Monday, June 11, 2018

TRẢ TA SÔNG NÚI / Vũ Hoàng Chương





Trải bốn nghìn năm dựng nước nhà,
Sông khoe hùng dũng, Núi nguy nga.
"Trả ta Sông Núi!" Bao người trước
Gào thét đòi cho bọn chúng ta.
Trả ta Sông Núi! Từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả Núi Sông ta?

Cờ báo phục hai Bà khởi nghĩa
Đuổi quân thù xưng Đế một phương
Long-Biên sấm dậy sa trường
Ba thu xã tắc miếu đường uy nghi
Xót nòi giống quản chi thân bồ liễu,
Giòng Cấm-Khê còn réo tinh anh
Một phen Sông Núi tranh giành
Má hồng ghi dấu sử xanh đời đời

Bể dâu mấy cuộc đổi dời,
Lòng trăm họ vẫn dầu sôi bừng bừng
Mai-Hắc-Đế, Phùng-Hưng Bố-Cái
Liều thế cô dằng lại biên cương
Đầu voi Lệ-Hải Bà-Vương
Dù khi chiến tử vẫn gương anh hào

Tinh thần độc lập lên cao,
Sài lang kia! Núi Sông nào của ngươi?

Núi Sông ấy của người dân Việt
Chống Bắc phương từng quyết thư hùng
Ngô-Quyền đại phá Lưu-Cung,
Bạch-Đằng-Giang nổi muôn trùng sóng reo
Hồn tự chủ về theo lửa đuốc
Chữ Thiên thư "Nam quốc sơn hà";
Phá tan nghịch lỗ không tha
Tướng quân Thường-Kiệt gan già mấy mươi!
Gươm chiến thắng trỏ vời Đông-Bắc,
Hịch Vải nêu tội giặc tham tàn,
Dựng nhân nghĩa, vớt lầm than
Danh thơm ải ngoại, sấm ran biên thùy.
Khí thiêng lòa chói tư bề,
Phường đô hộ có gai ghê ít nhiều?

Cửa Hàm-Tử vắng teo vết Cáo,
Bến Chương-Dương cướp giáo quân thù.
Trận Đà-Mạc dẫu rằng thua,
Làm Nam quỷ, chẳng làm vua Bắc đình
Chém kiêu tướng đồn binh Tây-Kết,
Triều Phú-Lương gầm thét giang tân
"Phá cường địch báo hoàng ân"
Trẻ thơ giòng máu họ Trần cũng sôi.
Kìa trận đánh bèo trôi sóng dập,
Sông Bạch-Đằng thây lấp xương khô
Những ai qua lại bây giờ,
Nghe hơi gió thoảng còn ngờ quân reo.
Hịch Vạn-Kiếp lời khêu tướng sĩ,
Hội Diên-Hồng quyết nghị toàn dân
Khuông phù một dạ ân cần,
Vó thiêng ngựa đá hai lần bùn rây,
Sơn hà mấy độ lung lay
Máu bao chiến sĩ nhuộm say màu cờ.

Cảm ý Núi ngồi mơ độc lập,
Thuận tình Sông trôi gấp tự do,
Ấy ai đầu dựng cơ đồ,
Gấm thêu lời chiếu Bình Ngô thuở nào?
Cơn nguy khốn ra vào sinh tử,
Thân nằm gai lòng giữ sắt son
Linh-Sơn lương chứa hao mòn
Quân tan Côi-Huyện chẳng còn mảy may.
Chén rượu ngọt cùng say thấm thía
Tình cha con mà nghĩa vua tôi.
Thuận dân là hợp ý trời
Sử xanh chót vót công người Lam-Sơn


Quốc dân chung một mối hờn
Cần câu đánh giặc mà hơn giáo dài!

Chống ngoại địch gươm mài quyết chiến,
Voi Quang-Trung thẳng tiến kinh kỳ;
Phá Thanh binh, trận Thanh-Trì,
Sông Hồng khoảnh khắc lâm ly máu hồng.

Núi rậy sấm cho Sông lòe chớp,
Cờ Tây-Sơn bay rợp Bắc-Hà
Xác thù xây ngất Đống-Đa
 Bụi trường chinh hãy còn pha chiến bào.

Tinh thần độc lập nêu cao,
Sài lang kia, Núi Sông nào của ngươi?

Cường quyền vẫn muôn đời cưỡng áp
Dưới bàn tay giặc Pháp càng đau
Chúa tôi rỏ lệ cùng nhau
Khua chiêng hải ngoại rừng sâu kéo cờ
Dạ Cần-Vương trơ trơ thiết thạch
Kẻ Văn thân Hiệp khách cùng chung
Hoàng-Hoa-Thám, Phan-Đình-Phùng
Khói reo Thanh Nghệ, lửa bùng Thái-Nguyên
Hợp Nghĩa-thục kết liên đồng chí
Xuất dương tìm tri kỷ Đông Đô,
Phan-Sào-Nam, Phan-Tây-Hồ
Long đong bốn bể mưu đồ cứu dân
Vận nước chửa hết tuần bĩ cực
Sức người khôn đọ sức ông xanh
Mỗi phen gắng gỏi tung hoành
Thương ôi, sự nghiệp tan tành mỗi phen!
Nguyễn-Thái-Học gan bền chí cả
Họp đồng bang dóng dả nên đoàn
Rừng xanh bụi đỏ gian nan
Mong đem nhiệt huyết dội tan cường quyền
Tổ chức việc tuyên truyền ám sát
Khắp nơi nơi từng hạt từng châu
Xiết bao hy vọng buổi đầu
Một đêm Yên-Bái ngờ đâu tan tành.

Ôi! Việt sử là tranh đấu sử
Trước đến sau cầm cự nào ngơi
Tinh thần Cách mạng sáng ngời
Bao người ngã, lại bao người đứng lên.
Ngày nay muốn Sông bền Núi vững
Phải làm sao cho xứng người xưa
Yêu nòi giống hiểu thời cơ
Bốn phương một ý phụng thờ giang sơn
Đừng lo yếu, hãy chung hờn
Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài.

Trả Núi Sông ta! Lời dĩ vãng
Thiên thu còn vọng đến tương lai
Trả ta Sông Núi, câu hùng tráng
Là súng là gươm giữ đất đai...

Trông lên cao ngất phương trời
Hồn thiêng Liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.


VŨ HOÀNG CHƯƠNG
(Thi tập Hoa Đăng)

Sunday, June 10, 2018

Tuesday, March 20, 2018

Thuyền về, mộng hải hồ chưa vẹn...


Hoàn cảnh và tâm sự của Trần Nguyên Đán (1320-1390)

Trần Nguyên Đán là cháu bốn đời (chắt) của Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, vị anh hùng phá tan quân Nguyên ở Chương Dương và khôi phục Thăng Long năm 1285. Cuối đời Trần Dụ tông, khi Dương Nhật Lễ muốn dứt ngôi nhà Trần, Trần Nguyên Đán đem quân giúp Trần Nghệ tông (lúc ấy còn là Cung Định vương) dẹp yên. Nghệ tông lên ngôi, phong Trần Nguyên Đán làm Tư Đồ. Đến cuối đời, Nghệ tông không còn sáng suốt nữa, quá tin dùng và chỉ nghe một người em con cô là Lê Quý Ly (sau lấy lại họ gốc là Hồ Quý Ly). Quý Ly thông minh, có sáng kiến, nhưng nham hiểm, nhiều tham vọng. Trong triều nhiều người khuyên can nhưng nhà vua không nghe, có khi còn đưa những bản sớ ấy cho Quý Ly coi, khiến những người đã can phải sợ hãi, trốn tránh. Sau nhiều lần can gián không hiệu quả, năm 1385 Trần Nguyên Đán cáo quan lui về ẩn ở Côn Sơn. Bài thơ này được làm ra trong hoàn cảnh ấy.

Nhiều sử gia đời sau (Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ, Trần Trọng Kim) phê phán Trần Nguyên Đán bằng những lời khá nghiêm khắc. Theo các vị, thuộc tôn thất nhà Trần, lẽ ra Trần Nguyên Đán phải chia sẻ mối lo với vua, ở lại tận lực giúp triều đình. Cáo quan lui về là một hình thức trốn trách nhiệm, chỉ nghĩ đến bản thân. Những chê bai ấy không phải là vô căn cứ, nhưng để việc nhận định được công bằng, có một vài sự kiện chúng ta cũng nên xét tới:

1.   Theo Lược truyện các tác gia Việt Nam của Trần Văn Giáp, Trần Nguyên Đán sinh năm 1320. Khi cáo quan về hưu năm 1385, ông đã 65 tuổi. Ở thời trước, tuổi ấy được kể là cao.  Tuổi thọ các vua Trần từ Thánh tông đến Dụ tông chỉ từ 33 đến 57. Vị tằng tổ của Trần Nguyên Đán, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải,  cũng chỉ 53 tuổi. Về hưu ở tuổi 65 nên được coi là hợp lý chứ không hoàn toàn chỉ là “trốn trách nhiệm.”

2.   Theo “Băng Hồ di sự lục” do Nguyễn Trãi (cháu ngoại Trần Nguyên Đán) chép,  thì Trần Nguyên Đán cũng từng can vua về chuyện Quý Ly nhưng không thành công:
“Công tuy thân gửi suối rừng mà chí thì ở tông xã, tấm lòng ưu ái chưa một ngày quên. Hoặc đi hoặc ở, khi động khi tĩnh, đều có ý can gián. Rút cục Nghệ tông đều không xét đến. Do đó họ Hồ uy thế càng thịnh, kẻ xu phụ ngày càng nhiều, thế nước ngày càng suy, không làm sao được nữa, cái chí lui về hưu của công mới quyết.”

Tuy trong thân tộc nhà Trần nhưng liên hệ giữa Trần Nguyên Đán với vua Nghệ tông phải đi ngược lại 4 đời (Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải là em vua Thánh tông). Trong khi ấy, thân mẫu vua Nghệ tông là cô ruột Quý Ly (giữa Nghệ tông với Quý Ly có tình anh em con cô con cậu ruột). Nghe lời Quý Ly, nhà vua từng truất ngôi Phế đế Trần Hiện (con vua Duệ tông, cháu gọi Nghệ tông bằng bác ruột) rồi sai người thắt cổ chết. Vì không ưa và ngờ vực Quý Ly, con lớn của Nghệ tông là Trang Định vương Trần Ngạc cũng bị Quý Ly sai người sát hại. Năm 1392, ít năm sau khi Trần Nguyên Đán về hưu, một tôn thất gần Nghệ tông hơn là Trần Nhật Chương mưu giết Quý Ly. Trước khi việc được thi hành, Nhật Chương bị Nghệ tông xử tử. Liên hệ giữa Trần Nguyên Đán với Nghệ tông không được thân bằng mối liên hệ giữa Nghệ tông với các nhân vật kể trên. Ông có nhiều lý do để lo ngại.

3.   Khi Trần Nguyên Đán xin về hưu năm 1385, người cháu ngoại ông rất yêu quý là Nguyễn Trãi đã được 5 tuổi. (Nguyễn Trãi sinh năm 1380 trong dinh thự của Trần Nguyên Đán ở Thăng Long). Thân phụ của Nguyễn Trãi (Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh), từng được Trần Nguyên Đán nâng đỡ và che chở. Là một thư sinh giỏi, nhà nghèo, Nguyễn Ứng Long được tuyển chọn để kèm học cho tiểu thư Trần Thị Thái, con của Trần Nguyên Đán. Hai người yêu thương nhau, với kết quả là cô Thái thụ thai. Sợ hãi, Nguyễn Ứng Long bỏ trốn. Khi biết chuyện, Trần Nguyên Đán nói, “Vận nước sắp hết, biết đâu chẳng là trời xui nên thế, vị tất không phải là phúc,rồi cho tìm Ứng Long về, khuyên cố học hành. Ứng Long cảm kích, chuyên tâm học và thi đỗ nhưng không được bổ dụng vì tội “con thường dân mà dám lấy con nhà quý tộc.” Do từ nhỏ vẫn sống cùng mẹ trong dinh thự của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi được ông ngoại chăm sóc việc học. Năm 1385, Trần Nguyên Đán về hưu, cũng là dịp để đem người cháu ngoại ông thương mến và rất thông minh về Côn Sơn tiếp tục việc giáo huấn. Suốt thời thơ ấu, Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng sự hướng dẫn của ông ngoại về kiến thức cũng như về tâm hồn.

4.   Cũng theo Nguyễn Trãi trong “Băng Hồ di sự lục,”đến cuối đời Trần Nguyên Đán đau ốm nhưng không uống thuốc. Trước sự nài ép của con cháu, ông nói, “Thời sự như thế, ta được chết là may. Sao còn cầu sống để thấy họa loạn?” Có vẻ như Trần Nguyên Đán tiên liệu trước những việc họ Hồ sẽ cướp ngôi, nước sẽ đại loạn và có thể sẽ mất. Cho rằng thế hệ của ông không còn làm được gì, ông nghĩ đến thế hệ kế tiếp. Cháu ngoại của ông là Nguyễn Trãi và cháu nội của ông là Trần Nguyên Hãn sau đó đã góp sức một cách đáng kể vào việc khôi phục lại đất nước.

5.   Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, có lần vua Nghệ tông đến nhà Trần Nguyên Đán để thăm bệnh và hỏi việc nước nhưng Trần Nguyên Đán không nói gì, chỉ thưa, “Xin bệ hạ kính nước Minh như cha, yêu Chiêm Thành như con thì nước nhà vô sự.” Căn cứ vào chi tiết ấy, sử gia Ngô Sĩ Liên phê bình “chỉ là câu nói tầm thường.” Sử gia Trần Trọng Kim nghiêm khắc hơn, cho là Trần Nguyên Đán “chỉ bàn những chuyện làm tôi tớ, không có chí muốn nước mình cường thịnh.”

Sau khi Trần Nguyên Đán về ẩn dật, năm 1387 Quý Ly được cử làm Đồng Bình Chương Sự, nắm quyền Tể tướng, coi giữ hết mọi việc. Vua Nghệ tông còn sai người vẽ tranh tặng Quý Ly, ví Quý Ly như Chu Công Đán giúp vua Thành vương nhà Chu, như Gia Cát Lượng giúp Hán Hậu chúa đời Tam Quốc, như Tô Hiến Thành giúp vua Cao tông nhà Lý. Khi Nghệ tông đến thăm Trần Nguyên Đán tại nhà riêng, không thể không có tai mắt của Quý Ly theo dõi. Trong hoàn cảnh ấy, Trần Nguyên Đán khó có thể nói những điều ông thực sự muốn nói, có khi chỉ nguy hại cho ông, cho con cháu ông, và cho chính vua Nghệ tông. Trong sử Trung Hoa mà Trần Nguyên Đán chắc chắn thông thạo, không thiếu những trường hợp giả bộ đau ốm nặng hoặc làm ra vẻ già lẫn, gàn dở, để tránh sự nghi kỵ, theo dõi của đối phương.

Để mở đầu bài “Bình Ngô đại cáo,” Nguyễn Trãi đã viết:
“Như nước Việt ta từ trước, 
Vốn xưng văn hiến đã lâu, 
Sơn hà cương vực đã chia, 
Phong tục bắc nam cũng khác. 
Từ Ðinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập, 
Cùng Hán, Ðường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương. 
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, 
Song hào kiệt đời nào cũng có…” 
(Bản dịch của Bùi Kỷ, được in trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim).

Đọc “Băng Hồ di sự lục,” chúng ta cùng thấy rằng Nguyễn Trãi rất ngưỡng mộ ông ngoại của mình. Người giáo huấn Nguyễn Trãi từ nhỏ và đã gieo ảnh hưởng sâu đậm đến tâm hồn, tư tưởng của tác giả “Bình Ngô đại cáo” khó có thể là người “chỉ bàn những chuyện làm tôi tớ” như lời phê bình có phần hơi quá đáng của học giả Trần Trọng Kim.

Như trên đã thấy, Trần Nguyên Đán không sợ cái chết cho bản thân. Khi lấy hiệu là Băng Hồ, ông mượn ý một câu thơ của Vương Xương Linh, “Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ” (Một mảnh lòng băng trong chiếc hồ bằng ngọc). Trong những hoàn cảnh khó xử, khó nói, ông chỉ có thể gửi tâm sự vào thơ. Bài “Dạ quy chu trung tác” được giới thiệu ở trên là một trong những bài như thế. Câu 3 của bài thơ, “Trên chiếc thuyền quay về, chưa yên tâm với giấc mộng sông hồ” đúng là điều sau này Nguyễn Trãi cũng viết ra trong “Băng Hồ di sự lục”: “Công tuy thân gửi suối rừng mà chí thì ở tông xã” (tông miếu, xã tắc, ngụ ý triều đình, đất nước).

Có một sự kiện chúng ta cũng nên chú ý: Năm 1428, ngay sau khi đuổi xong quân Minh và công bố "Bình Ngô đại cáo," Nguyễn Trãi đã viết “Băng Hồ di sự lục” để thuật lại cuộc đời của ông ngoại mình.
 

Trần Từ Mai
https://tranhuybich.blogspot.com/