Wednesday, November 23, 2016

Nguyễn Trãi đã sáng tác “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” vào thời điểm nào


  Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” (sau loạn tới Côn sơn, cảm xúc làm ra) là một trong những bài thơ hay của Nguyễn Trãi, được nhiều người yêu thích. Đề tài “về quê sau biến loạn” vẫn là một đề tài được ưa chuộng từ xưa đến nay. Trong bài có nhiều câu thơ hay:

Wednesday, November 9, 2016

Giới thiệu 12 bài thơ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” của thi sĩ Vũ Hoàng Chương


Đầu tháng 4 năm 1976, thi sĩ Vũ Hoàng Chương bị nhà cầm quyền Cộng sản bắt, đưa vào giam ở khám Chí Hoà. Một số thơ ông làm trong thời gian này (chẳng hạn bài Đường luật bát cú mở đầu bằng câu “Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn”) đã được chuyển về cho gia đình và đã được phổ biến. Đầu tháng 9-1976, thấy sức khỏe của ông suy sụp, những người cầm quyền thả ông về để chết ở nhà.

Monday, October 24, 2016

Thursday, September 22, 2016

Một trang thủ bút của thi sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG với nhiều điểm đặc biệt vừa được tìm thấy (Bản bổ sung. Thêm chi tiết cho bài đã đăng ngày 14/9/2016)

Trong rất nhiều năm trước 1975, một phần do lòng mến mộ của độc giả, mỗi dịp Xuân đến, nhiều báo Xuân ở Sàigòn vẫn thường đăng một bài thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương với thủ bút của chính tác giả. Nét chữ tung hoành như được phóng bút một cách cẩu thả nhưng vẫn duyên dáng với chữ ký đặc biệt “nghệ sĩ” của thi hào họ Vũ được nhiều người mến chuộng. Đã có lúc Vũ Hoàng Chương nhắc tới chuyện ấy một cách vui đùa:

Báo chương mấy độ vẽ bùa
Chắt chiu cũng đủ tiền mua trăng rằm.

Monday, August 22, 2016

Nhà báo NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN


VÀI CHI TIẾT CÁ NHÂN

    Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến tên thật là Nguyễn Tân Tiến. Trên giấy tờ, nhân vật mang danh hiệu Lê Văn Tiến sinh ngày 1 tháng 2 năm 1923 tại Nam Định. Đây không phải là ngày sinh và nơi sinh thật của ông. Theo ông Nguyễn Ngọc Ấn, người em ít tuổi nhất trong gia đình, song thân các ông chưa sống ở Nam Định bao giờ: nhà báo Như Phong và tất cả các em sinh ra ở Hà Nội. Ông sinh cuối năm 1922, theo âm lịch là năm Nhâm Tuất. 

Monday, August 1, 2016

Giáo sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC (1908-1999): Một vị Thầy được sinh viên quý trọng.



Trên một chuyên san nghiên cứu về Việt Nam với nhan đề Journal of Vietnamese Studies do Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (Center for Southeast Asia Studies) thuộc Đại học California tại Berkeley ấn hành, trong số mùa Thu năm 2015 vừa qua, có đăng một bài về Giáo sư Nguyễn ĐăngThục . Bài viết mang nhan đề “The Promotion of Confucianism in South Vietnam (1955-1975) and the Role of Nguyen Dang Thuc as a New Confucian Scholar,” có thể tạm dịch là “Sự đề cao Khổng học ở Nam Việt Nam (từ 1955 tới 1975), và vai trò của Nguyễn Đăng Thục như một nhà Khổng học mới.” Tác giả bài viết là Nguyễn Tuấn Cường, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, kiêm Giảng viên phụ trách môn Hán Nôm tại khoa Văn học của trường này.

Monday, July 11, 2016

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN và PHONG TRÀO THƠ MỚI

Đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam tương đối dễ nhận thấy và đã được nhiều người đề cập tới. Nhưng các tác giả trong Tự Lực Văn Đoàn còn góp sức một cách rất đáng kể trong việc đưa phong trào Thơ Mới tới chỗ thành công. Qua hai tiếng “Thơ Mới,” chúng tôi muốn nói đến phong trào thơ do Phan Khôi khởi xướng với bài “Tình già,” đăng trên Phụ Nữ Tân Văn số 122 (tháng 3 năm 1932), được một vài nhà thơ như Lưu Trọng Lư hưởng ứng. Tuy nhiên, chỉ sau khi các nhà thơ trong Tự Lực Văn Đoàn đã “nhập cuộc,” cộng thêm sự tham dự của một số thành viên khác (nhiều lúc nhân danh toàn nhóm), qua nhiều phương tiện khác nhau, nhất là trên hai tờ tuần báo Phong HóaNgày Nay, phong trào này mới bộc phát mạnh mẽ, đưa “Thơ Mới” tới vị trí ưu thắng. Xin được trình bày sự kiện ấy qua những trang sau.

Bài thơ trừ tịch của ĐẶNG ĐỨC SIÊU




Đặng Đức Siêu sinh năm 1751, mất năm 1810, là một nhân vật lịch sử của thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Ông góp công rất đáng kể trong việc thống nhất đất nước của nhà Nguyễn, và cũng để lại một số tác phẩm có giá trị văn chương rất cao như bài “Văn tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu.” Đông Hồ Lâm Tấn Phác sinh năm 1906, mất năm 1969, là một nhà thơ của thế kỷ 20. Ông cũng là giảng sư tại Đại học Văn khoa Sàigòn, chỉ qua đời trước khi miền Nam sụp đổ có sáu năm. Hai ông sống cách nhau một thế kỷ rưỡi (155 năm). Ghi danh hiệu cả hai vị dưới một bài thơ là một hành động bất thường. Tuy nhiên, việc làm thoạt trông có vẻ vô lý này lại là một việc đúng và cần thiết.

Cảm nhận về "Tuyển tập NGUYỄN THANH LIÊM"


 Tình trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay (với kiến thức của học sinh, sinh viên tốt nghiệp thấp hơn nhiều so với các nước chung quanh, kèm theo một trình độ đạo đức, luân lý ở mức độ đáng lo ngại) đã khiến nhiều bậc phụ huynh cùng nhiều thức giả lên tiếng bày tỏ mối lo âu. Ngay cả ở trong nước, nhiều lời than phiền với hàm ý luyến tiếc đã nhắc tới “giáo dục thời Việt Nam Cộng Hoà.” Nhưng Việt Nam Cộng Hòa thuộc về quá khứ đã 40 năm (1975-2015). Giáo dục thời ấy như thế nào, cách tổ chức ra sao, tôn chỉ cùng tinh thần có điểm gì đáng chú ý, ít ai còn nhớ rõ.

Ít hàng của một người đọc truyện PHẠM TÍN AN NINH



Với nhiều người mến mộ, nhà văn Phạm Tín An Ninh thường nói: ông không phải là một nhà văn. Thực ra từ những ngày thơ ấu ở làng Phú Hội, huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa, qua những ngày di học ở Nha Trang, Sài gòn, những ngày trong quân ngũ như hầu hết thanh niên Việt ở cùng thời, cùng tuổi, cho tới những năm bị kẻ chiến thắng đầy đọa trong các trại khổ sai mang danh trại "cải tạo," ông chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ cầm bút để viết truyện. Chỉ sau khí "trải qua một cuộc bể dâu," khi cuộc sống đã tạm ổn định trong cảnh lưu lạc cách quê hương nửa vòng trái đất, nhất là trong những lúc thật buồn, ông mới dành được chút thời giờ ngồi viết lại những kỷ niệm cũ để giải toả bớt phần nào những u ẩn trong tâm tư. Ông cho biết hầu hết các bài viết truyện ngắn của ông đều bắt nguồn từ những sự kiện có thật trong cuộc đời của chính ông, của gia đình, họ hàng và những bạn bè thân.

Góp phần tìm hiểu bản di bút của TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG

  "I was saddened to learn yesterday that South Vietnamese historian T Chí Đi Trưng has passed away. I never had the good fortune of meeting T Chí Đi Trưng, but  in recent years we did have a kind of “meeting of minds,” and I’m forever grateful to him for that experience…”


(Di ảnh Tạ Chí Đại Trường trên trang mạng về Sử Đông Nam Á 
của Gs. Liam C. Kelley, Dept. of History, Univ. of Hawaii 
at Manoa, và những lời Gs. Kelley viết ra khi hay tin TCĐT qua đời).

Ngay từ sau khi hoàn tất luận án Cao học năm 1964 với đề tài “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802,” Tạ Chí Đại Trường đã được coi là một nhà nghiên cứu sử xuất sắc, tìm kiếm sự thật rất công phu, có những nhận xét tinh tế, đưa tới những kiến giải mới đòi hỏi cách nhìn cùng suy nghĩ mới khi đứng trước các dữ kiện lịch sử. Những tác phẩm xuất hiện sau của ông cũng chứa đựng nhiều đóng góp giá trị và hữu ích.

Một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng của TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG

 


Trong vụ "Bình Nam đồ" do nhà nghiên cứu sử học Tạ Chí Đại Trường nêu ra trong di cảo của anh, sai lầm đầu tiên đã từ một số giáo sư, học giả uy tín của miền Nam: Gs. Trương Bửu Lâm, Giám đốc Viện Khảo cổ, giáo sư Sử tại Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Sàigòn, cùng một số giáo sư, học giả uy tín khác cộng tác với ông: Gs. Bửu Cầm, dạy Sử và chữ Nôm tại Đại học Văn khoa, và một số nhà cựu học tên tuổi như Đỗ Văn Anh, Tạ Quang Phát, Phạm Huy Thúy …, tất cả đều có danh vọng. 

NHỚ ANH TÂM THIỆN



 



Tôi nghe danh anh Nguyễn Ngọc Bích từ rất lâu, và đọc tác phẩm của anh từ 1975 (tập thơ dịch A Thousand Years of Vietnamese Poetry), nhưng mãi đến năm 2000 mới có hoàn cảnh tiếp tay trong một vài việc anh làm.

Sunday, July 10, 2016

Một bài thơ ngụ ý thật hàm súc của thi sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG



GS Vũ Hoàng Chương, trường Gia Long, Sài Gòn 1958.

Sau khi những người Cộng sản lấy được miền Nam tháng 4 năm 1975, hầu hết văn nghệ sĩ của miền Nam đều bị bắt giam. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương bị họ bắt ngày 13 tháng 4 năm 1976, đưa vào giam ở khám Chí hoà. Khi ông bị bệnh gần nguy kịch họ mới đưa về để chết ở nhà. Ít hôm sau ông qua đời, ngày 7 tháng 9 năm 1976  (tức ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn) tại Sàigòn.