Ngôn Niệm
- Vân tự vô tâm
- Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần
- Vạn phương đa nạn
- Đê đầu tư cố hương
- Cựu quốc kiến thanh sơn
- Bạch vân vô tận thì
- Nghĩa tình
- Vô Cùng Thương Tiếc
- Chu Văn An, thơ chữ Hán
- Nguyễn Trãi, thơ chữ Hán
- Nguyễn Du, thơ chữ Hán
- Vũ Hoàng Chương
- Với niên trưởng
- Với bạn văn
- Với cộng đồng
- Hình ảnh
- Hình ảnh 2
- Trao đổi ý kiến
- Xướng Họa với Thân Hữu
- Hạt Cát - Bạch Vân
- Minh Phương
- Ngôn Niệm Ôn Kỳ
- Ngô Thế Vinh
- Nguyễn Duy Chính
- Nguyễn thị Mỹ Ngọc
- Trần Hữu Thục
- Phạm Xuân Hy
- Trần Mạnh Toàn
- Trúc Chi Tôn Thất Kỳ
- Trịnh Y Thư
- Việt Dương
- Trần Từ Mai
- TRANG MỚI
Sunday, September 13, 2026
V.N.: CUNG TÍCH BIỀN Một Người Anh, Một Người Viết
Nhà văn Cung
Tích Biền (1936-2026)
Có những người ta biết từ lâu mà vẫn tưởng như còn
có thể gặp lại vào một sáng Chúa nhật nào đó. Vẫn là quán cà phê quen thuộc, vẫn
những khuôn mặt quen thuộc, vẫn những câu chuyện văn chương không đầu không cuối.
Người ấy có thể hôm nay vắng mặt vì bận việc, vì đau chân, vì đi chơi xa, hay
chỉ vì ngại ra đường. Ta không nghĩ rằng đó là lần cuối cùng.
Đó
là anh Cung Tích Biền của tôi.
Theo
thông tin của gia đình, anh sinh năm Bính Tý 1936, cùng tuổi với giáo sư Trần
Huy Bích. Tuy nhiên trong những buổi họp mặt, có khi anh khai sinh năm 1938 bằng
anh Phạm Phú Minh, hay thậm chí 1940. Có lẽ anh không muốn làm ra vẻ mình cao
tuổi nhất trong bàn. Hai người đều là những bậc đàn anh mà tôi kính trọng,
nhưng mỗi người một vẻ. Nếu anh Bích là người của chữ nghĩa Hán học, của thư tịch,
của khảo cứu và những cuộc chuyện trò có thể kéo dài từ một chữ trong câu thơ đến
cả một thời đại văn học, thì Cung Tích Biền lại là người của văn chương trải
qua nhiều dâu bể của thời cuộc, một nhà văn đã sống, đã viết, đã im lặng, rồi lại
viết, và sau cùng vẫn đứng đó như một chứng nhân của một thời đại nhiều biến động.
Anh
đã có một vị trí riêng trong văn đàn Việt Nam từ trước năm 1975. Bút hiệu Cung
Tích Biền xuất hiện từ năm 1966 trên tuần báo Nghệ Thuật, rồi những truyện của anh lần lượt xuất hiện trên nhiều
báo và tạp chí văn học ở miền Nam. Sau những năm dài gần như gác bút, anh trở lại
với văn chương, và tiếp tục viết trong nhiều thập niên. Người đọc ở trong nước
cũng như ở hải ngoại đều biết đến tên tuổi anh.
Nhưng
đối với tôi, Cung Tích Biền trước hết không phải là một cái tên trong lịch sử
văn học. Anh là một người anh. Và có lẽ vì vậy mà tin anh ra đi đến với tôi
trong một hoàn cảnh lạ lùng đến nỗi tôi cứ thấy lòng mình ngẩn ngơ.
…
Một ngày “trùng cửu”
Ngày
9 tháng 9 vừa rồi, chúng tôi vẫn đùa nhau gọi là ngày “trùng cửu”. Cũng là ngày
sinh nhật nhà thơ Thành Tôn. Anh em văn nghệ chúng tôi làm một cuộc họp mặt nho
nhỏ tại Phở Gà Dakao vào buổi trưa, vừa ăn vừa chúc mừng sinh nhật anh Thành Tôn,
rồi lại như thường lệ, nói đủ chuyện trên trời dưới đất: sách vở, văn chương,
những người quen cũ, những chuyện ngày xưa mà nói mãi vẫn chưa hết.
Theo
lịch trình, hôm ấy anh Cung Tích Biền và chị Hoàng Kim đang đi cruise nên chúng
tôi không mời. Chẳng ai nghĩ gì khác. Người đang đi chơi thì cứ để người ta đi
chơi. Anh em gặp nhau hôm nào chẳng được.
Nào
ngờ, trong lúc chúng tôi đang vui vẻ tán gẫu thì anh đã ra đi, vào lúc 12 giờ
25 phút. Chỉ cách chúng tôi một khoảng thời gian ngắn, mà bỗng nhiên xa nhau cả
một đời.
Tôi
không biết phải gọi đó là sự trùng hợp, hay một thứ nghịch lý nào của đời người.
Chúng tôi ngồi bên nhau, nói cười giữa một buổi trưa bình thường. Còn một người
anh thân tình thì lặng lẽ đi qua một cánh cửa mà không ai trong chúng tôi hay
biết.
Nếu
biết trước, có lẽ tôi đã mời anh. Nếu biết trước, có lẽ tôi đã nói với anh vài
câu. Nhưng đời sống không bao giờ cho người ta biết trước những cuộc chia tay.
Bởi
vậy, điều còn lại không phải là những lời chưa kịp nói, mà là những câu chuyện
đã nói từ lâu, những buổi sáng đã qua, những bữa cơm đã ăn, những lần gặp gỡ tưởng
như rất bình thường mà nay bỗng trở thành kỷ niệm.
…
Những sáng Chúa nhật ở Coffee Factory
Tôi
vẫn nhớ những buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory.
Ngày
ấy anh em văn nghệ tụ họp khá đông. Có khi bàn này nối sang bàn khác, người đến
trước ngồi chờ người đến sau, cà phê hết ly này đến ly khác mà câu chuyện thì
chẳng bao giờ hết.
Anh
Cung Tích Biền thường ngồi đó, hòa nhã, từ tốn. Anh không phải kiểu người nói
chuyện ồn ào để mọi người phải nghe mình. Anh nói với người này dăm ba câu, với
người kia vài câu. Có khi một câu chuyện tưởng đã xong rồi, anh lại góp thêm một
ý nhỏ, nghe tưởng như vu vơ mà ngẫm lại mới thấy có cái gì đáng nhớ.
Biết
tôi thích cổ văn và Hán Nôm, anh thỉnh thoảng lại kéo tôi vào một câu chuyện chữ
nghĩa.
Anh
có cái thú của người đọc nhiều: gặp một điển tích cũ thì nhắc lại, gặp một
thành ngữ nhiều người hiểu sai thì sửa lại cho vui. Không phải lúc nào anh cũng
giảng giải dài dòng. Nhiều khi chỉ một câu nói tếu mà làm cho người nghe nhớ cả
đời.
Có lần
anh nói về thành ngữ “loan phụng hòa minh”. Anh giải thích chữ minh 鳴 ở đây là tiếng hót, tiếng gáy của
chim; “loan” và “phụng” cùng cất tiếng hòa nhau, chứ không phải chữ minh 明 là sáng. Rồi anh lại pha một câu đùa rằng có người
còn hiểu thành chữ 冥,
thế là từ “minh” thành ra... dốt!
Anh
nói tỉnh bơ, làm tôi bật cười.
Những
câu chuyện như thế có thể không phải là những điều lớn lao. Nhưng đời sống của
một người đôi khi lại được làm nên bởi chính những điều nhỏ bé như vậy. Một câu
chuyện bên ly cà phê, một chữ Hán được giải thích, một tiếng cười giữa những
người cùng yêu chữ nghĩa — rồi đến một ngày, người kể câu chuyện ấy không còn
ngồi ở chiếc bàn quen thuộc nữa.
Ta mới
hiểu mình đã mất đi một điều gì.
…
Cái chủ quan đáng yêu của một bậc trưởng thượng
Anh
là người hòa nhã, nhưng dĩ nhiên, như mọi bậc đàn anh, anh cũng có cái chủ quan
của... bậc trưởng thượng.
Tôi
nhớ một lần trong buổi ra mắt sách của anh Bùi Vĩnh Phúc. Tôi chỉ cho anh xem bài
Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và bản dịch
tiếng Anh trong sách. Bản dịch mà anh Bùi Vĩnh Phúc đưa ra trong sách khá ngô
nghê, và cái ngô nghê ấy lại được anh ghi nhận một cách hóm hỉnh. Tôi bật cười.
Anh
Cung Tích Biền liền nói đại ý: “Bài ấy đã
có bản dịch rất hay của Witter Bynner rồi. Dịch lại làm chi.”
Tôi
không tiện phản đối một bậc đàn anh. Nhưng trong bụng tôi nghĩ: chuyện văn
chương đâu phải lúc nào cũng đơn giản như thế.
Một
bài thơ hay không phải chỉ có một bản dịch hay. Ngay trong tiếng Việt, riêng
bài Hoàng Hạc Lâu đã có biết bao bản
dịch của Ngô Tất Tố, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Khương Hữu Dụng,
Bùi Khánh Đản, Vũ Hoàng Chương... rồi không biết bao nhiêu bản khác nữa, kể cả
những bản phiếm dịch, ngẫu dịch, dịch chơi cho vui.
Vậy
thì tại sao người ta lại dịch lại?
Bởi
vì người dịch không chỉ dịch bài thơ. Nhiều khi người ta dịch chính mình.
Một
bài thơ đọc ở tuổi hai mươi không giống bài thơ ấy đọc ở tuổi năm mươi. Một câu
thơ khi còn trẻ có thể chỉ là câu thơ; đến lúc tóc đã bạc, nó bỗng có thêm một
tầng nghĩa của chia lìa, của thời gian, của những người đã mất.
Ngay
chính tôi, thỉnh thoảng cũng dịch lại, hoặc viết phiếm luận về Hoàng Hạc Lâu. Tôi nghĩ anh cũng hiểu điều
đó. Người ta viết lại một bài thơ cũ đôi khi không phải để người khác đọc. Mà để
nhìn lại mình.
Có lẽ
vì thế mà những bài thơ nổi tiếng nhất của nhân loại vẫn tiếp tục được dịch, được
đọc, được giảng, được viết lại. Mỗi thế hệ có một cách nhìn; mỗi tuổi đời có một
cách hiểu.
Và mỗi
người đọc, sau cùng, lại tìm thấy mình trong một câu thơ của người xưa.
…
Một câu chuyện rất đời
Tôi
cũng nhớ những bữa cơm gia đình khi anh chị ghé nhà tôi cùng một số thân hữu.
Chị
Hoàng Kim kể chuyện quá trình học ở Cal State Fullerton. Anh ngồi bên cạnh, có
lúc ghé tai tôi nói nhỏ:
“Hồi
ở Việt Nam, chị mày lấy xe gắn máy chở tao đi uống cà phê.”
Tôi
bật cười.
Chẳng
phải chuyện văn chương gì cả.
Chỉ
là một mẩu chuyện của đời sống.
Nhưng
nó làm hiện ra cả một quãng đời khác: Việt Nam ngày trước, những con đường cũ,
chiếc xe gắn máy, những quán cà phê, những người hàng xóm, những bạn bè văn nghệ.
Khi ấy anh chị là hàng xóm của chị Ý Nhi.
Có
những người cả đời viết hàng ngàn trang sách, nhưng đôi khi một câu nói rất ngắn
về chiếc xe gắn máy năm nào lại khiến người nghe hình dung được cả một thời.
Có lẽ
đó cũng là cái duyên của một người viết: sống qua những chuyện rất bình thường,
nhưng trong trí nhớ lại giữ được cái bóng của một thời đã mất.
…
Những cuốn sách chưa số hóa
Khoảng
năm 2010, anh có lần ngỏ ý nhờ tôi giúp số hóa sách vở của anh ngày xưa.
Thời
ấy các chương trình OCR còn rất sơ khai. Những bản sách in typo cũ, giấy xấu,
chữ nhòe, scan lại có độ phân giải thấp — máy đọc chữ gần như chịu thua. Muốn
làm cho ra hồn thì phải sửa từng trang, từng chữ.
Tôi
lúc ấy còn bận chuyện mưu sinh. Mà công việc thì quả thật... khó quá. Đành phải
từ chối anh.
Tôi
đề nghị anh nhờ anh bác sĩ Hoàng Hưng hoặc nhờ bạn bè bên Việt Nam đánh máy lại.
Tôi nghĩ cách ấy vừa nhanh hơn vừa đỡ tốn kém. Anh nghe lời và anh đã làm. Rồi
từ đó, hết cuốn này đến cuốn khác, những tác phẩm cũ của anh được đánh máy, sửa
chữa, tái bản. Một đời viết tưởng như nằm yên trong những chồng sách cũ lại được
đưa trở về với người đọc.
Mỗi
khi tái bản được dăm ba đầu sách, anh chị lại tổ chức một buổi ra mắt ở Coffee
Factory.
Tôi
nhớ những buổi như thế.
Anh
ký tặng sách cho thân hữu. Người ta đến không chỉ để mua sách, mà còn để gặp
anh, gặp bạn bè và nghe chuyện văn chương. Chị Hoàng Kim lại trổ tài nấu nướng,
thế là một buổi ra mắt sách nhiều khi trở thành một buổi họp mặt gia đình lớn.
Có
người mua một cuốn. Có người mua vài cuốn. Có người mua để đọc, có người mua để
làm kỷ niệm. Nhưng tôi nghĩ sâu xa hơn, người ta mua sách của anh vì muốn giữ lại
một phần đời văn chương ấy trong tủ sách gia đình.
Sách,
trong trường hợp này, không chỉ là sách.
Nó
là ký ức.
…
Một đời đứng giữa những biến động
Cung
Tích Biền là một trường hợp đặc biệt trong văn học Việt Nam hiện đại.
Ông
trưởng thành trong chiến tranh, từng sống ở những phía khác nhau của lịch sử, từng
khoác áo lính, từng mang lon đại úy trước khi giải ngũ năm 1973, từng giảng dạy,
từng viết văn trong một thời kỳ mà văn chương miền Nam phát triển mạnh mẽ. Sau
năm 1975, ông ở lại Việt Nam, có một thời gian dài gần như gác bút, rồi trở lại
với văn chương vào những năm sau đó…
Những
năm tháng ấy không phải chỉ là những mốc trong tiểu sử. Chúng là những năm
tháng đã đi vào văn chương của ông.
Bởi vậy,
đọc Cung Tích Biền không thể chỉ đọc câu chữ. Phải đọc cả cái bóng của lịch sử
đứng phía sau câu chữ.
Có
những nhà văn được thời đại nâng lên. Có những nhà văn bị thời đại vùi xuống. Có
những người may mắn được lịch sử đối xử nhẹ tay. Và cũng có những người phải sống
rất lâu với những câu hỏi mà thời đại để lại.
Cung
Tích Biền thuộc về thế hệ đã đi qua một trong những đoạn lịch sử khốc liệt nhất
của đất nước. Nhưng điều đáng kể là sau tất cả những biến động ấy, ông vẫn còn
giữ được một thứ mà người viết cần nhất: tiếng nói riêng của mình.
Ông
không chỉ viết để kể chuyện. Ông viết để đối thoại với đời sống. Và đôi khi, để
đối thoại với chính mình. Có lẽ vì thế mà văn chương của Cung Tích Biền vẫn còn
người đọc sau nhiều chục năm. Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với một
nhân vật, một ý tưởng, một cách nhìn của ông. Nhưng khó thể phủ nhận rằng đó là
tiếng nói của một người đã sống rất sâu trong thời đại mình.
…
Một người anh vừa đi xa
Tôi
vẫn nghĩ về buổi trưa ngày 9 tháng 9. Chúng tôi ngồi ở Phở Gà Dakao, chúc mừng
sinh nhật Thành Tôn, nói cười và tán gẫu. Nếu lúc ấy có ai nói với tôi rằng chỉ
ít phút sau anh Cung Tích Biền sẽ ra đi, chắc tôi không thể tin được.
Con
người ta thường tưởng rằng những người mình quen biết vẫn còn đó. Anh Cung Tích
Biền vẫn còn đó trong ký ức tôi: một buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory; một
câu chuyện về chữ 鳴;
một câu nói tếu về chữ “minh”; một cuộc tranh luận về chuyện dịch Hoàng Hạc Lâu; một bữa cơm gia đình; một
lần anh nhờ số hóa sách; những buổi ra mắt sách ở Coffee Factory; những cuốn
sách được chuyền tay nhau; và giọng nói từ tốn của một người anh.
Có
những người để lại cho đời một thư mục tác phẩm. Có những người để lại một thư
mục ký ức.
Cung
Tích Biền để lại cả hai.
Và đối
với tôi, có lẽ thư mục ký ức ấy mới là điều khó mở ra nhất, bởi mỗi lần mở lại,
tôi lại thấy một người anh đang ngồi đâu đó, bình thản nói chuyện với người này
vài câu, người kia vài câu; rồi bất chợt quay sang tôi, nhắc một chữ Hán, một
điển tích, một thành ngữ mà thiên hạ vẫn hiểu lầm.
Tôi
sẽ còn nhớ câu chuyện về “loan phụng hòa minh”. Bởi từ nay, chữ 鳴 ấy đối với tôi không chỉ còn là tiếng
chim hót. Nó còn là tiếng nói của một người anh. Một tiếng nói đã từng vang lên
giữa những buổi sáng cà phê, giữa những cuộc chuyện trò văn chương, giữa một cộng
đồng những người cầm bút xa quê.
Rồi
một ngày, tiếng nói ấy bỗng im. Nhưng văn chương thì không im. Những trang sách
vẫn còn đó. Những cuốn sách anh đã nhọc công cho tái bản vẫn còn đó. Những câu
chuyện anh kể vẫn còn đó. Và những người từng ngồi bên anh, như tôi, sẽ còn kể
lại. Để một người viết không chỉ được nhớ vì những gì anh đã viết, mà còn được
nhớ vì anh đã từng sống giữa chúng ta như thế nào.
Anh
Cung Tích Biền đã đi rồi.
Nhưng
trong một buổi sáng Chúa nhật nào đó, nếu tôi lại ngồi ở Coffee Factory, tôi biết
mình vẫn sẽ vô thức nhìn sang chiếc ghế quen thuộc, như chờ một người anh đến
trễ.
Và
có lẽ trong một lúc nào đó, giữa câu chuyện của bạn bè, tôi sẽ lại nghe như có
tiếng anh từ đâu đó:
“Chữ
ấy là 鳴, không phải 明 đâu!”
Rồi
tôi sẽ cười.
Và
nhớ anh.
V.N.
Wednesday, September 9, 2026
NGÔ THẾ VINH : VIỄN KIẾN MÔI SINH CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG
Cách đây chín năm, bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” https://vietecologypress.blogspot.com/2017/01/mua-xuan-tay-tang-va-cau-chuyen-nhung.html
Từ ngót bốn thập niên trước, khi biến đổi khí hậu chưa trở thành một ám ảnh của nhân loại như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma , đã nói tới Tây Tạng không chỉ như quê hương của một dân tộc mất quyền tự quyết, đang bị Hán Hoá mà còn như một hệ sinh thái có tầm quan trọng đối với cả châu Á. Trong nhãn quan của ông, hòa bình, quyền con người và bảo vệ thiên nhiên không phải ba vấn đề riêng biệt, chúng liên hệ với nhau và cuối cùng quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người có thể tồn tại lâu dài hay không nếu chính môi trường nuôi sống mình đang bị hủy hoại?
Nhìn lại những lời cảnh báo ấy, sau thảm họa kinh hoàng xảy ra tại vùng biên giới Nepal–Tây Tạng mới đây (ngày 26 tháng 8 năm 2026), người ta khó tránh khỏi cảm giác rằng đó không chỉ là một triết lý Phật giáo về sự tương tác giữa con người và thiên nhiên. Nó còn mang dáng dấp của một viễn kiến môi sinh.
Từ một chương trình chính trị tới một tầm nhìn sinh thái
Ngày 21 tháng 9 năm 1987, tại Washington D.C., Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra Kế hoạch Hòa bình Năm Điểm cho Tây Tạng (Five-Point Peace Plan for Tibet). Điều đáng chú ý là trong năm đề nghị ấy, ông dành hẳn một điểm cho việc, phục hồi và bảo vệ môi trường thiên nhiên Tây Tạng.
Hai năm sau, trong Diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình ngày 11 tháng 12 năm 1989, tư tưởng ấy được ông trình bày rõ ràng và rộng hơn. Ông đề nghị toàn cao nguyên Tây Tạng có thể trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên hay sinh quyển khổng lồ, nơi việc khai thác tài nguyên phải được kiểm soát chặt chẽ, các hệ sinh thái phải được bảo vệ và phát triển phải theo hướng bền vững.
Ông hình dung Tây Tạng như một vùng mà con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại trong hòa bình và quân bình.
Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1980, phải nói đây là một ý tưởng đáng chú ý. Khi ấy khái niệm biến đổi khí hậu / climate change chưa chiếm vị trí trung tâm trong chính sách quốc tế như ngày nay; những thuật ngữ như sông băng đang thu hẹp / glacier retreat, sự tan băng vĩnh cửu / permafrost thaw, lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood hay Cực Thứ Ba / Third Pole... chưa xuất hiện hàng ngày trên báo chí thế giới.
Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn thấy một nguyên lý quan trọng hơn những thuật ngữ khoa học ấy: thiên nhiên không tuân theo biên giới chính trị.
Trong diễn văn Nobel năm 1989, ông nói đại ý rằng những gì xảy ra tại một nơi trên thế giới có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Chiến tranh hay hòa bình, phá hủy hay bảo vệ thiên nhiên, nghèo đói hay thịnh vượng không phải những hiện tượng biệt lập mà liên hệ với nhau ở nhiều tầng mức.
Gần bốn mươi năm sau, Himalaya đang chứng minh nguyên lý ấy bằng một ngôn ngữ khốc liệt hơn: băng, đá, nước và những dòng lũ.
Tây Tạng: “Tháp Nước Châu Á”
Cao nguyên Tây Tạng cùng hệ thống Hindu Kush–Himalaya thường được nhìn như một “Tháp Nước Châu Á / Water Tower of Asia.” Đây là vùng băng tuyết lớn nhất bên ngoài hai địa cực, nên cũng thường được gọi là “Cực Thứ Ba / Third Pole.”
Từ vùng núi cao này phát nguyên hoặc được nuôi dưỡng bởi băng tuyết nhiều hệ thống sông ngòi.
Hình 2: Những con sông lớn Châu Á bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng
Bởi vậy, một biến đổi xảy ra ở độ cao 5.000 hay 6.000 mét không nhất thiết kết thúc ở đó.
Một phân tử nước tan ra từ băng tuyết Himalaya có thể bắt đầu một hành trình rất dài, qua núi cao, thung lũng, biên giới quốc gia, những hồ chứa và đập thủy điện, rồi cuối cùng trở thành một phần của dòng sông nuôi sống những đồng bằng đông dân cách nơi nó khởi nguồn hàng ngàn cây số.
Đó chính là ý nghĩa sinh thái sâu xa của khái niệm phụ thuộc lẫn nhau / interdependence.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026: khi cả một sườn núi chuyển động
Thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026 đem lại một minh họa kinh hoàng cho tính mong manh của hệ sinh thái ấy.
Những phân tích ban đầu từ ảnh vệ tinh cho thấy một khối khổng lồ gồm đá, băng và trầm tích từ vùng núi cao đã sụp xuống thung lũng. Theo các nhà khoa học được Reuters tham khảo, phần dưới của một glacier ở độ cao khoảng 5.200 mét đã rơi xuống đáy thung lũng thấp hơn khoảng 1.200 mét, kéo theo một khối lượng rất lớn đá, băng, bùn và nước.
Điều đặc biệt đáng chú ý là tín hiệu địa chấn ban đầu từng khiến người ta nghĩ tới một trận động đất. Nhưng Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho rằng tín hiệu ấy có thể chính là năng lượng do khối đá và băng khổng lồ sụp xuống tạo ra, chứ không phải một trận động đất thông thường gây nên vụ sạt lở.
Một khi khối vật chất ấy lao xuống, thảm họa không còn giới hạn tại nơi sông băng / glacier bị phá vỡ.
Nước, đá, bùn và băng tràn vào hệ thống Bhote Koshi–Trishuli. Có nơi mực nước phía hạ lưu được báo cáo tăng tới khoảng 9 mét chỉ trong vòng 30 phút.
Đó là tốc độ của một tai biến gần như không cho cộng đồng phía dưới thời gian phản ứng.
Đến ngày 7/9/2026, Reuters ghi nhận ít nhất 1.380 người thiệt mạng và hơn 5.500 người còn mất tích tại Nepal và Tây Tạng; hàng trăm công nhân tại các dự án thủy điện nằm trong số những người chưa tìm thấy.
Nhưng phía sau những con số tử vong ấy còn có một câu hỏi lớn hơn:
Điều gì đang xảy ra với Himalaya?
Không thể quy mọi thảm họa đơn giản cho biến đổi khí hậu
Ở đây cần một thái độ khoa học thận trọng.
Không thể chỉ vì một thảm họa xảy ra giữa thời đại hâm nóng toàn cầu / global warming mà lập tức kết luận rằng climate change là nguyên nhân duy nhất.
Các nhà địa chất đang tiếp tục nghiên cứu chuỗi diễn biến của tai biến ngày 26/8. Một phân tích cho rằng một vụ sạt lở đá khổng lồ có thể đã cuốn theo sông băng / glacier; nguồn gốc của lượng nước cực lớn trong dòng bùn đá / debris flow vẫn còn những điểm chưa được giải thích hoàn toàn. Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng ở độ cao này, sự tan vỡ của tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / permafrost, có thể làm giảm độ ổn định của sườn núi, nhưng việc quy kết một biến cố cụ thể cho khí hậu cần thêm nghiên cứu.
Sự thận trọng ấy rất cần thiết. Nhưng cũng không thể bỏ qua một bức tranh lớn hơn đã ngày càng rõ.
Các sông băng / glacier Himalaya đang mất băng nhanh chóng. Reuters dẫn dữ liệu Liên Hiệp Quốc cho biết các núi phủ tuyết Nepal đã mất gần một phần ba lượng băng trong hơn ba thập niên, và tốc độ tan sông băng / glacier trong thập niên gần đây nhanh hơn đáng kể so với thập niên trước đó.
Khi nhiệt độ tăng, không chỉ sông băng / glacier thu nhỏ. Tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / Permafrost tan. Sườn núi mất ổn định. Hồ băng hình thành và lớn dần. Những con đập thiên nhiên bằng băng và trầm tích băng hà / moraine trở nên mong manh. Mưa cực đoan có thể tác động lên một địa hình vốn đã bất ổn.
Những nguy cơ trước kia nằm riêng rẽ bắt đầu chồng lên nhau.
Và khi chúng hội tụ, một tai biến địa phương có thể trở thành một thảm họa dây chuyền / cascade disaster.
Một nghịch lý của phát triển: thủy điện cũng đứng trên đường đi của lũ
Thảm họa Nepal còn phơi bày một nghịch lý khác.
Các con sông Himalaya có tiềm năng thủy điện khổng lồ. Những quốc gia nghèo miền núi cần điện năng, đường sá và phát triển kinh tế. Nhưng chính các công trình ấy lại thường được xây trong những thung lũng hẹp, nơi dòng nước bị tập trung và cũng chính là hành lang của lũ quét, dòng bùn đá / debris flow và lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood.
Trong thảm họa 2026 vừa qua, nhiều dự án thủy điện bị ảnh hưởng nặng; hàng trăm công nhân mất tích hoặc bị kẹt trong các đường hầm.
Bởi vậy, câu hỏi không thể giản lược thành “phát triển hay không phát triển.”
Câu hỏi đúng hơn phải là:
Phát triển ở đâu, phát triển tới mức nào, và cái giá sinh thái mà các thế hệ sau phải trả là bao nhiêu?
Đó cũng chính là điều Đạt Lai Lạt Ma đã đặt ra từ cuối thập niên 1980 khi ông không phủ nhận nhu cầu phát triển kinh tế, nhưng nhấn mạnh rằng việc thác tài nguyên phải được điều tiết để không phá hủy hệ sinh thái, và phát triển phải mang tính khai thác bền vững.
Hình 3: Bahrabise Bazar, Nepal trước và sau trận lũ ngày 26 tháng 8, 2026 do sông băng lở giết chết hàng ngàn người, với hàng ngàn người khác còn mất tích. (Ảnh Wikimedia Commons)
Những dòng sông không mang sổ thông hành
Đây có lẽ là phần hiện đại nhất trong viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Biên giới quốc gia được con người vẽ trên bản đồ.
Đường phân thủy thì do địa hình vẽ.
Một sông băng / glacier không biết mình thuộc Trung Quốc hay Nepal. Một hồ băng không biết phía dưới nó là Tibet, Nepal, India hay Bhutan. Và khi một con đập thiên nhiên vỡ, dòng lũ không dừng lại ở trạm biên phòng để xuất trình sổ thông hành.
Thảm họa Nepal–Tây Tạng năm 2026 vì vậy không chỉ là một thảm họa của Nepal hay Tây Tạng. Nó là một cảnh báo / wake-up call cho toàn vùng Hindu Kush–Himalaya và những quốc gia hạ nguồn.
Ngày nay hàng tỷ con người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hệ thống sông bắt nguồn hay được nuôi dưỡng từ vùng cao nguyên này.
Trong một thế giới khí hậu đang thay đổi, an ninh nguồn nước cũng trở thành an ninh xuyên biên giới.
Và từ Himalaya nhìn xuống Mekong và ĐBSCL
Đối với Việt Nam, bài học ấy không hề xa vời.
Mekong cũng bắt nguồn từ vùng cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc rồi Myanmar, Lào, Thái Lan, Cam Bốt trước khi tới Đồng bằng Sông Cửu Long và chảy ra Biển Đông.
Dĩ nhiên, không thể vạch một đường nhân quả trực tiếp từ thảm họa Nepal tới Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hai hệ thống địa lý khác nhau, với cơ chế thủy văn khác nhau.
Nhưng chúng thuộc cùng một bức tranh sinh thái lớn của châu Á.
Ở thượng nguồn là băng tuyết, khí hậu và những biến động của “Cực Thứ Ba / Third Pole”. Ở trung lưu là những hồ chứa khổng lồ của chuỗi đập thủy điện ở Vân Nam Trung Quốc và Lào và sự điều tiết nguồn nước ngày càng lớn do tham vọng của con người. Xa hơn về phía nam là Biển Hồ Tonlé Sap với nhịp đập lũ / flood pulse theo mùa vốn quyết định sức sống của Biển Hồ. Và cuối dòng là Đồng bằng Sông Cửu Long, một đồng bằng thấp đang đồng thời chịu áp lực của thiếu phù sa, sụt lún, xâm nhập mặn và nước biển dâng.
Tất cả không phải một chuỗi nhân quả đơn giản.
Nhưng tất cả nhắc chúng ta về cùng một nguyên tắc:
Không một đoạn sông nào thực sự đứng riêng lẻ một mình.
Một lời cảnh báo từ gần bốn thập niên trước
Trong Diễn từ Nobel Hòa Bình năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ một hành tinh nhỏ bé, nhân loại phải học cách sống hòa bình với nhau và với thiên nhiên. Theo ông, đó “không chỉ là một giấc mơ mà là một điều cần thiết.”
Ngày ấy, lời nói ấy có thể được nghe như tiếng nói của một nhà lãnh đạo tinh thần.
Sau những gì đang xảy ra với các sông băng / glacier Himalaya, người ta có thể đọc lại nó như một lời cảnh báo sinh thái.
Và sau ngày 26 tháng 8 năm 2026, câu nói ấy có thêm một hình ảnh cụ thể: một khối núi và glacier từ độ cao hơn 5.000 mét sụp xuống, biến thành một dòng thác băng, đá, bùn và nước lao xuyên qua những thung lũng, xóa đi những công trình con người tưởng là kiên cố, để lại phía sau hàng ngàn sinh mạng mất tích.
Đó chính là ý nghĩa sâu xa của cụm từ tương thuộc / interdependence, có nghĩa là phụ thuộc lẫn nhau. Con người và thiên nhiên; Thượng nguồn và hạ nguồn; Một quốc gia và những quốc gia láng giềng; và thế hệ hôm nay và những thế hệ chưa ra đời: tất cả đều tương thuộc.
Viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma vì thế không phải là lời tiên tri rằng một ngày nào đó Nepal sẽ có một trận đại hồng thủy. Giá trị của nó sâu xa hơn thế: ông đã sớm nhìn thấy rằng sự an toàn của con người trên “Nóc Nhà Thế Giới” và sự toàn vẹn của môi trường thiên nhiên là hai mặt của cùng một vấn đề sống còn.
Thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026 mới đây đã biến nguyên lý ấy từ một suy tưởng đạo lý thành một thực tại địa-vật lý đầy tang tóc.
Và đối với Việt Nam, chúng ta ở cuối nguồn sông Mekong, khoảng cách hơn 4500 km theo dòng chảy, Cao nguyên Tây Tạng tưởng như một thế giới xa xôi; nhưng băng tuyết tan trên “Nóc Nhà Thế Giới” ấy và số phận của ĐBSCL lại nằm trong cùng một hệ thống thủy văn Mekong. Những gì xảy ra trên “Nóc Nhà Châu Á” không bao giờ chỉ ở lại trên "ngọn đỉnh trời" Himalaya ấy.
NGÔ THẾ VINH
California 09.2026
Friday, September 4, 2026
TRẦN MẠNH TOÀN: Có chăng Bùi ngữ trên ngàn ?
Bùi Giáng tiếp xúc với thế giới chúng ta bằng ngôn ngữ của riêng ông. Điều
mà những người đọc ông không ngạc nhiên tuy rằng việc xác nhận như thế có thể
mãi mãi đặt họ vào thế xa cách thêm với nhà thơ.
Cao Huy Khanh, một trong số ít người cố tìm ra con đường gặp gỡ nhà thơ,
cho rằng, “Đọc Bùi Giáng thì không thể
nói là “hiểu” hay “không hiểu” được, hơn nữa đó lại là một chữ khó lòng được
tác giả chấp nhận.” ( Cao Huy Khanh, Khởi
hành tuyển tập mùa Xuân Nhâm Tý 1972, tr.33.) Nói theo họ Cao, con đường
đến với Bùi không là ý thức mà là nỗ lực của trực giác và liên tưởng của người
đọc đối với khối lượng to lớn ngôn ngữ của Bùi có lúc được tuôn trào như lượng phún xuất. Ngôn ngữ ấy chỉ trở
thành thứ “biệt ngữ” hay “đặc ngữ” của Bùi khi người đọc tiếp tục giữ khoảng cách
với thơ Bùi với thói quen của người đi trên đường vắng. Như thế, không riêng gì
Bùi mà họ - người đọc ông - cũng trở thành người độc hành trong sự trễ nải,
biếng nhìn trước những điều diễn ra trước mắt. Thế giới chúng ta trước mắt Bùi
là cách hình dung bằng ngôn ngữ theo cách thể hiện riêng của người thi sĩ. Sự
xa cách mà theo thời gian ngày một trầm
trọng giữa thi nhân với chúng ta, tạo nên sự gia tăng mức đối nghịch giữa
hai đối tượng trước cùng một thực tại. Những phạm trù tỉnh /say, cuồng / thức, mê / trí, làm nên ranh giới cách biệt
một cách dễ dàng nhưng xuồng xã.
Mấy “phạm trù” ngôn ngữ của Bùi mà
Cao Huy Khanh lấy làm tiêu biểu: Phố Thị, Gái Chiêm Bao, Đười Ươi, để thử viết
lại bằng ngôn ngữ của Cao, cũng là một cố gắng đưa người đọc đến gần hơn với
Bùi, và như thế, gián tiếp xem thơ Bùi là thứ ngôn ngữ cần giải tích, tựa như
một thứ quặng vừa khai quật, một nguyên liệu thô còn chờ đợi tay người.
Cái cách tiếp xúc như trên với thơ Bùi quả thật có hiệu quả đối với một số
người. “ Nơi Phố Thị Đìu Hiu, nơi Cố Quận
mịt mù, nơi Hương Quan chập chờn bóng nhạn, nơi Cố Quốc mây trắng theo đàn...,
làm sao về được nơi đó, chốn quê hương nghìn đời ấp ủ một vết thương, làm sao
đưa tôi tới đó, vùng kỷ niệm một đời yên nghỉ, làm sao cho tôi về lại trên bậc
thềm nhà cũ nhìn trong sân hoa đào nở mà chợt nhớ ngày sau sẽ cưới em tình cờ.
Anh không nghe thấy sao trên trời mù một tiếng gọi đầm ấm của mùa xuân sau, anh
không nghe thấy sao từ ngoài biên ải vó ngựa chạy xôn xao một tiếng gọi thân
tình về trong ly rượu dâng màu mắt ai, không nghe thấy
chăng nơi con chim nhạn kêu thương buổi tàn thu một tiếng gọi sầu thảm của cội
thông già đón bóng mặt trời...” (Cao Huy Khanh, Bùi Giáng Cải Lương Ca, Văn, gp, 18.5.1973, tr. 58,59).
Từ ngữ của Bùi chứa đựng không chỉ ngần ấy ý tình, hay “phố thị” của Bùi
trở nên một gợi ý triền miên từ một chốn chỉ còn trong mơ ước.
Bởi vì thơ Bùi còn chồng chất một khối lượng ngôn ngữ vốn là thứ chướng
ngại không chỉ của sự cảm thông hay hòa ý. Không chỉ là mây Bình Nguyên, trăng Châu Thổ, ghềnh Kỷ Nguyên, sương Tỳ Hải, bờ Tồn
Sinh, bờ Trần Gian, sa mạc phát tiết, cồn hoa trút lá, ngõ ban sơ, lời cố quận, hạnh
ngân dài... mà là mỗi từ ngữ lọt vào cơn hồng thủy của thơ Bùi đều có nghĩa
của sự ký danh, thác danh hay hài danh. Ngữ nghĩa mới này là đầu mối của sự dị
biệt về cái nhìn vào thơ Bùi và quan trọng hơn, đặt thơ Bùi trước ngã ba, một hình ảnh do chính ông hình
dung (Bùi Giáng, Câu Chuyện Hôm Qua, Văn,
gp, 18-5-1973, tr.80.) Và cũng chính từ vấn đề ngữ nghĩa này, mà có người như
Nam Chữ đã cho rằng trong tác phẩm, họ Bùi đã “nỗ lực không ngừng trong tinh thần phát huy một lối Ẩn Ngữ Riêng Biệt
“ (Bùi Giáng, Về Cố Quận, Văn, sđd. tr.52.) Nhưng cho là ẩn ngữ hay mật ngữ, nói cho
cùng, cũng là cách để ngỏ vấn đề mà thời gian dường như càng góp thêm lớp bụi
gián cách, ngày một xa dần ý định tìm kiếm chìa khóa giải ẩn. Ở nhiều mức độ
khác nhau, thơ thường được xem là môi trường cần thực hành những bài học giải
ẩn, đặc biệt với những bài thơ được liệt vào hàng khai phá. Thơ của nhóm Xuân Thu
Nhã Tập, gần hơn, một số bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, trở thành cần thiết
để đặt thành đối tượng khám phá theo ý nghĩa trên, hơn là vội đi đến kết luận
mà phần lớn thuộc về cảm tính. Bùi Giáng, ở vào vị thế đặc biệt hơn, vì cả văn
thơ lẫn con người, ý thơ lẫn thần thức, vẫn còn là ẩn số, là dáng người thấp thoáng tan dần trong sương sớm. Thân như ảo mộng đi dài ngõ thuôn.
(Sa Mạc Trường Ca).
(*) “Hương màu tri âm” thuộc loại thơ Nhị thập bát tú trong
tập Ngồi Quán của Vũ Hoàng Chương,
được ghi tặng Bùi Giáng 25.12.1968
Biết nhau từ thuở nhuốm rừng
phong
Trắng cành mai chẳng phai dòng
thơ xưa
Mai còn giáng bút, hương đưa
Màu thăng hoa, tuyết còn thưa
cuối trời.
Giữa bầu khí cổ võ xung đột,tranh chấp, tập thơ Rừng Phong của Vũ Hoàng Chương ra đời vào thời điểm đó (1954) và
gặp phản ứng gay gắt trong dư luận. Chỉ riêng
Bùi Giáng trong tạp chí Thẩm mỹ. Sài
gòn lên tiếng bênh vực bằng việc minh giải quan niệm và thái độ của Vũ trước
cuộc đời và trong sáng tác (Bùi Giáng, Nhân đọc Rừng Phong, Thẩm mỹ, 1954, in lại trong tạp chí Văn, Sài gòn, số 150, 15.3.1970, tr.
46-53).
---------------------------------------------------------
bàn chân em đẹp hãy dừng đây
suối chảy bờ quanh mượt cỏ dày
đón đợi niềm về cùng cây lá
nguyên màu xanh thủa đã từ xưa...
(Mộng Hồn Suối Kể, Giáo dục phổ thông,
Sài gòn, số xuân Canh Tý 1960, tr.24).
Thiên nhiên thuở ấy đã tượng hình trong thơ Bùi theo cách riêng của thiên
tài. Thực tại là hòa âm của thực tại với
lý tưởng. (Hoàng Châu Thanh, Thiên Nhiên Trong Thi Ca Holderlin, Thế kỷ hai mươi, số 6, tháng 12.1960,
tr. 55). Và cũng theo quan niệm trên, thiên nhiên trở thành một thế lực chi
phối sự vận hành cũng như tương quan trong thực tại. Thiên nhiên không còn là
hình ảnh phụ thuộc tâm tình con người chứng kiến hay chịu sự ràng buộc mà tráng
lệ, huy hoàng như một quyền năng. Quyền năng đó đã định hình vĩnh cửu trong tâm
hồn Bùi những hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh của ràng buộc không rời. Những,
Thơ có còn chảy dưới chân em /
Từng ngón chân em dẫm cỏ mềm / Có gửi ý niềm cùng cỏ
mượt / Nhìn về sim thắm ở đồi xa.
Ngôn ngữ Bùi, kết quả ưu thắng của một hồn thơ, rút cuộc, cũng là đầu mối
của bao ngộ nhận và đánh giá nghiệt ngã. Ngôn ngữ ấy, dẫu làm người đọc ngạc
nhiên, bối rối, sững sờ vẫn nên xem là bằng chứng sự bất lực trong việc giãi
bày, thể hiện, ngoại trừ thơ mà khả năng của nó cứu vãn trong muôn một. Nhiều
lần ta thấy Bùi thí nghiệm trên những loại văn xuôi, nhưng rõ rệt vẫn chỉ là
những bài tập phóng túng đơn thuần. “
Ngôn ngữ là lời, hỡi ôi! bởi đâu mà
tái tạo cõi ? Âm thanh là tiếng, hỡi
ôi ! bởi đâu mà tái lập con đường?
Con đường dẫn tới nơi nào, hỡi ôi! bởi đâu mà thành ra chốn ? Chốn nọ vì sao, hỡi ôi ! mà bỗng dưng nhiếp dẫn lối đi về
cho tồn lưu phiêu bồng tự chân trời ngẫu nhiên bước vào trong lưu trú ? Lưu trú là gì, hỡi ôi ! bởi
đâu mà biến làm trong cõi sương tuyết có trăm năm ? Trăm năm là gì, hỡi ôi !
bởi đâu mà biến làm vạn thuở ? Vạn thuở ở lại trong phút giây sau phút, hỡi ôi
! bởi đâu mà đam mê ? Đam mê quay cuồng trong gắn bó, hỡi ơi ! bởi đâu mà thân
thiết rằng trăm năm cũng từ đây ? Từ
đây không xê dịch bao giờ, hỡi ôi ! bởi đâu mà bỗng chốc bỏ ra đi...” ( Rằng Từ
Ngẫu Nhĩ (II), Giữ thơmq quê mẹ, tập
2, tháng 8-1965, tr. 63).
Rốt cuộc chỉ có thơ. Thơ phản ảnh trung thực một trạng
thái tinh thần đồng vị với sự gãy đổ trầm trọng trong nhiên giới của Bùi. Ngôn
ngữ phải gánh vác sự mất quân bình và từ đây hình thành thế giới thơ Bùi không
chỉ về mặt hình thức. Nhân danh thơ, ngôn ngữ của Bùi đã có yếu tính của một
thứ ma thuật, buộc người ta phải bỏ lại, quên đi cái minh triết của ngôn ngữ
đời thường. Một thứ cháo lú khiến những người làm quen với thơ Bùi dễ dàng buông
xả những luật tắc của ngôn ngữ, của ngữ nghĩa, khi mà dưới mắt người đọc, những
hàng chữ sau chỉ là biểu thị những chấn động khuynh đảo thần trí, là tiếng nói
lăng nhăng vô nghĩa thay cho chữ viết của kẻ lạc thần tự mình đi vào cơn say
dài dặc. “ Hốt xuất hồng hiên sương tuyệt
cái / Sai kình cưỡng mạch lục tồ lam “ ( bđd. tr.61).
Nhưng, ngôn ngữ còn sót lại trong cơn đảo điên thần trí là ngôn ngữ nhập
thần sau cái rùng mình bỏ lại dấu vết những cái sa đà.Thơ không là thế giới
riêng duy nhất của Bùi nhưng là thế giới mà ngôn ngữ hiển lộng một cách”thịnh
phồn” mà người làm thơ có thể đạt tới. Văn xuôi, chốn mà Bùi đã đặt chân với sự thỏa hiệp phóng túng một
cách không ngờ cũng là địa bàn tung hoành của ngôn ngữ đặc thù. Nơi mà Bùi có
thể rộng tay gieo rắc “ngôn ngữ” như sai khiến âm binh, lấy lời thay cho chữ. Đến mức có người nghĩ rằng : “Tất cả để chỉ thể hiện một Bùi Giáng nói chứ không phải là viết. Bởi vì đạt đến trình
độ của một tác giả (cái chữ tác giả ở đây coi bộ cũng không đủ, không đúng,
không xứng !) như Bùi Giáng thì có thể nói là sự nói đã đi nhanh và cần thiết
hơn sự viết. Mà hễ đã nói thì nói đủ chuyện, đủ cách, đủ mọi hình thức.” ( Khởi hành, Tuyển Tập mùa Xuân Nhâm Tý 1972, tháng 1.1972, tr.33).
Như thế, nói cũng là cách để xem
văn của Bùi là sự ruồng rẫy mọi ràng buộc của thể văn. Cái bóng ma khoa học rập rình, từ đó len lỏi vào mọi cõi tồn sinh lĩnh
vực của con người. (Rằng Từ Ngẫu Nhĩ, sđd. tr. 61).
Văn Bùi gần gũi cơn tiêu trầm của thần trí, và tiêu thổ đăm chiêu, bộc lộ
phần tiềm thức bấy lâu chìm sâu trong thói quen của người cầm bút.
Chỉ khi nói lên bằng chữ viết, Bùi mới có cơ hội trình bày quan điểm về
thơ, về công việc của người thi sĩ. Và dường như đó cũng là điều nhà thơ đã tận
tụy cống hiến cho đời. “ ...thi sĩ thiên
tài là cái kẻ tái tạo trong thanh âm, thiết lập thịnh triều trong ngôn ngữ”
(Rằng Từ Ngẫu Nhĩ, sđd. tr. 62). Theo
thi sĩ, tài thơ quy tụ vào việc sáng tạo không khí của âm điệu và thể hiện sự
phong phú bóng bẩy của ngôn ngữ. Dù hiểu theo nghĩa nào, đây cũng là con đường
tìm đến thơ Bùi bằng chính sơ đồ do nhà thơ vạch sẵn. Âm điệu, ngôn ngữ là hai thành tố trong thơ Bùi, ngoài ra chẳng
cần tìm kiếm gì khác. Âm điệu là bầu khí để ngôn
ngữ được phát huy thêm diệu vợi. Phần còn lại là ngôn ngữ mà người làm thơ được
trông đợi làm nên kỳ tích. Có thể quan niệm như trên, ngôn ngữ Bùi sử dụng đã hình
thành một ma trận không lường, có đủ hình thức biến ảo nằm ngoài quy luật
thường thấy trong thơ hay văn. Ngôn ngữ trở thành phương tiện để nhận diện văn
thơ Bùi, đối lại, khiến Bùi có mặt giữa đời như một tác nhân gây nên một trật
tự mới cho văn thơ, hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất.
Như thế, đọc thơ (văn) Bùi là tham dự vào việc xây dựng những thành tố mới
cho ngôn ngữ thơ (văn) và bằng những thử thách gan dạ nhất. Bằng sự sắp xếp lại
ngôn ngữ dưới ảnh hưởng của sự dao động thần trí khó giải thích, Bùi đã lập
thành một cõi văn chương kỳ dị không kém cơn mê sảng của người say. Ngôn ngữ bị
xô đẩy miên man trong nỗi thảng thốt trước một sự thật không lý giải được vì
người trong cuộc khước từ sự can thiệp lý tính và chấp nhận mãnh lực của tiềm
thức. Tiềm thức làm nên trong khí hậu thơ lục bát và đạt tới điểm trùng lặp
trong truyện Kiều . “ Không biết. Thưa
rằng không biết. Câu chuyện Gia Tĩnh chạy lộn chiều, gặp đủ thứ gió rừng trận nổi
cơn ở một chân trời không khí. Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ. Đem cầm kỳ đổi
ra kỳ cuộc. Đem kỳ cuộc đổi ra vạn lý hà sơn. Đem vạn lý hà sơn đổi làm nhân
sinh nhứt giác mộng. Đem nhứt giác mộng đổi làm đoạn trường. Đem đoạn trường
tấu lại tân thanh. Đem tân thanh xô vào bạc mệnh. Đem bạc mệnh gán vào hồng
nhan. Đem hồng nhan ghép cho kỹ nữ. Đem kỹ nữ tôn lên ngai vàng. Biến Nữ Vương
thành Hoàng Hậu. Đổi Hoàng Hậu làm Hoàng Thiên Thu. Hoàng Thiên Thu bỗng đo ra
vạn đại.” (Rằng Từ Ngẫu Nhĩ, sđd. tr. 68).
Theo quán tính, văn (thơ) Bùi phải
trải qua sự dằng co giữa lý tính và cảm tính, trải qua sự xung đột trong ngữ
nghĩa, trước khi đạt được sự dàn xếp nào đó giữa người đọc. Trường hợp Bùi
không phải là trường hợp đầu tiên và duy nhất dành cho người cầm bút. Thơ (văn)
Bùi ở ngã ba tư tưởng nên người đứng tại ngã ba luôn tưởng rằng thơ (văn) Bùi ở
vị trí như họ nghĩ. Có lúc thơ Bùi là sự kết hợp ngôn ngữ không kể khác biệt.
Không mới lạ nhưng nói lên xu hướng biểu thị sự giao thoa giữa những ý thơ đến
tự muôn ngả. Cách phối hợp trong văn chương có vẻ thô sơ như thế chỉ nói lên
một điều, là tâm hồn Bùi dung dị, đơn sơ như những đối tượng mà Bùi thường so
sánh: chuồn chuồn, châu chấu, gái mọi...
“ Herbes et roseraises natales !
Ungedachte ! vous avez peur
Des Entrées nocturnes fatales
Cái điều bạc mệnh...tel est le
coeur
Ngại ngùng dín gió e sương
Liễu yêu bài động như dường đã phai
Ngừng hoa bóng thẹn mặt dày
Phong tình vạn chủng cuối mày sắp
tan
Lệ lên đầu mắt một hàng
Ainsi commencent les grands
malheurs “
(Rằng Từ Ngẫu Nhĩ (II), sđd. tr. 67).
Nhưng cho dầu cách phối hợp trên chỉ có giá trị một gợi ý. Điểm then chốt
làm nên tài thơ là sự sáng tạo và mức độ đạt được ra sao tương tự trường hợp
các người làm thơ thành công khác.
Sự thành công, ít ra về mặt biểu kiến, trong trường hợp Bùi Giáng là tính chất đặc thù của một hồn
thơ mà kết quả nhìn nhận nằm trong một tiến trình thẩm mỹ khá lâu dài.
Xuất hiện vào giai đoạn cuối cuộc xung đột Việt-Pháp nhưng hào quang của
những nỗ lực tranh giành vẫn còn ít nhiều tia sáng. Bùi Giáng đã tỏ ra có thái
độ phải chăng hơn thái độ chung của phần lớn thế hệ nhà thơ khi tìm ra cho mình
một thái độ minh triết trước thời cuộc và trong sự xô đẩy mạnh mẽ của ngọn
triều “ý thức quần chúng”. Giữa xu hướng cổ xúy phục vụ cho nhiệm vụ chung,
điển hình là nhóm chủ trương tủ sách Chân
trời mới tại Sài gòn, Bùi Giáng đã có cái tỉnh táo khác thường của con
người chân thực, bảo vệ cho quan điểm sống và cho cả quan niệm sáng tác của
người nghệ sĩ. “ Giữa sóng đời vồ
vập,đừng đánh lạc mất tấm lòng mình.” (Bùi Giáng, Nhân đọc Rừng Phong, Thẩm mỹ, Sài gòn, 1954, in lại trong Văn, Sài gòn, số 150, 15.3.1970). Bênh
vực cái nhìn xa lánh thế sự của Vũ Hoàng Chương như là sự lắng lòng để thương
đời truân chuyên, Bùi Giáng, thực sự, đã tự biện hộ cho xu hướng sáng tác cho
chính mình trong viễn ảnh sự bênh vực cho cái nhìn độc lập trong sáng tác. Bùi
trong tâm thức rỡ ràng của người nhìn thấu hoàn cảnh khác nhau của người cầm
bút, của người nghệ sĩ trong nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm phức tạp, đã
minh nhiên giữ vững lòng tin về một quan niệm viết phù hợp với con người. “ Chương (Vũ Hoàng) sống đời cô độc, để lắng
rõ lòng mình, gửi lại cho đời lời kêu tha thiết, chịu đứng lại giữa bóng tối để
rọi đường cho thế hệ tiến lên. Vấn đề chỉ là biết thu nhận bài học hay không.”
(Bùi Giáng, bđd. tr. 52).
Như thế, chủ trương cầm bút của họ Bùi đã có một cách độc lập không do hoàn
cảnh thúc đẩy
Quan điểm ấy càng tỏ rõ trong giai đoạn sáng tác sau năm 1954, khi mà hoàn
cảnh đã đổi khác, ý thức của người cầm bút dần dần thành hình rõ rệt, cũng như
sự đề kháng áp lực tự bên ngoài đã nẩy
nở trong vô thức. Trước sau gìn giữ cho mình một quan niệm độc lập về sáng tác
bên cạnh những biến cố đổi dời, tâm hồn Bùi không dễ dàng bị khích động như thế
nhân trước những manh động thời thế.
Các nhà làm văn học sử cố tìm kiếm
nguyên nhân đích thực dẫn đến sự thay đổi bút pháp của Bùi hầu xác định những
giai đoạn làm nên một cuộc đời thơ. Nhưng, đọc thơ Bùi người ta rõ rệt nhận ra
hơi thơ một mạch của cảm hứng và tứ thơ. Tình yêu với người yêu và với thiên
nhiên hòa quyện trong thơ Bùi một cách đằm thắm, nhẹ nhàng mà tha thiết như
sương mai nghĩa là tinh khôi và trong suốt tự ban đầu. Đến khi trắc trở nghĩa
là khi gặp mấy biến cố tinh thần và tình cảm dồn dập mà người viết sử cho văn
chương thường xem là sự khánh tận toàn diện của Bùi. Cái chết đột ngột của
người vợ trẻ và vụ cháy nhà thiêu rụi hầu hết gia tài tinh thần gồm bản thảo và
sách quý đã là nguyên nhân rõ rệt đẩy Bùi vào sự tuyệt thông với thế giới bên
ngoài, đồng thời khiến Bùi giao tiếp với văn chương qua ngả đặc biệt mà rõ rệt
nhất là tạo nên sự khúc xạ trong cái nhìn nơi người đọc.
Nội dung của cảm hứng và tứ thơ vẫn như xưa. Cái đổi khác hầu như chỉ ở
ngôn ngữ và cách diễn đạt mang dấu vết cuộc xung đột mãnh liệt giữa vô thức và
ý thức, giữa tiềm thức và nhận thức.
Như thế, thế giới thơ Bùi chỉ thực sự hình thành và như cơn hậu chấn của
hồn thơ chỉ xảy ra sau biến cố liên quan đến tinh thần và tình cảm. Sau biến cố
này, thơ Bùi tưởng như rùng mình, thoát hình, bỏ lại cái xác quen thuộc của
ngôn ngữ, và như một cách hóa thân trong một trạng thái kỳ dị cùng cơn phóng
túng của thần trí. Bùi đã tiến đến một thế giới mới, nửa như hồn nhiên, không
vướng bận điều gì, thênh thang với mây ngàn, nội cỏ. Ngôn ngữ là lúc được mùa,
như đồng cỏ sau mưa, như hồn sa mạc phát
tiết mưa ra ngoài.
Thơ trước biến cố trở thành một thứ tiền thân của ngôn ngữ Bùi. Nó nằm
trong khuôn phép và dường như không có dấu hiệu rõ rệt cho phép một sự đột biến hay khúc quanh ngoại trừ sự
nhiệt thành với đời được diễn tả một cách khác thường
tôi đã nguyện yêu trần gian trọn
vẹn
hết tâm hồn và hết cả da xương
(Phụng Hiến)
Biến cố đã lấy đi của Bùi cái dè dặt của người tỉnh nhưng không giành lấy
từ Bùi cái hồn nhiên rất mực của một tâm hồn trong suốt như sương sa. Dấu sơ nguyên rộng mây trèo cửa thu. (Sa
mạc phát tiết). Ngôn ngữ mới của Bùi không xuất phát từ gọt rũa thôi sao, hay
kết quả sự tinh luyện của ý thức mà trái lại. Ngôn ngữ Bùi là sự phối hợp dị kỳ
trong cơn bồng bềnh của thần thức. Màu tinh khôi của ngôn ngữ chính là vẻ sơ
khai của chữ nghĩa mới ra khỏi đầu môi như chính bản ngã của Bùi
xin chào giữ bước chân ra
chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn
ngậm ngùi gió nội lang thang
vân mồng rớt hột cung đàn phím se
(Xin Chào)
Chữ chưa kịp hội ý đã vội thành thơ. Lời chưa kịp chào đã vội rời bước để
lại trăm ngàn ngơ ngác cho người nhận.
Qua thi ca, ngôn ngữ (chữ nghĩa) nơi Bùi Giáng, trở thành thứ sản phẩm nửa
vời nghĩa là cần sự hợp tác (dù là bất đắc dĩ ) của người tiếp nhận.
Cao Huy Khanh có thể là người thứ nhất đặt vấn đề Bất Khả Tư Nghị trong
trường hợp họ Bùi,
khi thi nhân sử dụng “thứ ngôn ngữ dùng để nói lên những điều mà
không thể nói được” và từ đó “thành
lập thịnh triều của ngôn ngữ vô thanh vô túc trong nếp gấp Bất khả tư nghị của
vô ngôn.” (Bùi Giáng Cải Lương Ca
(II), Khởi hành, số 79,
12.11.1970). (*)
(*) Bùi Giáng, Cải Lương Ca là
tiểu luận phong phú hơn cả viết bằng ngôn ngữ đặc thù tương tự văn phong Bùi
Giáng.Tiểu luận trên của Cao Huy Khanh được đăng tải 2 kỳ liên tiếp trên tuần
báo Khởi Hành, số 78 ngày 5.11.1970 và số 79, ngày 12.11. 1970. Số 78 gồm các tiểu mục: Phố Thị, Gái Chiêm
Bao và Đười Ươi (tr. tr. 8.9.15.) Số 79 gồm các tiểu mục: Bất Khả Tư Nghị, Tại
Hạ, Tái Bút (tr. 6.7.10).
Phần được đăng tải trên giai phẩm Văn
(ra ngày 18.5.1973, tr. tr 54-65) dưới nhan đề Bùi Giáng, Cải Lương Ca chỉ gồm nội dung của bài được đăng tải
trong Khởi Hành, số 78 với 3 tiểu mục
nói trên, khác với chú thích dưới bài của tạp chí Văn.
------------------------------------------------------------------------------
Trần Mạnh Toàn.
Sunday, August 30, 2026
TRÚC CHI Tôn Thất Kỳ: PHÚ XUÂN THÀNH HOÀI CẢM
Bao lần Hưng phế
Công hầu đế bá là ai
Giòng Hương đỉnh Ngự
Xanh xanh sông núi còn dài
Mây côi vòng cổ lũy
Nhạn lẻ vút kỳ đài
Hương Bình phong cảnh cũ
Tân chủ mấy lần thay
Nào ai ai tỉnh ai say
Được thua thua được vần xoay thế cờ
Nắng mưa núi nọ còn trơ
Đìu hiu lau lách lững lờ giòng kia
Lơ thơ mấy lá đi về
Một câu mái đẩy trăm bề cảm thương
Chinh chiến thiêu tàn cây đỉnh Ngự
Phong ba nhồi đục nước giòng Hương
Thành lở bồi hồi niềm cảm cựu
Sen tàn ngao ngán nỗi tang thương
Kỳ đài cờ đổi bao nhiêu lá
Ngũ Phụng lầu trơ nét đế vương
Vàng phai son nhạt thôi thôi vậy
Lăng tẩm rêu phong dáng vẫn Rồng
Một thời Chiêm quốc hai triều Nguyễn
Công hầu đế bá chuyện thành không.
Núi Ngự không cây người trước khóc
Sông Hương nhuốm máu lớp mình thương
Một lần tiêu thổ tàn cung điện
Bia miệng nghìn năm rủa lũ cuồng.
Ai thiêu? ai phá? ai làm sử?
Riêng Huế thầm đau giữa đấu trường
Trường Tiền đứt đoạn cầu ba nhịp
Hai bờ duyên nối chuyến đò ngang
E ấp bao tình mùa phượng đỏ
Mà cũng ngậm ngùi bao dở dang
Cồn xinh bến cũ đâu người cũ
Lỗi hẹn đò xưa không thấy sang.
Đâu rồi Vỹ Dạ đài trang trước
Thơ Hàn Mặc Tử mấy vần buông
Chuyện kể hàng cau cùng nắng mới
Lá trúc... người xưa ôi vấn vương
Hoa bắp có lay hồn trẻ dại
Gọi dùm cái tuổi chớm yêu đương
Đông Ba Gia Hội thuyền chi chít
Bát cạy lừng vang cả khúc sông
Quà ngon đủ vị bày xinh xắn
Chén dĩa con con sắc trộn hương
Một chiếc tròng con chè đủ thứ
Đêm hè ngọt miệng khách thừa lương.
Nước non nghìn dặm câu ly biệt
Đời sau nhỏ lệ khóc công nương
Tàu chạy kéo neo từ buổi ấy
Ai người ngùi cảm thân phế vương
Non nước chạnh lòng thương thiếu đế
Há đem thành bại luận anh hùng
Chầu văn lơ lớ kêu ma dậy
Tưởng hồn Chiêm Quốc múa trong sương
Đêm tàn bến Ngự tân hòa cổ
Thần tình điêu luyện giọng Minh Trang
Chan chứa bao tình phong cảnh Huế
Êm đềm nét nhạc Nguyễn Văn Thương
Cố đô thi xã bao vần điệu
Dìu dặt còn vương trên giòng Hương
Kính Chỉ, Thảo Am, Thúc Giạ Thị
Khóc cười dâu bể mấy triều vương
Tùng, Tuy hai phủ dù hoang phế
Thơ giá còn treo thất thịnh Đường.
Tao nhân mặc khách đâu đâu tá
Nào đâu hào kiệt đâu anh hùng
Hưng phế tồn vong vô hạn cảm
Thị phi thành bại ai người thương
Có chăng Thiên Mụ chuông chiều sớm
Nhắc chuyện vô thường trên bến sương
Sớm chiều Thiên Mụ hồi chuông
Nhịp đưa kim cổ lớp tuồng đổi thay
Buồn vui trời đất còn dài
Tấc riêng gửi Huế chút này còn lưa.
TRÚC CHI Tôn Thất Kỳ
(Trang 30, Tuyển Tập Nhớ
Huế 1994)
CHÚ THÍCH:
MÂY CÔI…… đám mây lẻ loi, đơn chiếc
MỘT CÂU MÁI ĐẨY……mái đẩy là tên một điệu hò ngày trước vẫn thường nghe được trên sông Hương.
NGŨ PHỤNG: tên của kiến trúc ngay trên cửa Ngọ Môn hoàng thành Huế.
NÚI NGỰ KHÔNG CÂY…… khoảng vài năm sau 1945, thông trên núi Ngự chết hết, không ai biết lý do. Sau đó có câu được truyền tụng trong dân gian:
NÚI
NGỰ KHÔNG CÂY CHIM NGỦ ĐẤT
MỘT LẦN TIÊU THỔ TÀN CUNG ĐIỆN….. đêm 19 tháng 12, 1946 chính quyền đương thời đã phát động cuộc “tổng khởi nghĩa” chống Pháp. Họ áp dụng chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến “ (theo cách Liên Sô chống Đức trong thế chiến 2) dùng chất nổ phá hỏng và phá hủy nhiều cầu cống, nhiều đoạn đường xe lửa, kiến trúc khắp nước. Điện Thái Hoà, điện Kiến Trung và một số các điện khác trong Hoàng thành Huế đều bị phá hủy trong cuộc tiêu thổ kháng chiến này. Về sau báo chí Hà Nội nóirằng đó là hậu quả chung của bom đạn chiến tranh.
TRƯỜNG TIỀN ĐỨT ĐOẠN….. cầu ba nhịp…… cầu Trường Tiền ngang sông Hương có sáu “vài”, bị phá sập mất ba vài trong cuộc tiêu thổ kháng chiến trong lời chú trên đây.
LÁ TRÚC…. Thơ Hàn Mặc Tử trong bài nói về Vỹ Dạ ở Huế :
Vườn
ai mướt quá xanh như Ngọc
LÁ
TRÚC che ngang mặt chữ điền
HOA BẮP CÓ LAY….. cũng trong bài thơ viết về Vỹ Dạ ở chú thích trên, có câu
GIÒNG
NƯỚC BUỒN THIU HOA BẮP LAY.
BÁT CẠY…..là danh từ chuyên môn trong giao thông trên sông Hương thời chưa có thuyền máy. BÁT là bẻ lái thuyền qua tay phải, CẠY là lái sang tay trái.
MỘT CHIẾC TRÒNG CON…… TRÒNG là thuyền nhỏ thường được một phụ nữ chèo lái để bán quà như chè cháo, bánh bèo, nậm, lọc…..
NƯỚC NON NGHÌN DẶM….lời trong một bản Nam Bình kể chuyện Huyền Trân Công chúa, có câu “mượn màu son phấn đền nợ Ô LY ..
NON NƯỚC CHẠNH LÒNG … trong một câu hò được truyền tụng rộng rãi, mà tác giả là nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, nội dung ám chỉ vua Duy Tân, có câu
THUYỀN
AI THẤP THOÁNG TRÊN SÔNG
ĐƯA CÂU MÁI ĐẨY CHẠNH LÒNG NƯỚC NON
TÀU CHẠY KÉO NEO…..câu mở đầu trong lời của một bài NAM BÌNH, tương truyền ám chỉ chiếc tàu thủy đưa vua Thành Thái đi đày.
CHẦU VĂN… nhạc có lời thông dụng trong những buổi lên đồng ngày trước thường nghe được trên một cồn nhỏ trên sông Hương trước chợ Đông Ba.
ĐÊM TÀN BẾN NGỰ….tên một bài nhạc của Dương Thiệu Tước.
ÊM ĐỀM NÉT NHẠC…Nguyễn Văn Thương có viết bài Trên Sông Hương
KÍNH CHỈ, THẢO AM, THÚC GIẠ THỊ là ba thi nhân Kính Chỉ Phan Văn Hy , Thảo Am Nguyễn Khoa Vy và Ưng Bình Thúc Giạ Thị trong Hương Bình Thi Xã.
TÙNG
TUY HAI PHỦ…. THƠ GIÁ….
Tức
là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương. Tương truyền vua Tự Đức có hai câu:
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường
(Văn
của Nguyễn Văn Siêu hay hơn văn thời tiền Hán. Thơ Cao Bá Quát trội hơn thơ thời
Thịnh Đường)
