Friday, March 13, 2026

Nguyễn Duy Chính: DI TÍCH CỦA THẦN PHONG James P. Delgado

 

 

 

DI TÍCH CỦA THẦN PHONG

James P. Delgado

Nguyễn Duy Chính dịch

 

  

Nguyên tác

RELICS OF THE KAMIKAZE

Excavations off Japan’s coast are uncovering

Kublai Khan’s ill-fated invasion fleet

Archaeology January-February 2003

A Publication of the Archaeological Institute of America

tr. 36-41




Mẫu hình phục dựng chiến thuyền nhà Nguyên sang đánh Nhật Bản đặt tại hải cảng Hirado (Japan)

Nguồn: Fighting Ships of the Far East (1): China and Southeast Asia 202 BC-AD 1419 tr. 9

 

 

Lời phi lộ

Sự đóng góp của những khoa học xã hội vào nghiên cứu càng lúc càng trở nên quan trọng. Những thành tựu cụ thể của các bộ môn nhân chủng, khảo cổ, tâm lý, kinh tế, dân số ... đã đưa ra được những kết luận mới về nhiều biến cố lịch sử trước đây tưởng như là sự thật không thể phi bác.

Bên cạnh những kết quả thực địa được khảo sát ngay tại địa bàn đã xảy ra một biến cố -trong nhiều trường hợp các nhà nghiên cứu còn dựng lại những gì đã xảy ra để tìm đáp số -việc đối chiếu với những khu vực có chung một hoàn cảnh địa lý, xã hội và văn hoá cũng có thể giúp tái xét một số vấn đề.

Nghiên cứu về nỗ lực của người Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của người Hán thế kỷ thứ X chúng ta không thể bỏ qua tình hình chung của Trung Hoa thời đó, đang từ một đế quốc thống nhất bị tan rã ra thành nhiều mảnh nhỏ (thời Ngũ Ðại và Thập Quốc). Trước đó không lâu, miền Nam Trung Hoa bị ảnh hưởng của một biến loạn lớn, đó là vụ nổi dậy của Hoàng Sào khiến cho nhà Ðường suýt nữa bị sụp đổ. Tình hình khó khăn về kinh tế đưa đến những cuộc di cư của người Hán xuống phương nam (trong đó có cả miền bắc nước ta) tạo nên một tầng lớp “trí thức” và “quí tộc” mới. Một số thương nhân trước đây theo gió mùa dong buồm theo đường biển từ các hải đảo đi lên nay không đem hàng đến các tỉnh duyên hải Trung Hoa được nên ghé vào Thăng Long làm một bãi đáp, biến một cứ điểm vốn dĩ đắc thế về phòng ngự quân sự - nay đột nhiên có thêm hậu thuẫn kinh tế - đủ sức đóng vai một kinh đô mà hậu nhân đã tán rộng là thế phong thuỷ “rồng cuộn hổ ngồi”.

Chính thành phần di dân từ phương bắc đã nhanh chóng tạo được một văn hoá Trung Hoa biến tướng, hình thành một cơ cấu chính quyền tương đối lớp lang đủ sức kết nối một xã hội nặng phần bộ lạc, thôn bản của dân chúng Việt Nam thời đó. Không quá ngạc nhiên khi một số nghiên cứu về phổ hệ cho thấy các triều Ngô, Ðinh xem ra có nguồn gốc Việt Nam trong khi các triều đại tiếp theo, các họ Lê, Lý, Trần, Hồ, Mạc ... lại mang dòng máu di dân từ Trung Hoa đến.[1]

Thử thách và xung khắc của hai nền văn minh Nam Á và Trung Hoa đã là một vấn nạn lớn cho nhiều triều đại Việt Nam nên việc Nam Tiến là một nhu cầu bất khả kháng, vừa để giảm bớt áp lực từ phương bắc vừa hoá giải một mối lo thường trực của người Việt đến từ những tiểu quốc ở phương nam. Có cùng hoàn cảnh như Việt Nam, một tiểu quốc khác là Nam Chiếu (tức Đại Lý ở Vân Nam ngày nay) vì không có đường lui nên đã bị xoá tên trên bản đồ, chỉ một thiểu số thoát được xuống phương Nam lập nên vương quốc Sukhothai.

Cuộc chiến Kỷ Dậu [1789] cũng có thể tìm hiểu sâu rộng hơn nếu chúng ta đối chiếu với những trận đánh tương đồng giữa Miến Ðiện và quân Thanh để rút ra những khuyết điểm chung của Trung Hoa trong thời kỳ tưởng như “nhật lệ trung thiên” (mặt trời lên đến đỉnh cao) nhưng lại ẩn chứa những suy tàn. Những quân đội chính qui với hệ thống tổ chức cồng kềnh thường không đủ linh động để đối phó với kẻ địch biến báo, nhất là ở một chiến trường cách xa hậu cần mà các hoạt động hành quân tuỳ thuộc vào một hệ thống tiếp vận phức tạp. Nghiên cứu bối cảnh chung của toàn vùng cuối thế kỷ XVIII giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc xét định vấn đề thay vì phải dựa trên những huyền thoại không thể giải thích được.

Từ những suy nghĩ đó, chúng tôi dịch bài viết này để bổ túc cho những sử liệu mà Việt Nam chưa hề đề cập đến. Trong cùng một thời kỳ, cùng một phương cách điều quân, nhà Nguyên đã đem đại quân sang đánh Nhật Bản, Ðại Việt, Chiêm Thành và đều bị thất bại. Tuy nguyên nhân trực tiếp của những chiến dịch đó có khác nhau, tính chất cơ bản cũng không khác.

Trong khi các quốc gia khác tiếp tục tìm kiếm chứng liệu để viết lịch sử thêm chính xác, Việt Nam vẫn lệ thuộc vào các tài liệu cũ,  miêu tả lịch sử theo hướng huyền thoại hơn là khai triển những sự thật. Trong vài chục năm qua, ngành hải dương khảo cổ học (nautical archaeology) nghiên cứu về những con tàu đắm đã soi sáng khá nhiều chi tiết từng đưa đến nhiều tranh cãi. Một thành quả quan trọng giúp chúng ta nhìn lại lịch sử của mình là việc trục vớt và phát kiến những con tàu của đoàn quân Mông Cổ sang đánh Nhật Bản cuối thế kỷ XIII.

Từ những chi tiết và di vật tìm thấy tại vịnh Hakata (nay là Fukuoka), người ta đã có câu trả lời cho nhiều câu hỏi, từ kích thước và số lượng của những đoàn tàu viễn chính, các loại khí giới và tổ chức chỉ huy cho đến cả thực phẩm được dùng thời đó. Súng ống, hoả cầu, thuốc nổ, địa điểm xuất phát, vật liệu chế tạo ... vẽ lại một thời kỳ lịch sử không phải chỉ của đế quốc Nguyên – Mông mà cho cả Nhật Bản. Quan trọng hơn hết, những đoàn thuyền này được sử dụng đồng thời với những đoàn tàu sang đánh Chiêm Thành và Ðại Việt nên chúng ta cũng có thể sử dụng như những tấm gương để chiếu lại hình ảnh của đoàn quân Mông Cổ sang đánh nước ta với đầy đủ ưu và khuyết điểm của nó. Với số lượng lên đến trên 1,000 chiến thuyền, kích thước vào khoảng 240 feet (72 mét) mỗi chiếc, chưa kể số thương thuyền nhiều gấp bội để lo về tiếp vận, lực lượng của nhà Nguyên lên đến hàng chục vạn người, qui mô các trận đánh vì thế không phải nhỏ. Tuy nhiên, cũng từ những di vật đó, người ta cũng ghi nhận được những nhược điểm chiến lược mà họ vấp phải:

1.    Việc chuẩn bị gấp rút và thiếu chu đáo đã đưa đến những hậu quả không tiên liệu trước được. Ðoàn thuyền viễn dương được sử dụng chủ yếu như phương tiện chuyên chở hơn là những chiến hạm. Chính vì thế, một số lớn đã bị phá huỷ khi gặp bão và khi chạm địch đầu đuôi không tiếp ứng được cho nhau.

2.    Thành phần binh sĩ mà người ta kết luận rằng đến 99% là người gốc Hán cũng phù hợp với luận điểm rằng những đoàn quân xâm lăng thực sự là những người binh sĩ người Hán bị đối xử như nô lệ từ các vùng mới chiếm đóng, không phải là những kỵ binh thiện chiến của sa mạc. Nhà Nguyên tuy danh nghĩa là một triều đình Mông Cổ nhưng sau mấy chục năm cai trị thì thực tế chỉ là một triều đại Trung Hoa, về tổ chức hành chánh cũng như quân sự và họ cũng bị những hạn chế không thể giải quyết được. Việc đồng hoá quân Nguyên với quân Mông Cổ không chính xác khi họ chỉ là những đoàn quân ô hợp không chuyên nghiệp bị sáp nhập và cưỡng bách từ các khu vực mới chinh phục ở miền nam Trung Hoa.

Bài viết nguyên thuỷ xuất hiện trên tạp chí Archaeology [January-February 2003] (A Publication of the Archaeological Institute of America) dưới nhan đề “Relics of the Kamikaze: Excavations off Japan’s coast are uncovering Kublai Khan’s ill-fated invasion fleet” từ trang 36-41 và được đăng lại  trong tuyển tập The Archaeology of War (New York – London: Hatherleigh Press, 2005).

Với những phương tiện mới, với nhiều điều kiện hơn để nghiên cứu lịch sử và muốn rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai, chúng ta không thể không nhìn lại quá khứ bằng đầu óc khách quan, khoa học và sáng suốt hơn.

 

Nguyễn Duy Chính

2005


 

ÐỐI PHÓ VỚI CƠN THỊNH NỘ CỦA ÐẠI HÃN

Khi Kublai Khan (Hốt Tất Liệt) lên ngôi thủ lãnh Mông Cổ, ông phải đối phó với những phân hoá và tranh chấp nội bộ đồng thời phải tiến hành cuộc chinh phục trung nguyên dai dẳng và khó khăn. Cần thêm những nguồn nhân lực vật lực để chứng tỏ sức mạnh và sự chính thống của một đại hãn, Kublai, cháu nội của Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn) đã mở thêm một mặt trận mới qua phía Nhật Bản trong khi vẫn đang tiến hành việc thanh toán nốt tàn dư của nhà Tống.

Ðại hãn gửi nhiều sứ bộ đòi Nhật Bản phải thần phục nhưng mạc phủ (bakufu), lãnh tụ quân phiệt của Nhật dứt khoát cự tuyệt. Năm 1274, với sự tiếp sức của triều đình phiên thuộc Triều Tiên Koryo, Mông Cổ tập hợp một hạm đội mà các nguồn sử sách cho là lên đến 900 chiến thuyền để chở 23,000 quân vượt qua eo biển Tsushima rộng 110 dặm ngăn cách bán đảo Triều Tiên và Kyushu. Nhổ neo khởi hành từ Koryo đầu tháng 10, hạm đội uy hiếp đội binh phòng ngự trên đảo Tsushima và Iki trước khi đổ bộ tại thương khẩu xưa Hakata (nay là Fukuoka).

Nhật Bản đem một lực lượng khoảng chừng 6000 samurai (hiệp sĩ) và gokenin (tức phục dịch hậu cần) đón đánh đội quân xâm lăng. Các tài liệu của Nhật chép rằng trận đánh này, tuy chống trả rất anh dũng, nhưng họ bị thiệt hại nặng. Các hiệp sĩ chiến đấu theo tư cách cá nhân không sao địch được với với chiến thuật đánh tập thể của quân Mông Cổ, nhất là họ lại dùng tên tẩm thuốc độc và những đạn nổ bắn bằng giàn phóng. Sau một tuần kháng cự, người Nhật phải rút lui vào Daizafu là thủ phủ của Kyushu sâu 10 dặm trong đất liền. Quân xâm lăng cướp và đốt phá Hakata nhưng e ngại quân Nhật sẽ có thêm viện binh lại thêm thời tiết vùng duyên hải nổi tiếng là nhiều bão nên các cấp chỉ huy chuẩn bị rút lui. Vào ngày 20 tháng 10, gió đổi chiều và trở nên dữ dội. Một số chiến thuyền kéo rê neo và trôi giạt vào bờ. Các sử liệu viết là có đến 300 chiến thuyền và 13,500 người bị mất tích trong trận bão, kết thúc lần xâm lăng đầu tiên nhưng cũng có tài liệu bảo rằng đa số theo hướng gió nên chạy thoát và chỉ một số ít bị đánh chìm ngay tại bờ biển.

Kublai Khan gửi thêm nhiều sứ bộ để bắt Nhật Bản phải thần phục nhưng mạc phủ càng thêm tin tưởng khi thấy quân Nguyên phải rút khỏi Hakata nên tiếp tục từ khước và xử tử các sứ giả của đại hãn. Mạc phủ cũng cho củng cố hệ thống phòng ngự, điều động các hiệp sĩ trung kiên đến gần Hakata và năm 1276 ra lệnh cho họ xây một chiến luỹ bằng đá dài 12.4 dặm dọc theo bờ biển và công tác này hoàn tất trong sáu tháng. Các hiệp sĩ ở Hakata tổ chức các ngư phủ địa phương và thương nhân thành một lực lượng duyên hải và huấn luyện dân chúng để phòng ngự mặt biển.

Ðại hãn và các chư hầu cũng không ngồi yên. Sử Trung Hoa chép rằng Kublai ra lệnh cho Koryo đóng 900 chiến thuyền và tập trung 10,000 binh sĩ để thực hiện một cuộc xâm lăng khác. Tại Trung Hoa, lấy từ lực lượng hải quân của Tống triều vừa bị chinh phục và gấp rút đóng thêm thuyền mới để dùng vào viễn chinh, Kublai tập trung được 3,500 chiến thuyền và 100,000 quân. Hai hạm đội riêng rẽ khởi trình vào tháng 5 năm 1281 và dự tính sẽ gặp nhau tại đảo Iki trong eo biển Tsushima.

Thế nhưng lực lượng Triều Tiên, sau khi chiếm lại đảo Iki từ người Nhật Bản, đã giong thuyền sang Hakata mà không đợi lực lượng to lớn hơn của Trung Hoa để cùng tiến. Người Nhật, được các thám tử thông báo, đã đợi sẵn. Bị chặn lại bởi bức tường đá tại bờ biển, đoàn quân xâm lăng đành quay lại đảo Shikanoshima ở giữa vịnh Hakata. Ðội hải thuyền Nhật Bản liền khuấy phá hạm đội ngay khi họ buông neo, các hiệp sĩ samurai nhảy lên sàn tàu giao chiến với các thuỷ thủ trong khi thuyền khác phóng hoả rồi thả cho trôi đến giữa đoàn tàu. Cuối cùng, hạm đội Koryo phải rút về đảo Iki và chấm dứt nhiệm vụ viễn chinh.

 


Di tích bức tường đá phòng ngự còn tới ngày nay

Hạm đội Trung Hoa, sau một chút chậm trễ, cuối cùng đã nhổ neo hồi tháng 6 và đến được hòn đảo nhỏ Takashima trong vịnh Imari cách Hakata 31 dặm về phía nam. Sau nhiều tuần lễ chiến đấu trên bờ biển của hòn đảo và vùng đồi núi đã khiến cho lực lượng phòng thủ lâm vào thế bí nhưng một trận bão bất ngờ chiều tối ngày 30 tháng 7 đánh đoàn tàu địch tan tành. Theo ghi nhận của Nhật Bản, hầu hết các chiến thuyền của Mông Cổ bị thổi vào bờ và hầu hết 100,000 binh sĩ bị chết chìm. Tại cửa vào vịnh Imari, một nguồn sử Nhật Bản viết là “một người có thể đi bộ trên những xác tàu từ bên này vịnh sang bên kia.

Kublai Khan không bao giờ dám đưa một hạm đội sang xâm lăng Nhật Bản nữa. Ông ta bất thình lình bãi bỏ dự tính một cuộc viễn chinh lần thứ ba vào năm 1286. Cũng vì chuyện này, người Nhật Bản nhiều lần cướp phá trừng phạt người Triều Tiên và Trung Hoa, hầu hết theo kiểu hải tặc hơn là tấn công bằng hải quân. Nếu bảo là có một chính sách thì sau cùng Nhật Bản quay về đường lối cô lập và canh phòng những đảo nhà, mà họ tin rằng có thần linh bảo vệ nên đã hai lần gửi bão đến đánh đuổi quân thù. Huyền sử về lực lượng hộ trì đó, tức kamikaze, không hề mất mãi đến bảy thế kỷ sau, vào những tháng tuyệt vọng sau cùng trong của Thế Chiến thứ hai.

 


Một bức tranh của Nhật (thế kỷ 19) minh hoạ cuộc chiến đấu

 chống lại đoàn chiến thuyền của Nguyên - Mông

 

           


Mô hình thuyền của đoàn quân Mông Cổ

được tái tạo theo các di tích và tài liệu lịch sử

Bước chân từ cầu tàu xuống vùng nước ấm đục ngầu trong vịnh Imari, tôi (tác giả Delgado) bơi về phía đáy rồi theo một sợi dây đóng nọc sẵn lần theo triền dốc. Việc khai quật đã quậy lớp bùn mềm nên độ nhìn kém nhưng đột nhiên tôi trông thấy con tàu đắm. Không giống như những địa điểm khác đã lặn xuống, thềm biển nơi đây không nằm chình ình một thân tàu mà là những mảnh gỗ và vật dụng cho thấy một hay nhiều chiếc tàu đã đụng vào bờ nên vỡ tan.

Có những mảnh của bộ giáp bằng da màu đỏ tươi, một chiếc bát sành trang trí bằng chữ viết và mẩu gỗ với dấu vết giống như vừa mới cháy. Tim tôi đập mạnh khi bơi đến một hiện vật mà biết ngay là một mũ sắt (helmet) của Mông Cổ còn nguyên vẹn. Gần nơi đó là một bó đầu mũi tên bằng sắt và một vật gốm sứ tròn, một tetsuhau, tức là một trái bom. Các nhà nghiên cứu vẫn nghi ngờ không biết loại bom sành, trong nhét đầy thuốc súng, đã xuất hiện thời kỳ này hay chưa, thì chính nó đây. Tôi thả người lềnh bềnh tới, trong đầu hoang mang tự hỏi sao một vật dụng cách đây bảy thế kỷ nằm bình thản như mới dùng trong trận chiến ngày hôm qua. Chứng cớ này khiến cho câu chuyện Kublai Khan xâm lăng Nhật Bản và thần phong kamikaze – cơn bão thiêng huyền hoặc đã huỷ diệt đoàn thuyền năm 1274 và 1281 – là một quá khứ có thật và đang ở trong tay.

Làm việc trong cái vịnh nhỏ trên bờ đảo Takashima, ngoài khơi đảo Kyushu thuộc Nhật Bản, những nhà khảo cổ nghiên cứu dưới nước do ông Kenzo Hayashida thuộc Society for Underwater Archaeology (KOSUWA) chỉ huy đã khai quật những di vật của một chiếc tàu Trung Hoa lớn, bị chìm trong lần xâm lăng của Ðại Hãn vào năm 1281. Tháng 8 vừa qua, tôi là nhà khảo cổ Tây phương đầu tiên có may mắn được tham gia vào nhóm KOSUWA để lặn xuống nghiên cứu vị trí này. Những mảnh vụn của chiếc tàu và di vật tìm thấy nơi đây – vũ khí, lương thực, tài sản cá nhân cho chí hài cốt của thuỷ thủ – đã cho thế giới thấy được hình ảnh chi tiết của chiếc tàu đã tham gia trận đánh nổi danh và kết thúc khi một cơn bão đập tan hạm đội Mông Cổ.

Cơn bão đánh vỡ chiếc thuyền thành những mảnh tan tác khắp nơi bao gồm hàng ngàn di vật, nhiều món còn được bảo tồn rất khả quan trong nhiều thế kỷ vì được chôn sâu trong bùn. Chính chiếc thuyền cũng kỳ diệu như những món đồ tìm thấy. Thân thuyền, được cấu tạo bằng những phiến gỗ được kết lại bằng đai sắt và những đà lớn đang lôi lên từ lòng biển, lại có những phòng ngăn kín nước. Mặc dù những nhà khảo cổ Nhật Bản vẫn dè dặt cho rằng họ chưa hoàn tất việc khai quật địa điểm này nhưng chiến thuyền xem ra cũng phải dài đến 230 feet (khoảng 70 thước), lớn gấp đôi những thuyền của Âu châu trong thời cận đại. Chiếc neo khổng lồ, chứng tích của tầm vóc chiếc thuyền, là một khối lớn kết hợp gỗ và đá nặng đến hơn một tấn. Cái cán bằng gỗ sồi (oak) đỏ, nay đã gãy, dài 23 feet (gần 7 thước). Phân tích loại gỗ và đá hoa cương dùng làm chiếc neo người ta biết rằng những vật liệu này có gốc từ tỉnh Phúc Kiến (Fujian), Trung Hoa, một hải cảng thương mại quan trọng và là điểm xuất phát của đoàn thuyền tấn công vào Nhật Bản năm 1281. Vào lúc đó, nhà Tống đã thần phục người Mông Cổ nên cung cấp hầu hết chiến đoàn này – theo tài liệu Trung Hoa thì có đến 4,400 chiến thuyền – và một số đông binh sĩ trong cuộc xâm lăng đó.

Vào thập niên 1920, các nhà khảo cổ Nhật Bản bắt đầu khai quật phần còn lại của chiến luỹ dài 12.4 dặm (20 km) được xây vòng theo cửa biển cũ ở Hakata (nay là Fukuoka) để ngăn ngừa cuộc xâm lăng năm 1281. Những nghiên cứu này nằm trong ý hướng ái quốc để truy tầm và khôi phục một phần chiến luỹ nhằm củng cố câu chuyện nhờ vào hoàng đế và tổ tiên anh linh nên đã gửi ngọn gió thần đến cứu nước Nhật một cách kỳ diệu. Cuộc xâm lăng và thần phong trở nên quan trọng cho việc tái giải thích quá khứ của Nhật Bản vì chính phủ đang chuẩn bị chiến tranh.



                                                      Ấn Mông Cổ tìm được


Sau thế chiến thứ II, công tác khảo cổ chung quanh Fukuoka đôi khi tìm thấy những cán neo bằng đá mà người ta cho rằng là của hạm đội Mông Cổ mặc dầu những di vật này rất có thể thuộc về lịch sử lâu dài của hải cảng Hakata. Việc khám phá chỉ cung cấp những chứng cớ rõ rệt hơn về những lần xâm lăng khi giáo sư khoa học Torao Mozai, thuộc đại học Tokyo, đến Takashima năm 1980 để xem xét thềm biển cả nơi đây có gì. Trong chuyến đi đầu tiên của Mozai, các ngư dân địa phương là những người đã rà lưới dưới đáy vịnh Imari trong nhiều thế hệ, đưa cho ông xem những bình sứ và một sồ đồ vật họ kéo lên có thể đưa đến một số dấu hiệu của các tàu bị đắm. Một trong những món đó khiến Mozai chú ý. Bỏ lẫn trong đống đồ nghề của một ngư phủ là một món đồ đồng hình vuông trên có khắc chữ Trung Hoa và chữ Phagspa, một kiểu chữ Mông Cổ, chính là cái triện riêng của một thủ lãnh quân Nguyên. Con dấu đó là một chứng cớ hiển nhiên những ngư dân này đã vớt được di tích từ hạm đội mất tích của Kublai Khan.

Mozai, người vẫn được mệnh danh là “bậc thầy trong ngành khảo cổ dưới nước” của Nhật Bản, dùng âm thanh để rà xét thềm đại dương. Những thợ lặn lội xuống xem những nơi mà âm thanh đụng tới đã đem lên kiếm thép, đạn bắn bằng đá, mũi giáo, cối xay tay để giã gạo (hay có thể dùng để tán thuốc súng) và cán neo bằng đá. Những khám phá của Mozai mở đầu cho một thế hệ các nhà khảo cổ mới của Nhật Bản hoạt động trong các vùng ngoài khơi Takashima, trong số đó có Kenzo Hayashida.

Từ năm 1991, Hayashida và cơ quan KOSUWA do ông sáng lập đã thực hiện những nghiên cứu thực địa theo mùa mỗi năm tại Takashima, nghiên cứu đáy biển vịnh Imari và thực hiện một số khai quật giới hạn để định lượng địa điểm đắm tàu có thể có được và hiện vật còn tồn tại ở đáy biển sau nhiều thế kỷ gió bão và dân chài đời này sang đời khác dùng lưới vét và lưới cào. Năm 1994, KOSUWA khám phá được ba chiếc neo làm bằng gỗ và đá tại hải cảng Kozaki, một vịnh nhỏ nằm ở phía nam bờ biển Takashima. Chiếc neo lớn nhất vẫn còn nguyên, sợi dây chão căng vào hướng bờ. Chôn sâu trong bùn cách bờ biển khoảng 500 feet (150 thước), sâu 70 feet (21 thước), chiếc neo ấy báo hiệu phải có một con thuyền đắm ở quanh đây. Thế nhưng người ta lại không thấy một mục tiêu qui mô nào ở chung quanh, ngoài một số mảnh vụn. Nghi ngờ rằng những di vật đó thuộc về một chiếc tàu đắm đã vỡ tan, hoặc vào năm 1281 hay vì cơn bão, Hayashida khởi công đào bới. Vào khoảng 1994-1995, KOSUWA lấy lên được 135 đồ vật gần bờ biển rồi theo đó mà dò tìm xuống vùng nước sâu hơn vào năm 2001.

Tháng 10 năm ấy là thời điểm mà công lao tìm kiếm được bù đắp khi người ta tìm thấy di tích của chiếc tàu. Sau 20 năm truy tầm vịnh Imari đã đem lại một trong những chiếc thuyền của đại hãn dù không còn nguyên vẹn. Thế nhưng một công trình xây cất do chính quyền tài trợ để nuôi cá đang sắp sửa tiến hành ngay trên địa điểm của con tàu đắm. Tuy kế hoạch đó có giúp cho KOSUWA ngân khoản để điều tra nhưng địa điểm 2,600 bộ vuông này phải hoàn tất việc khai quật trước cuối năm 2002. Công việc tiến triển mau lẹ với sự phụ giúp của một đoàn người nhái đông đảo, những hệ thống thông tin dưới nước và sự cộng tác tích cực của Viện Bảo Tàng Lịch Sử và Văn Hoá Dân Gian Takashima và Viện Bảo Tàng Thành Phố Fukuoka.

Trong nhiều đợt lặn, tôi (tức tác giả TS Delgado) có dịp quan sát địa điểm này lộ ra những lớp di vật và di chỉ được bảo tồn khả quan. Phần chính của chiếc thuyền nằm dưới sâu 45 feet (13.5 thước) nước và chôn dưới một lớp bùn đặc sệt dày 4 feet (1.2 thước). Làm việc chung với một tiểu tổ để thu thập tài liệu, tôi quan sát họ làm bản đồ từng món, chụp hình và lấy lên các món đồ sứ, lược đồi mồi, những mảnh da áo giáp màu đỏ, các đà thuyền và một phần các khoang không thấm nước.



 Ðồ sứ, bó tên và neo vớt từ đáy biển


Di vật bao gồm từ các đồ dùng cá nhân, chẳng hạn bát nhỏ trên có ghi tên của chủ nhân, một cấp chỉ huy họ Weng, đến thực phẩm và dụng cụ chế biến dùng cho chiến đấu. Ðồ ăn dự trữ có các vò chứa đủ các cỡ, tất cả đều được chế tạo vội vã và thô kệch. Những món đó chứng tỏ việc xâm lăng được chuẩn bị rất vội vã, nếu không nói là cấp bách của vua nhà Nguyên. Những chiếc neo đá cũng vậy. Neo đá Trung Hoa thời đó thường to lớn, được đẽo gọt kỹ lưỡng và chỉ là một khối duy nhất lắp vào cán để làm trọng lượng. Những chiếc neo tìm thấy ở Takashima được chế tạo đơn sơ và làm bằng hai tảng đá, tuy thực hiện dễ dàng và nhanh hơn nhưng không chắc chắn bằng loại một khối đá. Rất có thể những chiếc neo gấp rút này đã khiến cho hạm đội bị tan tành trong cơn bão làm tiêu tan hi vọng chinh phục Nhật Bản của Kublai.

Khí giới lấy được từ vị trí bao gồm những bó đầu mũi tên bằng sắt hay lẫy nỏ, đầu mũi giáo và hơn 80 đao kiếm. Trong một lần lặn vớt, tôi thấy một mũ sắt Mông Cổ nằm dưới đáy biển, cá bơi ra bơi vào nơi đỉnh trán. Gần ngay bên chiếc mũ sát là một di sản có thể nói là khám phá tuyệt diệu nhất chưa từng có – tetsuhau, tức là một trái bom bằng sứ để bắn ra. KOSUWA đã lấy lên được sáu trái bom như thế này tại nơi tàu đắm. Ðây là những phóng đạn có thể nổ sớm nhất trên thế giới và là chứng tích khảo cổ trực tiếp về hải pháo đặt trên tàu.

Những đạo sĩ luyện đan Trung Hoa đã tìm ra thuốc nổ vào khoảng 300 năm sau T.L. và chừng 1100 bom giấy khổng lồ tương tự một cái pháo lớn đã dùng trong chiến tranh. Tài liệu của Trung Hoa đã chép tới những hoả pháo được bắn ra bằng giàn phóng (catapult-launched exploding projectiles) từ năm 1221 nhưng một số sử gia lại cho rằng chi tiết này đã do đời sau nguỵ tạo. Trong tác phẩm nhan đề In Little Need of Divine Intervention (Chẳng Cần Tới sự Tham Dự của Thần Linh) để phân tích hai cuộn tranh Nhật Bản vẽ về cuộc xâm lăng của Mông Cổ, sử gia Thomas Conlan của trường Bowdoin College đã nhận định rằng hoạt cảnh vẽ một hiệp sĩ ngã từ trên ngựa xuống trong khi một trái bom nổ ngay trên không chỉ là một thêm thắt của đời sau. Nghiên cứu của Conlan đã phủ định mạnh mẽ huyền thoại lưu truyền rộng rãi về cuộc xâm lăng, giảm bớt số lượng thuyền và quân số tham dự cũng như cho rằng chẳng có cơn bão nào mà là sự kháng cự của người Nhật trên bờ biển, cùng với sự thiếu phối hợp và hỗn loạn của đoàn quân đã đánh tan hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ. Thế nhưng việc phỏng đoán về bom nổ là sai niên đại nay đã có những chứng cớ cụ thể để phi bác. Hơn thế nữa, khi người Nhật dùng X-ray để soi hai trái bom còn nguyên vẹn, họ đã khám phá ra một trái chỉ chứa đầy thuốc súng trong khi trái kia lại nhồi bằng thuốc súng và hơn một chục miểng sắt hình vuông nhằn mục đích cắt quân thù.

 


Bom bằng đất nung chứa thuốc nổ

 

Ðịa điểm tàu chìm cũng còn rất nhiều mảnh hài cốt. Một xương sọ nằm theo vị trí một người bị đẩy sấp mặt xuống lòng biển, một xương hông, có lẽ cũng của người đó nay nằm trong phòng thí nghiệm bảo quản để chờ phân tích. Phòng thí nghiệm tối tân của Viện Bảo Tàng Lịch Sử và Văn Hoá Dân Gian Takashima nay chất đầy những hồ nước để giữ gìn các di vật. Nghiên cứu sơ khởi các di vật cũng tiết lộ tin tức mới về lực lượng của đại hãn. Chỉ có một phần trăm những gì người ta tìm thấy thuộc về giống Mongolian, phần còn lại là gốc Hán.[2]

Cuộc xâm lăng của Mông Cổ chẳng qua chỉ có cái tên trong nhiệm vụ của các thuỷ thủ và binh sĩ. Những gì khám phá được trong tương lai không ai biết chắc. Tuy việc khai quật do chính phủ Nhật Bản tài trợ hoàn toàn nhưng lại chỉ đủ ngân khoản để bảo quản mười phần trăm những gì kiếm được. Cho đến nay, các di vật đó vẫn còn nằm trong các bồn nước lạnh. Viện bảo tàng hiện tại quá nhỏ không đủ sức cất giữ tất cả những món tìm thấy và nước Nhật cũng vẫn đang bị suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Vì sự quan tâm rộng lớn và tầm vóc qui mô của khai quật, thiết tưởng đã đến lúc các cơ quan quốc tế phải yểm trợ tài chánh để phụ giúp vào công trình khảo cổ và văn hoá đầy hứa hẹn này được hoàn thành.

Chính quyền địa phương của Takashima rất quan tâm đến việc truy tầm thêm về hạm đội của Kublai Khan và Kenzo Hayashida cùng các cộng sự viên vẫn tiếp tục công tác ở ngoài khơi hòn đảo. Hayashida, cũng như Thomas Conlan và nhiều sử gia khác, tin rằng tầm vóc của hạm đội đã được phóng đại, và chỉ hàng trăm chứ không phải hàng ngàn chiến thuyền hiện đang còn chôn sâu. Dù thế chăng nữa, những di chỉ nay đã trồi lên từ bùn đất là một trong những công tác khảo cổ lòng đại dương vĩ đại nhất trong thời đại chúng ta, cung cấp tin tức quan trọng về hải hành và quân sự của châu Á trong cuộc xâm lăng đã bị đánh tan bởi một trận gió thần.




                             Mông Cổ Tập Lai Hội Quyển Thượng (tk XIII)

蒙古襲來繪卷上

Trích từ Exhibition of Art Treasures of Japan - Nhật Bản Mỹ Thuật Danh Bảo Triển (kỷ niệm 60 năm Chiêu Hoà) 1986 tr. 38



                                 

Mông Cổ Tập Lai Hội Quyển Hạ (tk XIII)

蒙古襲來繪卷下

Trích từ Exhibition of Art Treasures of Japan - Nhật Bản Mỹ Thuật Danh Bảo Triển (kỷ niệm 60 năm Chiêu Hoà) 1986 tr. 38

 

 



[1] Xem thêm Trương Tú Dân (張秀民), “An Nam vương triều đa vi Hoa duệ sáng kiến khảo” (安南王朝多為華裔創建考). Trung Việt Quan Hệ Sử Luận Văn Tập (中越關係史論文集) (Ðài Bắc: Văn Sử Triết, 1992)

[2] Nguyên văn: ... Initial study of the artifacts has revealed new information about the khan’s forces. Only one percent of the finds can be attributed to a Mongolian origin; the rest are Chinese.

Trịnh Y Thư: Nguyễn Viện: Tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về – Cuộc trốn chạy trong mê cung Lịch sử

 

 

1.

 

Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về của nhà văn Nguyễn Viện, ta thấy đó là một cuộc chạy trốn thật sự ra khỏi những thực tại tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh, của đời sống. Nó không phải giấc ngủ hay giấc mơ để tạm thời quên đi những nhọc nhằn, khổ ải do đời sống đem lại, như giấc ngủ của Iliad của Homer, hoặc như Shakespeare từng nói: “Giấc ngủ hàn gắn những vết thương lòng.”

 

Con người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như con người.

 

Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện va chạm đến vấn đề cốt lõi của cuộc sống hiện đại: tại sao sống như một con người lại khó khăn đến thế; tại sao sống là trốn chạy, là bế tắc, một nghịch lý hết thuốc chữa khi những tiến bộ về cả mặt khoa học lẫn tư tưởng đều đạt được những thành tựu lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử?

 

2.

 

Thạch Xung, nhân vật chính diện của cuốn tiểu thuyết, người con của núi rừng, sinh ra trong một ngôi làng hẻo lánh heo hút ở vùng cao, với cái tên hoang dã, như chính nó, Rume. Mẹ gã trao thân cho một người đàn ông được mọi người trong làng gọi là “ông Thày” và sinh ra gã. Bà được gả cho một người đàn ông khác trong làng trước khi gã ra đời. Bởi thế trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu gã mặc nhiên xem người đàn ông đó là cha mình. Cùng lúc có một người đàn bà khác cũng hiến dâng thân xác cho “ông Thày” và sinh ra một người con gái tên Thị. Ngôi làng mang một khí hậu hiện thực huyền ảo, “… ẩn khuất giữa đám cây rừng ấy chưa bao giờ lạnh lẽo. Nó luôn được sưởi ấm bởi những hơi thở nóng của đàn bà ở Rume. Bởi không một người đàn bà nào không bị xao xuyến bởi ánh mắt dịu dàng của Thày…” Và nặng mùi dục tính, “Mùi ma mị của bà hoà quyện với mùi rừng man dại nhồi ông lên xuống giữa chơi vơi của đất trời. Mơ và thật. Bà Mắm rất tự hào vì được ông yêu. Như ân sủng. Như biệt đãi. Cho dẫu niềm tự hào ấy vẫn phải che giấu như bóng tối trong lô cốt, nhưng vẫn làm cho thần thái bà trở nên rạng ngời.” (Tiểu đoạn 1: Cái lô cốt ở Rume).

 

Tình cảm khắng khít giữa Thạch Xung và Thị theo thời gian ngày càng nảy nở, nhưng không có một tình huống  “Trăm năm cô đơn” nào xảy ra, mà thay vào đó là chiến tranh. Chiến tranh ập đến kéo theo tất cả những chết chóc, đổ vỡ, chia lìa, tan tác. Làng Rume bị chặt khúc ra từng mảnh bởi cả hai phe, Quốc gia lẫn Giải phóng. Ông Thày bị cắt đầu vì bị tình nghi là Việt gian, các người khác như bầy chim vỡ tổ, mỗi người tìm một phương lánh nạn. Thạch Xung và Thị cũng bị cuốn trôi theo cơn thác lũ ấy về thành phố chạy trốn, kiếm miếng ăn, nhưng mất liên lạc với nhau một thời gian dài.

 

Nhà văn Nguyễn Viện dành khá nhiều câu chữ trong cuốn tiểu thuyết để nói về cuộc chiến tranh ấy, tuy vậy, ông không hề đả động gì đến việc cuộc chiến xảy ra như thế nào; năm tháng, những biến cố trọng đại cũng không được moi ra từ lịch sử hoặc ký ức, mà chỉ nói về những hệ lụy đau đớn do cuộc chiến gây ra. Điều này không lạ. Bởi sứ mệnh (nếu có) của tiểu thuyết không phải minh họa cho Lịch sử, mà là lấp đầy những chỗ trống do Lịch sử vô tình hay cố ý bỏ quên. Nguyễn Viện nhìn chiến tranh với con mắt kinh hoàng tột độ, “… Con người bị ném vào chiến tranh như miếng thịt ném cho thú dữ trong sở thú.” Ở một đoạn khác, ông viết:

 

“Đao kiếm hay súng ống, xưa nay vẫn là thứ vũ khí để giết người và nó gắn bó với lịch sử con người như một thuộc tính. Một cám dỗ huỷ diệt, mãnh liệt và ám ảnh. Vì thế, vũ khí mỗi ngày một tinh vi và hiệu quả hơn. Nó cũng lôi cuốn con người hơn. Mang đao kiếm hay súng ống không chỉ là tự vệ hay giết người, mà nó nâng cấp và thị uy bản ngã.” (Tiểu đoạn 5: Thành phố).

 

Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ một câu viết của nhà văn Mỹ Henry Miller, “Chúng ta giết nhau vì chúng ta hãi sợ chính cái bóng của mình, sợ rằng nếu chúng ta sử dụng một chút lý trí, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng những nguyên tắc cao cả của chúng ta là sai lầm.”

 

Đoạn văn trên của Nguyễn Viện là tiếng dội từ vách núi vọng về của câu nói của Henry Miller, mà tôi hiểu như sau:

 

Chiến tranh là sự hủy diệt mang tính biểu tượng đối với kẻ khác, nhưng bạo lực không bắt nguồn từ sức mạnh hay niềm tin, mà từ nỗi sợ hãi. Sợ hãi khi nhận ra khả năng tàn ác của chính mình. Sợ hãi khi thừa nhận rằng chúng ta không trong sạch về mặt đạo đức như chúng ta tuyên bố. Sợ hãi rằng “kẻ thù” không hoàn toàn ở bên ngoài, mà phản ánh điều gì đó chưa được giải quyết bên trong chúng ta. Bằng cách phóng chiếu bóng tối này ra bên ngoài, chúng ta biến xung đột nội tâm thành xung đột ngoại tại. Kẻ thù trở thành một vật chứa tiện lợi cho những gì chúng ta không thể chịu đựng được ở chính mình. Do đó, bạo lực là một hình thức trốn tránh tâm lý.

 

Đoạn, cái “bản ngã được nâng cấp” của Nguyễn Viện hay cái “nguyên tắc cao cả” của Henry Miller là gì, và tại sao chúng ta hãi sợ nó là sai lầm?

 

Đây là lời buộc tội cốt lõi. Miller không tấn công các nguyên tắc nói chung, mà là các nguyên tắc được tôn vinh – những lý tưởng được nâng lên vượt quá sự phê phán và tách biệt khỏi thực tế. Chúng trừu tượng (quốc gia, sứ mệnh, cách mạng, tự do, sự trong sạch, sự tiến bộ, hệ tư tưởng, vv.) Họ đòi hỏi sự hy sinh – nhưng không bao giờ từ những kẻ định nghĩa chúng. Họ biện minh cho sự tổn hại là cần thiết, không thể tránh khỏi. Nói cách khác, chiến tranh, việc giết chóc tiếp diễn không phải vì con người thiếu hệ thống đạo đức, mà vì họ bám víu vào chúng quá cứng nhắc. Bạo lực trở thành một cơ chế phòng vệ để bảo vệ hình ảnh bản thân về mặt ý thức hệ.

 

Tại đây, ý thức hệ được trừu tượng hóa; những lý luận đạo đức, luân lý thông thường bị đàn áp, dẹp bỏ; bạo lực được biện minh như một nguyên tắc. Và, khốn nạn thay! Ranh giới giữa nguyên tắc và tội ác mỏng manh hơn chúng ta nghĩ.

 

Câu chuyện “ông Thày” bị cắt đầu trong thiên tiểu thuyết không là một biểu tượng ẩn dụ, không là một sản phẩm của tưởng tượng. Nó từng thật sự xảy ra nhiều lần trong thời chiến tranh Việt Nam, từ nhiều phe phái, không riêng gì phe Việt Minh hay Cộng sản. Cắt đầu người, một hành động tàn bạo kinh khiếp, bạn đừng nghĩ nó chỉ xảy ra vào thời Trung cổ phong kiến, nó từng xảy ra vào thời gọi là văn minh hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là, tại sao con người lại có thể tàn ác, nhẫn tâm như thế với đồng loại?

 

Câu hỏi này đã được chính nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn hỏi, và câu trả lời của ông giản dị là: Nó chính là cái ý thức hệ.

 

Theo Solzhenitsyn, nguyên uỷ của tội ác là ý thức hệ. Ý thức hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả những kẻ cản trở bước đường của mình. Nó được bao bọc bởi lớp hào quang giả tạo rồi trang trọng đưa lên ban thờ. Từ đó kẻ gây tội ác cứ việc an tâm gây tội ác mà lương tâm chẳng hề bị cắn rứt, bởi hắn chỉ cần vái lạy, nhân danh cái ý thức hệ đó thì bất cứ việc gì, dù tàn độc cách mấy, hắn vẫn có thể thản nhiên làm được. Cái ác tiềm ẩn trong DNA của mỗi chúng ta, với ý thức hệ như thùng phuy dầu xăng, chỉ cần một tia lửa nhỏ lóe lên cũng đủ cho nó biến thành đám cháy lớn thiêu đốt bất kỳ thứ gì nằm cản đường cản lối nó.

 

3.

 

Những người con của núi rừng bỏ chạy về thành phố, một nơi chốn hỗn loạn, xã hội suy đồi đến tận đáy đất đen, mọi giá trị truyền thống bị lật nhào, không lý tưởng, mọi ý nghĩa tiêu tan, người ta giẫm đạp lên nhau mà sống, con trai làm du đãng, con gái làm đĩ, hoặc khá lắm thì buông thả, sao cũng được, miễn sống. “Một chủ nghĩa hiện sinh được hiện thực hoá đồng hành trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản.” Tác giả viết như thế ở tiểu đoạn 7.

 

“… Trong cơn lốc xoáy ấy, Thạch Xung không muốn cầm súng vì tổ quốc hay một lý tưởng nào, chàng cũng không muốn cầm súng như cách để kiếm miếng ăn, hoặc giết người để bảo vệ cách sống của mình. […] Chiến tranh là một mâu thuẫn và nó tạo ra những mâu thuẫn khác. Hơn bao giờ hết, những mâu thuẫn nội tại xé vụn Thạch Xung. Và đó là một Thạch Xung du đãng. Từ chối làm nghĩa vụ công dân. Phủ nhận thực tại. Mỗi bước đi của Thạch Xung là một hố thẳm... Và chàng trở thành hố thẳm, bất khả vãn hồi.” (Tiểu đoạn 7: Những ngã ba lạc lối).

 

Thế là Thạch Xung bắt đầu cuộc trốn chạy của mình, trốn chạy theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Gã bị phe Quốc gia bắt lính. Đào ngũ. Bị đuổi, bơi qua sông trốn, gặp ngay thằng em Thạch Xâm chĩa AK vào đầu, lại bơi ngược về phía Quốc gia. Lại chạy. Chạy thục mạng. Chạy miết. Cho đến khi trở thành một tay du đãng khét tiếng.

 

Tiếng tăm gã được đồn thổi, và các thế lực chính trị thuộc cả hai phe tìm đến gã mời mọc, chèo kéo, thậm chí dọa nạt. Nhưng gã cương quyết và khôn khéo chối từ, Tôi không đủ cao cả để hy sinh thân mình cho điều gì. Sự thật, tôi là kẻ sợ chết. Nên tôi sẽ không thể làm gì nguy hiểm đến an nguy của tôi. Tôi cũng không muốn gây nợ máu với ai.” (Tiểu đoạn 8: Những giấc mơ bụi bặm).

 

Thế nhưng, do hoàn cảnh và thời thế đưa đẩy, bỗng một hôm Thạch Xung trở thành một nhân vật chính trị sáng giá. Và, kết quả đáng buồn là gã ngày càng bị cuốn hút sâu vào vũng lầy của những thủ đoạn, mưu toan chính trị đen tối. “Chính trị vẫn là bán mình cho quỷ.” Gã phải quỵ lụy “điếu đóm” các nhân vật như cụ Dunhill, lão Hà Việt bên cốc rượu hay bàn đèn thuốc phiện. Gã cảm thấy chán ngán và cuối cùng, chịu đựng hết nổi, gã bỏ lại tất cả, đi lập một cái am và giả dạng thầy tu. Gã lại bắt đầu một cuộc trốn chạy mới.

 

Thạch Xung không muốn bị cuốn vào cuộc sát phạt địch-ta… Nhưng địch hay ta sẽ chẳng có bên nào cho con người quyền lựa chọn.” (Tiểu đoạn 8: Những giấc mơ bụi bặm). Đó là bi kịch của chiến tranh Việt Nam.

 

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến phức tạp, có kẻ nhìn nó dưới góc độ một cuộc chiến ủy nhiệm giữa hai khối Tư bản và Cộng sản trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Sự thật là sau khi tách cái vỏ bọc mạ vàng giả, gạt bỏ tất cả những khẩu hiệu tuyên truyền, đại loại như “chống Mỹ cứu nước” hoặc “bảo vệ tiền đồn tự do”, thì cuộc chiến ấy hiện nguyên hình là một cuộc nội chiến, anh em giết nhau, không hơn không kém. Sự lựa chọn bi thảm của một con người trong cuộc nội chiến xuất phát từ sự xung đột giữa nghĩa vụ đạo đức, bản sắc cá nhân và lưỡi răng cưa tàn bạo của cỗ máy lịch sử vô nhân tính. Không giống như các cuộc chiến tranh thông thường chống lại kẻ thù rõ ràng từ bên ngoài, nội chiến làm tan vỡ chính khung cảnh đạo đức. Nó xóa bỏ sự phân biệt giữa “chúng ta” và “họ”, biến hàng xóm thành kẻ thù, anh em thành đối địch, và lương tâm cá nhân thành một chiến trường tranh chấp khốc liệt. Bi kịch không chỉ nằm ở sự đau khổ hay mất mát, mà còn ở sự không thể tránh khỏi việc lựa chọn sai lầm, lựa chọn nào cũng là một lựa chọn mà cuối cùng đều đưa đến những hậu quả đau đớn, những thảm cảnh, chẳng những cho mình mà còn cho bao người khác.

 

Nó không phải sự tự do lựa chọn giữa thiện và ác; thay vào đó, con người buộc phải lựa chọn giữa những điều tốt đẹp nhưng lại mâu thuẫn với nhau. Lòng trung thành với gia đình có thể xung đột với lòng trung thành với phe phái mình ủng hộ; lòng trung thành với nguyên tắc đạo đức có thể mâu thuẫn với sự sống còn; lòng trung thành với sự thật có thể gây nguy hiểm cho những người thân yêu. Bất kể con đường nào được lựa chọn, hắn đều phản bội điều gì đó thiết yếu đối với bản sắc của mình. Hành động lựa chọn không giải quyết được xung đột, nó vĩnh viễn bị đóng đinh vào tính cách của hắn.

 

Nội chiến cũng phá hủy chuẩn mực của sự rõ ràng về đạo đức. Trong lý luận đạo đức thông thường, trách nhiệm dẫn đến một khuôn khổ giá trị ổn định. Nội chiến phá vỡ khuôn khổ đó. Mỗi bên đều tuyên bố tính hợp pháp, công lý và sự cần thiết. Sự tuyên truyền, đe dọa, nỗi sợ hãi, lòng bất mãn, vv., làm méo mó nhận thức, khiến hắn gần như không thể biết liệu mình đang bảo vệ công lý và chính nghĩa hay đang phá hoại cho đất nước trở nên tan hoang. Người chọn một phe thường làm như vậy trong điều kiện bất ổn cực đoan, bởi biết rằng sự phán xét trong tương lai – bởi lịch sử hoặc bởi lương tâm của chính mình – có thể lên án hắn.

 

Một khía cạnh bi thảm khác là sự cưỡng bức được ngụy trang dưới dạng lựa chọn. Trong một cuộc nội chiến, trung lập thường bị xem là phản bội. Một con người có thể bị buộc phải chiến đấu không phải vì hắn tin tưởng, mà vì từ chối có nghĩa là chết, tù đày, gia đình bị liên lụy. “Sự lựa chọn” của hắn trở thành hành động sinh tồn chứ không phải niềm tin. Tuy nhiên, ngay cả hành động bị cưỡng bức cũng để lại hệ quả đạo đức. Hắn phải sống với những gì mình đã làm, ngay cả khi hắn chưa bao giờ thực sự muốn điều đó. Bi kịch xuất hiện ở đây từ khoảng cách giữa ý chí và trách nhiệm: hắn phải chịu trách nhiệm về những hành động mà hắn không thể nào tránh khỏi.

 

Chiến đấu trong một cuộc nội chiến thường đòi hỏi phải phi nhân hóa những người từng thân quen – những người nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng phong tục, cùng một lịch sử. Giết một kẻ thù như vậy gây ra vết thương sâu sắc hơn so với giết một người lạ, bởi nó hủy diệt một thế giới chung. Ngay cả khi mục đích là chính đáng, hành động đó vẫn làm xói mòn bản chất đạo đức của con người. Hắn không chỉ đối mặt với nguy cơ tử vong, mà còn đối mặt với nguy cơ trở thành một người vong thân không thể nào hoàn toàn hòa giải với con người trước đây của mình.

 

Nội chiến cũng đặt ra một lựa chọn bi thảm giữa hành động và tội lỗi. Hành động là tham gia vào bạo lực và bất công; không hành động là cho phép bạo lực và bất công hoành hành không kiểm soát. Điều này phản ánh một vở bi kịch Hy Lạp cổ điển, trong đó mọi hành động có thể đều vi phạm một giá trị thiêng liêng nào đó. Con người bị mắc kẹt trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, nơi hắn làm gì hay không làm gì đều có tội như nhau. Bi kịch của hắn không phải là hắn lựa chọn sai lầm, mà vì cái thế giới hắn ở bên trong đã được cài đặt để bất kỳ chọn lựa nào cũng sai lầm.

 

Cái bi kịch ấy không chấm dứt sau khi chiến tranh kết thúc. Con người phải sống trong một xã hội có những ký ức khác biệt so với hắn. Người chiến thắng viết nên lịch sử; người thua cuộc mang theo sự im lặng. Những hành động từng được ca ngợi là anh hùng có thể sau này bị coi là tội ác, hoặc ngược lại. Hòa giải đòi hỏi sự quên lãng, nhưng lương tâm lại chống lại sự xóa bỏ. Con người trở thành một mâu thuẫn sống – vừa là người tham gia vừa là người chứng kiến, vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm – không thể hoàn toàn biện minh hay hoàn toàn hòa giải. Theo nghĩa này, lựa chọn bi thảm của con người trong chiến tranh không phải là một khoảnh khắc mà là một trạng thái tê liệt kéo dài suốt đời. Nó tiết lộ một sự thật cơ bản về đời sống đạo đức của con người dưới áp lực cực đoan: rằng bi kịch không phát sinh từ sự yếu đuối về tính cách, mà từ những tình huống mà trật tự đạo đức tự thân sụp đổ. Nội chiến cho thấy sự mong manh của đạo đức, và cái giá phải trả để giữ được nhân tính khi lịch sử không cho phép ai có được một đôi bàn tay sạch sẽ và sự minh triết trong sáng.

 

Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về của nhà văn Nguyễn Viện (hay bất cứ một cuốn sách lịch sử cũng như văn học nào về chiến tranh Việt Nam) với tâm trạng như trên.

 

4.

 

Cuộc chiến nào cuối cùng rồi cũng kết thúc, nhưng gã Thạch Xung không tìm được nơi chốn an thân mà vẫn tiếp tục cuộc trốn chạy.

 

Thời chiến tranh lúc chạy về thành phố, gã gặp lại Thị, và khi biết ra hai người là anh em cùng cha khác mẹ, gã xem Thị như người em gái. Thị được xem là hoa khôi trong các chốn ăn chơi có lính Mỹ lui tới và được một người lính Mỹ tên James yêu thương lấy làm vợ. Thị theo anh ta về Mỹ sinh sống. Thạch Xung cũng gặp một cô gái tên Mimi Đen, một cô gái lớn lên trong thời loạn, sống buông thả, bất cần. Cô gái bám chặt gã trong bất kỳ cảnh huống nào, dù là khi gã đội lốt tu hành. Cuộc sống như bào ảnh. “Không phải sống, cũng không phải chết. Một cảnh giới vượt thoát mọi giới hạn, nhưng không phải niết bàn, mà chỉ là nhất thể hoá ba la mật, chân như thực tại.” (Tiểu đoạn 10: Đào thoát).

 

Cuộc sống ấy, như chúng ta đều biết, là một cuộc sống không có ngày mai, ngay cả khi đất nước thống nhất, hòa bình trở lại, khi xã hội đầy bất công, phi lý, khi con người bị phân biệt đối xử như súc vật. Gã vẫn sống với Mimi Đen, cả hai bươn chải kiếm sống, tình yêu ấy vẫn còn, nhưng là một thứ tình yêu bị đầu độc.

 

Tình yêu để kết sinh hoa trái nhưng tình yêu đã bị đầu độc. Bản năng và khao khát làm mẹ của Mi bị bóp chết nhưng nàng không dám ép Thạch Xung, bởi nàng biết hiện tại của họ mong manh bất trắc, mà tương lai thì không ai dám tin.” (Tiểu đoạn 13: Đường dài).

 

Cứ thế diễn tiến, phần I của cuốn tiểu thuyết chấm dứt với những nốt nhạc đượm buồn, chua xót trong câu nói của Thạch Xâm: “Chiến tranh hay hoà bình, lịch sử hay cuộc sống vẫn là cái cối xay thịt.” (Tiểu đoạn 13: Đường dài).

 

Trong phần II của cuốn tiểu thuyết, Thạch Xung từ chủ thể ngôi thứ ba trở thành ngôi thứ nhất, và lúc này đã là một ông già bảy mươi tuổi. Từ hòa bình tới chiến tranh rồi trở lại hòa bình, nhưng bao giờ ông cũng cảm thấy bị mắc kẹt giữa gọng kềm của kiếp sống. Hòa bình là một cuộc chiến khác không tiếng súng. Thế rồi, ông tự an ủi rằng dẫu sao ông sống sót, và ông tìm về sống trong ngôi làng Rume xưa cũ của ông. Rất khó khăn cho ông làm thế, không chỉ vì tiền bạc mà còn bởi một ký ức mà ông muốn xóa nhòa. Trở về ngôi làng xưa là một cách thế hòa giải với chính con người ông, bởi nó chính là món bảo vật linh thiêng nuôi dưỡng tâm hồn ông suốt đời người. Tôi đã gìn giữ cái huyền hoặc ấy cho suốt cuộc đời mình như một thứ gia bảo. Đồng thời, tôi cũng bị dập vùi trong hiện thực khốc liệt của con người, một cách trần trụi nhất mà tôi không thể trốn chạy, dù tôi luôn trốn chạy.” (Tiểu đoạn 1, Phần II: Ký ức của mùi).

 

Lúc này Mimi Đen đã qua đời, Thị sống ở bên kia đại dương, những người thân yêu chẳng còn ai, ông Thạch về quê cũ Rume mua đất, dựng nhà làm lại từ đầu. Ngày ngày ông đi chăn bò, trồng rau, trồng cây, sống với những người dân quê lam lũ nhưng chân chất. Ông cũng vui vì có người bạn già, ông Giải phóng, vốn là người theo cách mạng dạo trước nhưng bị đánh bật ra ngoài như bao kẻ khác. Ông tạm ổn trong tuổi già, tự an ủi bằng ý nghĩ, “Con người có thể tàn ác, bất chấp… nhưng tính người sẽ không bao giờ mất đi.” (Tiểu đoạn 3, Phần II: Mùi ở chân mây). Ông an phận, vui với cuộc sống bình dị nơi thôn dã cho dù một hôm cơ ngơi của ông bị nhà nước nhân danh sự phát triển kinh tế cho xe ủi đất đến ủi bằng, cướp sạch. Ông chỉ cười, tự giễu, “… Tôi chỉ là kẻ trốn chạy. Luôn luôn trốn chạy. Nên chẳng chẳng làm gì ra hồn.” (Tiểu đoạn 5, Phần II: Mùi chuột đồng).

 

Ông Thạch cũng vui vì có một tình yêu khác với người phụ nữ thông minh lịch lãm tên Lữ Thảo, nhưng Lữ Thảo đến đến đi đi và cuối cùng cô đi luôn, không bao giờ trở lại. Chẳng còn thiết tha chạy theo cuộc sống nữa, ông dựng một cái am tre mãi tận thượng nguồn xa vắng của dòng suối, đêm đêm gõ mõ tụng kinh. Niềm an ủi sau cùng là trong những ngày cuối đời ông có người đàn bà quê mùa gốc Miên săn sóc ông, chính cô là người viết hai chữ THẠCH XUNG lên mộ chí của ông bên bờ suối. Kết thúc một đời người.

 

5.

 

Cuốn tiểu thuyết được viết với một văn phong bàng bạc tính hiện thực huyền ảo, đôi khi như phi thực, tuy không sử dụng những thủ pháp hiện đại như siêu hư cấu hoặc dòng ý thức. Chủ yếu của cuốn tiểu thuyết vẫn là miêu thuật một câu chuyện. Câu chữ mạnh mẽ, có lúc sống sượng, như muốn lột tả tính cách tàn bạo của điều muốn thuật. Cấu trúc truyện được viết theo tự sự biên niên, có những đoạn chuyển mạch bất ngờ. Bối cảnh truyện là lịch sử nhưng không đi sâu vào biến cố, cũng không đào sâu tâm lý nhân vật. Tự sự được sử dụng như những nét chấm phá trên một toàn cảnh dàn trải rộng lớn, và những chấm phá tự sự đó nối kết nhau để tạo nên mặt dệt của cuốn truyện.

 

Nhà văn Nguyễn Viện có tham vọng tóm gọn một đời người trong cuốn tiểu thuyết trên bốn mươi nghìn từ ấy, từ lúc sinh ra đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi. Cuốn tiểu thuyết là khúc giao hưởng buồn bã nói lên toàn bộ sự phi lý của kiếp người. Sống là trốn chạy. Sống trong thất lạc. Mọi chọn lựa đều vô nghĩa, đều đem đến cho bản thân sự hủy diệt.

 

Tự thân cuộc sống vốn là vô nghĩa, nó dửng dưng với ta một cách phi lý. Câu hỏi mang tính hiện sinh là, ta phải làm gì khi đối đầu với nó. Triết gia Jean-Paul Sartre có câu trả lời rất giản dị và dễ hiểu: Bởi hiện thể đi trước bản thể, điều đó có nghĩa là sự quan tâm hàng đầu cho mỗi cá nhân là chính cá nhân đó – một con người (“hiện thể”) độc lập trong hành động và có trách nhiệm, có ý thức – không phải cái gì thuộc về nhãn hiệu, vai trò, khuôn mẫu, định nghĩa, hoặc những phân loại ước định khác gán ghép lên cá nhân đó (“bản thể”). Đời sống thực sự của cá nhân mới đích thực là cái cấu tạo nên “chân bản thể” của hắn, không phải một bản thể do kẻ khác tùy tiện áp đặt lên hắn, định nghĩa hắn là gì. Do đó, con người, xuyên qua ý thức bản thân, kiến tạo nên giá trị cho chính mình và định hình một ý nghĩa cho cuộc sống.

 

Nói cho cùng, sống là đấu tranh và cuộc đấu tranh không hẳn là toàn bộ câu chuyện.

 

Chúng ta không ngừng cố gắng vượt qua cuộc sống bởi vì sự đấu tranh gắn liền với ý nghĩa. Nỗi đau, những nỗ lực và sự bất định là cái giá phải trả cho việc quan tâm đến điều gì đó – sự sống còn, tình yêu, sự phát triển, phẩm giá. Nếu không có gì quan trọng, sẽ không có đấu tranh… nhưng cũng sẽ không có lý do để thức dậy mỗi sáng.

 

Sự đấu tranh là bằng chứng của giá trị. Chúng ta không chiến đấu vì những điều vô nghĩa đối với mình. Chính việc cuộc sống cảm thấy khó khăn có nghĩa là có điều gì đó quan trọng trong đó.

 

Hơn nữa, chúng ta được tạo hóa ban cho hy vọng. Về mặt sinh học và tâm lý, con người được tạo ra để tìm kiếm sự giải thoát, sự cải thiện và những khả năng – ngay cả sau thất bại. Hy vọng không phải ngây thơ; nó là khả năng thích nghi.

 

Sự phát triển chỉ xảy ra khi có sự kháng cự. Sức mạnh vật thể, kỹ năng, tính cách, trí tuệ – tất cả đều hình thành bởi vì có điều gì đó chống lại.

 

Những khoảnh khắc quý giá bù đắp cho sự nỗ lực. Niềm vui, sự kết nối, vẻ đẹp, tiếng cười, tình yêu – những điều này không xóa bỏ nỗi đau khổ, nhưng chúng khiến nỗi đau khổ trở nên đáng chịu đựng.

 

Chính sự lựa chọn là sức mạnh. Ngay cả khi chúng ta không thể kiểm soát hoàn cảnh, việc lựa chọn cách phản ứng mang lại cho cuộc sống cảm giác chủ động thay vì chỉ đơn thuần là chịu đựng. Chúng ta không vượt qua cuộc sống để chiến thắng nó, mà để tham gia vào cuộc sống. Để nói rằng, “Tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn đang lựa chọn.”

 

Và đôi khi, vào những ngày khó khăn hơn, câu trả lời đơn giản và nhẹ nhàng hơn: Chúng ta cố gắng bởi vì việc dừng lại, bỏ cuộc, là cái gì tồi tệ hơn là tiếp tục.

 

Khác với nhân vật Billy Pilgrim, trong cuốn tiểu thuyết Lò sát sinh số Năm của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut, từ chiến trận trở về tâm trí trở nên không bình thường, sống với những giấc mơ hoảng loạn, Thạch Xung của Nguyễn Viện may mắn hơn. Sau chừng ấy khổ đau và tuyệt vọng, ông vẫn tỉnh táo tìm được niềm vui an tĩnh ở cuối đời và có cái chết tương đối êm ả. Ta còn mong muốn gì hơn thế?

 

– Trịnh Y Thư

(California, Trọng Đông, 2026)

 

*

 

Có những kẻ đi mãi không về

Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện

Nhân Ảnh xuất bản

Giá US$20.00

Sách có bán trên amazon.com. Xin bấm vào đường dẫn sau:

 

Amazon.com: Có Những Kẻ Đi Mãi Không Về (Vietnamese Edition): 9798295678660: Vien, Nguyen: Books