp vội cử đại diện xuống tàu trình bày rằng, “Xin đón đại diện của vua nước Nam theo đúng nghi lễ dành cho các vị quốc khách.” Sau khi ông Hoàng Trọng Phu lên bờ một lần nữa, trở về tường trình rằng tại tòa thị chính Marseille đã trang hoàng rực rỡ, có ban quân nhạc, có binh sĩ tuốt gươm đứng hai bên đường dàn chào, cụ mới lên bờ. Từ đó cho tới khi đến Paris, trong suốt thời gian ở Paris cũng như khi ra về, phái đoàn luôn luôn được đón tiếp hoặc đưa tiễn với nghi thức trọng thể. Cụ gìn giữ quốc thể một cách nghiêm cẩn, chu đáo trong suốt thời gian ở Pháp.



Phái đoàn Việt Nam sang Pháp năm 1900—Hình chụp tại Marseille
Ba vị ngồi trên ghế, từ trái sang:
Phó sứ Trần Đình Lượng, Chánh sứ Vũ Quang Nhạ, Bồi sứ Hoàng Trọng Phu
(hình do một người chắt của cụ Chánh sứ là cô Vũ Triều Nghi cung cấp)

Trong thời gian ở Paris, phái đoàn được đưa tới gặp Tổng thống Pháp, lúc ấy là Émile Loubet (nhiệm kỳ từ tháng 2-1899 đến tháng 2-1906), thăm tháp Eiffel (mới hoàn thành năm trước, 1899), thăm viện bảo tàng, một số trường học, xưởng dệt, hãng làm đồ sứ, một số công trình kiến trúc, các vườn hoa… Phái đoàn cũng được đưa đi thăm vùng nông thôn, quan sát việc cày bừa ở Pháp, và xem các đường hầm phía dưới của Paris. Theo chuyên viên Hán Nôm Mai Thu Quỳnh thì Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội hiện còn giữ được bốn tài liệu về chuyến “sứ trình” ấy:

--Tây hành nhật trình: bằng lục bát, chữ Nôm, của Phó sứ Trần Đình Lượng;
--Như Tây-dương nhật trình ký: cũng bằng chữ Nôm, gồm 552 câu lục bát, không ghi tác giả;
--Phụ tra tiểu thuyết: bằng chữ Hán, văn xuôi, của một tùy viên trong phái đoàn là Lê Văn Ngữ, viết theo thể nhật ký, ký sự;
--Sứ Tây nhật ký: bằng chữ Hán, văn xuôi, viết theo thể nhật ký, ký sự, trang đầu ghi danh hiệu của Chánh sứ, Phó sứ và Bồi sứ:


Theo tài liệu thứ 3 và thứ 4 (văn xuôi, viết theo thể nhật ký), thì phái đoàn rời Sàigòn ngày 13 tháng 4 (âm lịch) năm Canh Tý 1900, tới Marseille ngày 7 tháng 5, tới Paris bằng xe lửa tối 9 tháng 5, dự tiệc tiễn hành trước khi về nước ngày 12 tháng 6. Tóm lại hành trình từ Sàigòn tới Paris mất gần một tháng, lưu trú ở Paris hơn một tháng. Phái đoàn cũng có nhiệm vụ hướng dẫnvà giám sát khu triển lãm của Việt Nam trong cuộc triển lãm quốc tế ở Paris năm 1900.





  Khu của Việt Nam trong cuộc triển lãm quốc tế ở Paris năm 1900


Bích chương cho cuộc triển lãm quốc tế ở Paris năm 1900



Một số tài liệu chép là cụ Vũ Quang Nhạ bỏ chức quan ra về khi người Pháp bãi bỏ Nha Kinh lược Bắc Kỳ, đặt các quan Việt Nam ở miền Bắc dưới quyền viên Thống sứ người Pháp. Điều ấy có lẽ không đúng. Nha Kinh lược Bắc Kỳ bị bỏ năm 1897, trong khi đến 1900 cụ Nhạ vẫn còn  mang danh hiệu Tổng đốc Bắc Ninh và đi sứ sang Pháp. Theo Đại Nam Thực Lục, năm Đinh Dậu 1897 (Thành Thái thứ 9) cũng là năm cụ giữ chức Tổng đốc Định Ninh (Nam Định + Ninh Bình) và được tước An Tập tử. Theo một số vị trưởng thượng trong gia đình họ Vũ làng Trung Lao, cụ bỏ quan ra về sau khi người Pháp truất phế vua Thành Thái. Nếu đúng như thế thì đó là năm Đinh Mùi 1907.

Theo bài viết của cụ Vũ Thế Hùng dưới nhan đề “Học sĩ ái quốc Vũ Quang Nhạ,” đăng trên Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội số 145, thì khi “từ quan,” cụ giao ấn tín Tổng đốc cho hai quan Bố chánh và Án sát dưới quyền rồi ung dung lên xe về thẳng làng, không thông báo cho các viên Thống sứ, Công sứ người Pháp (tỏ ý không công nhận thẩm quyền của họ). Cụ rất được lòng dân nên nhà cầm quyền Pháp không dám biểu lộ thái độ gì. Họ chỉ cho mấy viên Thư ký về tận làng Trung Lao làm giấy tờ, xác nhận việc cụ về hưu cho “đúng thủ tục.”

Theo Hòa ước Patenôtre 1884, tuy Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp nhưng Trung Kỳ và Bắc Kỳ -- dưới danh nghĩa “Bảo hộ” -- vẫn thuộc triều đình Huế. Nha Kinh lược Bắc Kỳ được lập ra năm 1886 với mục đích làm trung gian giữa triều đình và các quan Việt Nam ở miển Bắc, xa kinh đô trong một hoàn cảnh nhiễu nhương. Nếu bỏ Nha Kinh lược, đúng ra các quan Việt Nam ở Bắc Kỳ lại trực tiếp liên lạc với triều đình như trước. Áp đặt họ dưới quyền viên Thống sứ người Pháp là trái với Hòa ước, cụ Vũ Quang Nhạ không chấp nhận điều ấy. Trong những năm làm quan, cụ chỉ nhận khen thưởng từ triều đình, không nhận bất cứ một tặng thưởng nào từ Toàn quyền hay Thống sứ người Pháp. Tặng vật duy nhất là chiếc Bắc đẩu bội tinh do Tổng thống Pháp tặng theo thông lệ cho các sứ thần tới nước Pháp trong việc bang giao. Đó đúng là tư cách của một người chẳng thà mất chức Tổng đốc chứ không chịu đem quân của tỉnh Bắc Ninh lên Bắc Giang phụ giúp quân Pháp vây đánh ông Hoàng Hoa Thám.

Sau khi về hưu, cụ vẫn quan tâm đến đất nước. Cuối năm  Nhâm Tý 1912 (Duy Tân thứ 6), viên Khâm sứ người Pháp ở Trung Kỳ là Georges Marie Joseph Mahé chủ trương khai quật lăng mộ vua Tự Đức để tìm châu báu, cụ kêu gọi các quan – đang làm việc cũng như đã về hưu – cùng ký tên trong một bức thư phản đối gửi cho chính phủ Pháp. Cụ ký tên đầu tiên dưới bức thư ấy. Đại Nam Thực Lục chép rằng:

“Khâm sứ đại thần Mahé hội thương nói: ‘Nghe báo ở gian giữa điện Hòa Khiêm (lăng vua Tự Đức được gọi là Khiêm lăng) có chôn nhiều vàng bạc … Nên đào lên lấy số vàng bạc ấy để làm việc có ích’ …” Tuy Công bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài và Lễ bộ Thượng thư Huỳnh Côn cùng phản đối, việc đào mộ vẫn tiến hành. Sau khi đào lên, qua hơn mười ngày không thấy gì, Mahé cho lấp lại. Một phần vì bức thư phản đối do cụ Vũ Quang Nhạ khởi xướng và ký tên, qua đầu năm sau (1913), Mahé bị chính phủ Pháp bãi chức Khâm sứ, triệu về nước.

Từ ngày về hưu, cụ đóng góp nhiều vào việc mở chợ, đắp đường, lát đá, mở mang kinh tế, phát triển ngành tằm tơ cho làng Trung Lao. Nghề thêu ren (làm dentelle) còn đến ngày nay ở làng cũng do cụ cho người con thứ hai sang Pháp học rồi về dạy lại cho dân chúng. Theo một người chắt là nhà giáo Vũ Vinh Hương, khu nhà cụ ở được khang trang vì các con, các cháu sống quay quần theo lối “tứ đại đồng đường,” nuôi hàng trăm nong tằm, dùng 7, 8 khung cửi. Khu nhà rộng lớn ấy là do thành quả của nhiều thế hệ con cháu sống tụ tập làm công việc tầm tang. Qua năm Bính Thìn 1916, cụ được vua Duy Tân tặng hàm “Đông các Đại học sĩ trí sự” (ngôi vị thứ tư của bậc Chánh nhất phẩm, dự vào hàng “tứ trụ" của triều đình Huế,  chỉ sau Cần chánh điện Đại học sĩ, Văn minh điện Đại học sĩ, Võ hiển điện Đại học sĩ).

Cụ Vũ Quang Nhạ tạ thế năm 1932. Dân Bắc Ninh và Nam Định còn truyền lại một câu nói vui về cụ: “Lý trưởng bất túc” nhưng “Tổng đốc hữu dư,” ngụ ý làm Lý trưởng (trông coi một làng) thì không đủ điều kiện nhưng làm Tổng đốc (trông coi một tỉnh lớn hay một liên tỉnh) thì dư khả năng. Khi ra ứng cử Lý trưởng, cụ bị coi là “bất hợp lệ,” nhưng lại thành một vị Tổng đốc lỗi lạc và có danh tiếng. Theo Đại Nam Thực Lục, cụ giữ các chức Hộ Tổng đốc Ninh Thái, Tổng đốc Bắc Ninh, Tổng đốc Định Ninh, Tổng đốc Nam Định. Theo những tài liệu trong gia tộc, cụ còn làm Tổng đốc Hải Dương một thời gian, ở đâu cũng lưu lại tiếng tốt.

Tổng đốc Vũ Quang Nhạ thuộc trường hợp những vị ra làm quan giữa giai đoạn người Pháp sang xâm lăng rồi đặt nền đô hộ trên đất nước ta. Trong buổi giao thời, cụ tiến thân không bằng khoa cử nhưng bằng quân công, lúc đầu là đánh dẹp cướp biển, về sau là tảo trừ giặc cướp, rồi đến tài tổ chức trị an và sự tận tâm lo cho dân. Cụ luôn luôn tự coi là một vị quan của triều đình Việt Nam, không hợp tác với người Pháp trong việc đàn áp các nhà ái quốc. Khi sang Pháp, cụ thay mặt vua Thành Thái. Khi về hưu, cụ nhận sắc phong của vua Duy Tân. Cả hai là những vị vua yêu nước, cùng bị người Pháp truất ngôi, đưa đi đầy. Điều ấy khiến cụ khác với một số vị ra làm quan đồng thời, mải chăm lo phục vụ quyền lợi người Pháp nên đã bị dư luận mai mỉa qua những câu như “Pháp Nam hai nước một công thần” hay “Nghĩ cho mi cũng gặp thì, Tổ xưa mi có nhớ gì nữa không?” Cho đến nay và chắc mãi mãi về sau, dân làng Trung Lao vẫn nhắc đến cụ trong niềm hãnh diện và tôn kính.



  
Tài liệu tham khảo:

Keith, Charles. Catholic Vietnam : a Church from Empire to Nation.
Berkeley, CA : Univ. of California Press, 2012.
Khổng Đức Thiêm. “Yên Thế xưa và nay : Thân Bá Phức, thủ lĩnh tối cao của phong trào Cần
        vương Yên Thế.” Tạp chí điện tử Bắc Giang, cập nhật ngày 23/07/2016, truy cập ngày
        4/12/2017:
Mai Thu Quỳnh.  “Cuộc đi Pháp dự đấu xảo năm 1900 của phái bộ Việt Nam.” Thông báo Hán
        Nôm, cập nhật ngày 9/2/2015, truy cập ngày 4/12/2017:
Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục Chính biên, Đệ Lục kỷ Phụ biên. Cao Tự Thanh
        dịch và giới thiệu.
        Sàigòn : NXB Văn Hóa Văn Nghệ,  2011.
Vũ Thế Hùng. “Học sĩ ái quốc Vũ Quang Nhạ.” Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số145. Trang
        38-41.



Tuesday, November 21, 2017

Tuesday, November 7, 2017

Thursday, September 21, 2017

Nên viết “xử dụng” hay “sử dụng” ?

Trong cuốn Ngữ vựng tiếng Việt đầu tiên (Westminster, CA, 2017), nơi trang 6, Giáo sư Trần Ngọc Ninh cho biết theo nhận xét của ông, “trong số các nhà văn nhà báo,  có chừng 50 phần trăm viết ‘sử dụng’ và áng 50 phần trăm viết ‘xử dụng’.” Nhân thấy hai phía “tương đương,” Gs. Ninh không tỏ ra thiên về phía nào. Ông dẫn lời một nhà làm tự điển, “thói quen là vua trong ngôn ngữ” (sách đã dẫn, cùng trang). 

Khi cho học sinh viết chính tả, một cô giáo dạy Việt ngữ không được nhiều tự do như thế mà cần có một ý niệm rõ rệt, dứt khoát hơn. Giữa hai cách viết “xử dụng” và “sử dụng,” nên hướng dẫn học sinh chọn cách nào, và tại sao lại nên chọn như thế ? Bài này được viết theo đề nghị của hai người bạn. Một người bạn trẻ, dạy tiếng Việt ở một Trung tâm Việt ngữ. Người bạn thứ hai lớn tuổi hơn, một bác sĩ y khoa quan tâm tới đất nước và những vấn đề mang tính cách văn hóa, nêu câu hỏi sau khi đọc xong cuốn sách vừa kể của bác sĩ Trần Ngọc Ninh.

Trước hết, “xử” (viết với X) là một từ khá thông dụng trong tiếng Việt. Chúng ta nói “phân xử, xét xử, khu xử, xử trí, xử thế…” Xử cũng chỉ lối sống của một kẻ sĩ ở ẩn, không chịu ra làm việc đời (Xử sĩ, Xưa nay xuất xử thường hai lối—Nguyễn Công Trứ). “Xử nữ” cũng đồng nghĩa với “trinh nữ.” Trong khoa chiêm tinh Tây phương, cung Virgo trong Zodiac được dịch sang tiếng Pháp là Vierge và tiếng Việt là Xử nữ. Nhân từ “xử nữ,” có thêm từ Hán Việt “xử nữ mạc” (màng trinh). Vì sự thông dụng của từ “xử,” khi cần diễn ý “xử dụng/sử dụng” với nghĩa “sai khiến, dùng vào một việc gì,” nhiều người đã viết “xử dụng” (với X)  một cách tự nhiên. Đó cũng là lựa chọn của người viết những dòng này trong suốt thời gian ở Trung học, nghĩ rằng mình đã viết đúng.

Hai chữ “xử” và “sử” đều là từ Hán Việt, có gốc chữ Hán. Nếu từ “xử” trong “phân xử, xử thế, xuất xử” có gốc chữ Hán là (cũng được đọc là “xứ” như trong “xứ sở, xuất xứ”), thì từ “sử” với nghĩa “sai khiến” có gốc từ chữ 使. Trong Hán văn, để  diễn  ý “sai khiến, dùng vào một việc gì,” người ta viết  使 hay 使用 (“sử” hay “sử dụng”).
Trong các tự điển Khang HiTừ Hải (biển các từ), chữ 使 được cho biết là 从音史“tòng âm sử” (theo âm “sử,” phát âm như chữ "sử" với nghĩa lịch sử). Trong The Pinyin Chinese-English Dictionary do Gs. Wu Jingrong (吳景榮 = Ngô Cảnh Vinh) thuộc Viện Ngoại ngữ Bắc Kinh làm chủ biên, thì chữ 使 có âm là “shĭ” (“shi,” phát âm theo thượng thanh).
Trong các tự điển Hán-Việt, chữ ấy được ghi âm là “sử” (viết với S, giống chữ “sử” trong “lịch sử”):
Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: trang 21;
Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: trang 213;
Hán Việt tự điển của Trần Trọng San: trang 20;
Từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh: trang 152;
Từ lâm Hán Việt tự điển của Vĩnh Cao và Nguyễn Phố:  trang 62.

Trong các tự điển Việt ngữ được coi là “có thẩm quyền,” hai chữ “sử dụng” cũng được viết với S:
Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức: trang 499;
Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ: trang 1321, quyển Hạ;
Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của: trang 313, quyển 2.

Để làm thí dụ, xin được trình bày phóng ảnh những đoạn về cách viết chữ ấy trong các tự điển:

--Của Trần Trọng San:


 --Của Vĩnh Cao & Nguyễn Phố:


--Của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ:


Nhà biên soạn tự điển Trần Văn Chánh còn dùng từ “sử dụng” trong lời văn của chính ông:


“Sử” với nghĩa “sai khiến” là một từ khá thông dụng trong cổ văn. Trong Luận ngữ, Khổng tử từng trả lời một câu hỏi của Lỗ Định công về liên hệ vua tôi như sau: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (vua sai khiến bề tôi với lễ, bề tôi phụng sự vua với lòng trung) :


(Luận ngữ, Thiên “Bát dật,” tiết 19).

Ở một đoạn khác trong Luận ngữ, Khổng tử khuyên những người trị nước muốn dùng sức dân (bắt dân làm những việc tạp dịch) phải “sử dân dĩ thời” (sai khiến dân đúng thời, ngụ ý tránh những lúc dân đang bận vì các việc cấy gặt, đồng áng):


(Luận ngữ, thiên “Học nhi,” tiết 5).

Trong một bài Đường thi khá được phổ biến (bài “Thục tướng,” vịnh Thừa tướng nhà Thục Hán), Đỗ Phủ bày tỏ niềm thương tiếc Khổng Minh bằng hai câu:

出師未捷身先死
長使英雄淚滿襟

Xuất sư vị tiệp thân tiên tử
Trường sử anh hùng lệ mãn khâm
(Ra quân chưa thắng thân đã thác
Khiến cho khách anh hùng nước mắt đầy vạt áo)

Tất cả các nhà dịch thơ chúng ta biết đều viết chữ “sử” ấy với S:

Trần Trọng Kim:


Trần Trọng San:


Khi phổ biến bài "Thục tướng" trên Net, tất cả các trang mạng được nhiều người biết tới cũng dùng S để viết chữ “sử”:

Trên thivien.net:


Trên hoasontrang.us:

Trên saimonthidan.com:


Chữ “sử” 使 trong “quân sử thần dĩ lễ,” “sử dân dĩ thời,” “trường sử anh hùng …”  chính là chữ “sử” 使 trong động từ “sử dụng” 使用. Theo các tự điển, chữ ấy cùng âm với chữ “sử” trong lịch sử, sử ký... Khi ta dùng S để viết “lịch sử, sử ký, Quốc sử quán, sử quan, sử gia …,” đương nhiên ta cũng nên dùng S để viết chữ “sử” trong “sử dụng.”

Trong Việt ngữ, khi dùng làm động từ, ch ấy được đọc là “sử,” nhưng khi dùng làm danh từ, sẽ được đọc là “sứ.” Chúng ta có từ “sứ giả” (người được sai đi). Từ đó có thêm những từ “đi sứ, sứ thần, sứ quán, ông Đại sứ …” Vì cùng một gốc chữ Hán 使, cách đọc những chữ ấy phải giống nhau. Không lẽ chúng ta viết “sứ giả, sứ thần” với chữ S nhưng lại đổi dùng X để viết “sử dụng” thành “xử dụng”?

Hiện nay số người viết “sử dụng” có vẻ mỗi ngày một nhiều hơn. Đó là lối viết được ghi trong các tự điển.


                                                                  http://tranhuybich.blogspot.com