Thursday, May 7, 2026

Trịnh Y Thư: Xưa là giọt lệ nay là hạt châu

 


THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ QUA ĐỜI Ở TUỔI 86

 

Được tin nhà thơ Phạm Thiên Thư mới qua đời, thọ 86 tuổi, xin chép lại ở đây đôi dòng viết về ông như một nén tâm hương cầu nguyện hương hồn ông sớm về cõi Phật.

 

                                                                    *

 

Đối với tôi, chính thi sĩ Phạm Thiên Thư mới là người đưa thơ lục bát lên một cầu vực mới và cho nó cơ hội thêm một lần bung nở rực rỡ trong khu vườn văn nghệ Việt Nam.

 

Tôi yêu thơ  Phạm Thiên Thư từ khi còn là cậu trai Trung học tại quê nhà. (Lúc đó tôi bắt đầu biết làm thơ tán các cô bé xinh xinh và thơ tôi đặc sệt chất thơ của thi sĩ họ Phạm. Bạn bè bảo, “Thơ cậu nghe y chang thơ Phạm Thiên Thư.” Thế là ngay lập tức cái bút danh Trịnh Y Thư được bạn bè đẻ ra cho tôi.) Thế hệ tôi, lớn lên trong lửa đạn chiến tranh trên quê hương, sớm có ý thức về những đổ vỡ đớn đau và ít nhiều mang tâm trạng bi phẫn với thời đại, thường có xu hướng tìm quên trong thơ văn thoát tục mà điển hình là thơ của thi sĩ họ Phạm. Tuy thế, thơ của ông, nhất là lục bát, phải có cái gì khác mới đủ sức quyến rũ cả một thế hệ và ảnh hưởng của nó còn lan tỏa sang các thế hệ sau.

 

Nhà văn Võ Phiến, cũng trong bộ sách Hai mươi năm văn học miền Nam, phân tích thơ Phạm Thiên Thư xong, bảo thơ ông chuyên chở ba đề tài chính, lúc nào cũng quyện lẫn vào nhau, đó là: tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Ông đã hóm hỉnh gọi thi sĩ họ Phạm bằng cái tên rất ư “Võ Phiến”: tu sĩ đa tình.

 

Thơ Phạm Thiên Thư không thiếu những thi ảnh về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên, những thi ảnh thật đẹp, nhưng ý nghĩa của thơ thì thật khó cho chúng ta có một định hình rành rọt, tận tường nào. Ông là nhà thơ quan tâm nhiều đến chữ và cảm xúc do chữ đem lại. Ý nghĩa của thơ đậu lại trong tâm tưởng người đọc hay không, không là quan thiết hàng đầu. Đấy cũng là quan điểm về thơ của thi sĩ Octavio Paz khi ông viết trong cuốn Điện xoay chiều:

 

"Chủ yếu của thao tác thi ca là ngôn ngữ: bất luận sự tin tưởng cũng như niềm xác tín của nhà thơ là gì, điều hắn ta quan tâm đến là ngôn từ chứ không phải những điều ngôn từ này ám chỉ."

 

Nói như vậy, thi sĩ vĩ đại nhất của nền thi ca Mexico thời hiện đại không có chủ ý bảo vũ trụ thơ là hoàn toàn vô nghĩa hoặc ý nghĩa của nó chỉ là cái gì phụ thuộc. Mặc dù không thể tách rời ý nghĩa của thơ ra khỏi ngôn từ, nhưng chúng ta phải hiểu là tuy mỗi con chữ trong bài thơ đều có ý nghĩa của nó, giữa những con chữ cũng có một ý nghĩa hữu cơ nào đó, nhưng đừng đòi hỏi, gán ghép hoặc phán quyết một ý nghĩa tổng hợp nào ở ngoài bài thơ, cho dù đấy là một ý nghĩa bí nhiệm, phù huyền. Năm lớp 9, lớp 10, học văn, tôi hay nghe thầy cô bảo Truyện Kiều của Nguyễn Du là thi phẩm chứa đựng tâm trạng “hoài Lê” của cụ, bởi tuy ra làm quan cho triều Nguyễn nhưng cụ vẫn đau đáu thương nhớ nhà Lê. Bây giờ nhớ lại, tôi không đồng ý chút nào với quan điểm ấy, bởi hiểu như thế là chính trị hóa thi ca và chỉ khiến thiệt thòi cho những vần thơ trác tuyệt của cụ Nguyễn mà thôi.

 

Dẹp sang bên mọi ý nghĩa ngoại tại của thơ, chúng ta sẽ thấy cái hay của thơ Phạm Thiên Thư. Nó nằm ngoài mọi ý nghĩa, và lục bát của ông không lâm vào tình trạng lưỡng phân như rất nhiều nhà thơ khác. Không quan tâm đến ý nghĩa nữa, ngôn từ trong thơ ông mặc tình mặc ý tha hồ tung tỏa và người đọc tùy nghi chiêm mộ nó ở nhiều chiều kích khác nhau, mỗi chiều kích là một cung bậc cảm xúc, một cách cảm thụ riêng tư. Cánh cửa đi vào cõi thơ ở đây là cánh cửa thần cảm hay linh cảm chứ không còn là cánh cửa lý trí nữa.

 

Nói đến lục bát Phạm Thiên Thư mà không nhắc đến tính nhạc trong thơ ông là một thiếu sót nghiêm trọng. Cú điệu của thơ lục bát nói chung là êm nhẹ, du dương nhưng dễ nhàm chán. Biết rõ điều ấy hơn ai hết, thi sĩ họ Phạm đã dụng công biến tính nhạc trong thơ mình thành những âm điệu véo von. Véo von như ca dao nhưng thánh thót hơn và nếu phải so sánh với lục bát Nguyễn Bính thì “sang cả” hơn, như nhạc Mozart bên cạnh nhạc Salieri.

 

-- Trịnh Y Thư

 

Trần Thị Nguyệt Mai: Bùi Vĩnh Phúc, “Người Bạn” Thời Hoa Mộng


“Thời hoa mộng” với chúng tôi, nhóm bạn Tuổi Hoa còn giữ liên lạc với nhau sau nửa thế kỷ, là một “thời xanh với độ tuổi gọi là Tuổi Hoa, và dường như Tuổi Hoa không tàn theo năm tháng dù thân xác có già nua rồi bại hoại”, như Thương Nga thường bày tỏ.

Hương xưa mãi ngát trong hồn

Tuổi Hoa ngày cũ luôn còn trong tim

(Thơ Thương Nga)

 

Còn “Người bạn”, tại sao lại trong ngoặc kép? Xin thưa, nhân một dịp hạnh ngộ cùng nhà văn Nguyễn Lệ Uyên ở Tuy Hòa, anh ấy bảo, “Hồi xưa, bọn anh mỗi lần đọc bài của ai trên báo thì xem như là mình đã quen với người đó rồi. Đến lúc gặp nhau thì đối đãi như bạn”. Nếu kể như vậy thì tôi đã “quen” với Bùi Vĩnh Phúc từ thời xanh hoa mộng, lúc vừa tròn trăng.  Theo tôi biết, anh có thơ đăng báo từ năm 1968, 1969, tức là khi anh mới chỉ 15 hay 16 tuổi. Dưới đây là một trong mấy bài thơ đầu tiên của anh mà tôi được đọc:

 

đêm về miên man trên vùng tóc cỏ
gió bay rì rào trong lá cây đen
đứng gọi buồn để ướt cả áo len
em khẽ rùng mình
sao rơi lác đác

trong đám lá cây sao mà xào xạc

phải gió đông về trên cao kia không
pha lê buồn lăn
theo nhịp tơ trùng
em nói nhỏ đông về sao lạnh quá

nến cháy hư huyền bên song hoa lá

để một mình buồn em xõa tóc tơ
nhạc reo vang vang trên tháp nhà thờ
gọi sương xuống để hong hồn ai lạnh

 

(… ) nghe như thì thầm tiếng ai hát nhỏ

gloria in excelsis deo

lời thánh ca em nghe thoáng mơ hồ

trời lạnh quá và đêm thì thơm quá

 

lệ mềm trên môi vàng sao trên lá

lời thánh ca hồng lả tả trên không

em nghe mùa đông rớt vỡ trong lòng

đêm về miên man trên vùng tóc cỏ.

(Vàng Sao – BVP – Tuổi Hoa số 121, ngày 1-1-1970

Bốn câu cuối lấy từ một dị bản khác, cùng tên, của tác giả)

 

Trong khi đó, phải đến Tuổi Hoa số 141 phát hành ngày 1-11-1970 tôi mới lần đầu góp mặt trên trang Thơ do Quyên Di phụ trách, với bài “Nỗi lòng cô học trò” – mà lại ký tên Hương Ngọc, bút hiệu dùng một lần duy nhất. Thế thì, anh Bùi Vĩnh Phúc lúc ấy chưa hề biết Trần Thị Nguyệt Mai là điều chắc chắn! Sau đó, anh Quyên Di Bùi Văn Chúc cùng người bạn đồng nghiệp anh Hoài Mỹ Đào Quang Mỹ – thực hiện bán nguyệt san Ngàn Thông (số 1 phát hành ngày 05-05-1971). Từ đó, anh Bùi Vĩnh Phúc chuyển sang đóng góp bài cho Ngàn Thông, trong khi tôi tiếp tục cộng tác với Tuổi Hoa. Nên cách gọi là “bạn” như anh Nguyễn Lệ Uyên nói ở trên chỉ có một chiều.

 

Anh đóng góp thơ và văn trên Ngàn Thông, bằng tên thật Bùi Vĩnh Phúc lẫn bút hiệu Gammy. Bấy giờ thơ anh xuất hiện thường xuyên hơn, sâu lắng hơn. Xin trích thêm vài đoạn trong một số bài để các bạn cùng thưởng thức:

 

(… ) Mùa thu đến cho thời gian rón rén

Sợi tơ vàng rung nhẹ gót chân êm

Ngày mùa xuân chim én hót bên thềm

Thu gọi nhớ cho chim về mơ mộng

 

Như hôm qua lòng em còn bỏ trống

Bỗng hôm nay chim lạ hót trong vườn

Môi mới hồng cho em lắm người thương

Em con gái nên mùa thu vàng mộng.

(Mùa thu con gái – Gammy – Ngàn Thông số 11, 5-10-1971)

 

mây bay trắng cả sân trường

em về áo lụa thơm hương má hồng

đàn chim cánh trắng như bông

thả trong giọng hót lối bồng cỏ mơ

có hay giữa sớm sương mờ

hai hàng khuynh diệp trơ vơ gọi buồn (… )

(Áo Lụa Sân Trường – Gammy – Ngàn Thông số 13, 5-11-1971)

 

Một ngày mưa bay trên tóc

Một ngày thôi hết nắng vàng

Một ngày xa rời lớp học

Cuộc đời ngó xuống mênh mang

 

(…) Thôi anh giã từ lần cuối

Dù vẫn giữ lại trong hồn

Có gì bình minh suốt buổi

Cho dù bóng nắng hoàng hôn? (… )

(Giã Từ – Gammy – Ngàn Thông số 31, ra ngày 5-8-1972)

 

(… ) là xanh cả màu xanh lá xanh

con bướm thắm lượn trong cành

mộng mơ từng cánh hoa sương khói

cho mắt em cười trong mắt anh

 

là xanh cả màu xanh ước ao

môi em mướt nụ má em đào

từ mây lang bạt đời heo hút

mắt vỡ hoa buồn đêm ngát sao (… )

(Xanh Hương – Gammy – Ngàn Thông số 32, ra ngày 20-8-1972)

 

Đặc biệt, anh viết “Vườn mây em về” với toàn vần bằng, gợi nhớ âm điệu Tỳ Bà của Bích Khê:

 

(… ) Đôi hài em mang làm bằng nhung

Trâm cài em ngoan như tơ rung

Yêu thương em đi trong hoan ca

Yêu người em mơ trên môi hoa

 

Bờ vai đen tuyền cho liêu trai

Hồ sao xanh ngời trong thiên thai

Thôi em đi về cho thu vàng

Vàng thu cho mây thêm bay sang (… )

(Vườn mây em về  - Gammy - Ngàn Thông số 10, ra ngày 20-9-1971) 

 

Tôi yêu “Sầu Khúc” với những lời thơ đẹp mà man mác buồn:

(… ) ngày xưa có buổi chiều

bên mặt sông tắt nắng

trong nỗi buồn rong rêu

có tình yêu thầm lặng

 

và cũng có tiếng cười

trong lòng em rất khẽ

và cũng có niềm vui

thắp trong anh nhỏ nhẹ

 

tình yêu nào vương mang

cho trùng dương sóng cả

tình yêu nào khăn tang

cho một lần từ giã

 

anh có những ngày xưa

nở như hoa mười giờ

bây giờ còn gì nữa

hoa buồn héo ngẩn ngơ

 

ngày mai em ra đi

có mùa đông đưa tiễn

ngày mai ta chia ly

tình buồn như lời biển (… )

(Sầu Khúc – Gammy - Ngàn Thông số 37, 5-11-1972)

 

Ba bài văn / tùy bút của anh đi trên Ngàn Thông trong năm 1972, âm điệu và lời đẹp như thơ, là bước khởi đầu cho cuộc hành trình sau này:

(… ) Có phải đó là mùa Xuân không em, khi tình yêu là mây là gió là những sợi tơ hồng quấn quít vấn vương ôm ấp lấy nhau, trong làn gió mát len nhẹ vào hồn em hồn anh. Có phải đó là mùa Xuân không em, khi lòng đất tấu lên những lời reo vui ngày thụ cầm mở ngỏ, rung lên bằng những gót son nhún nhẩy từng đàn em bé náo nức hoan ca. Nếu nói không phải mùa Xuân, tại sao đóa tường vi lại tỏa ngát hương tình yêu thánh thiện như bờ môi em dịu dàng đầu ngày nắng chảy, hỡi em yêu dấu. (… )

(Bay Bay Cánh Hoa Tình Yêu – Gammy - Ngàn Thông Xuân Nhâm Tý 1972)

 

Quán đông dần vì cơn mưa vẫn chưa ngớt hột. Tiếng nhạc bập bùng bay ra từ những góc tối, âm thanh chùng và thấp: đó là những bản nhạc cổ điển tây phương, có violon rên siết trên tơ vàng, có những ngón tay nghệ sĩ cúi gục trên dòng nhạc buồn da diết. Và nhất là có dương cầm lăn êm ái những viên sỏi thật tròn nào đó rớt nhẹ vào lòng đại dương, cho những âm thanh mơ hồ tưởng chừng ở một khoảng xa xôi nào vọng lại.

(Mùa Thu Mưa Bay – BVP – Ngàn Thông số 34, 20-9-1972)

 

Anh đứng dậy đưa mắt nhìn ra xa. Tấm áo choàng bằng dạ đen của đêm đã được phủ nhẹ xuống tự lúc nào. Bãi biển bây giờ thật yên lặng. Những đám mây còn sót của buổi chiều trôi nhanh về một phía. Tụ lại. Rồi bay lên thật cao. Thật cao...  Những hạt sương đã lấp lánh triều thiên trên những đầu cỏ. Lễ đăng quang bắt đầu. Bầu trời lung linh để rơi lác đác những vì sao xuống một vùng không gian nào đó, xa lắm, có lẽ tận ngoài kia.

(Kể Chuyện Ngày Xưa – BVP – Ngàn Thông số 35, 5-10-1972)

 

Ngàn Thông đình bản vào cuối năm 1972 với tờ báo cuối cùng số 40 ngày 20-12-1972. Tôi không còn đọc anh nữa. Không rõ anh có tiếp tục viết và cộng tác với các tạp chí nào khác nữa không?

 Và rồi tất cả dự định mộng ước một thời xanh cũng tan thành mây khói với cuộc đổi đời. Nhóm bạn Tuổi Hoa của tôi cũng lạc mất nhau sau cơn dâu biển...

 Tôi gặp anh Bùi Vĩnh Phúc lần đầu trong buổi chiều ra mắt cuốn Tản Văn Thi của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh tổ chức tại nhà Tô Đăng Khoa ở Garden Grove, California vào ngày 19-5-2018. Nghe giới thiệu tên Bùi Vĩnh Phúc, tôi nghĩ ngay tới người cùng tên ngày xưa mình đã đọc, nên hỏi, “Có phải anh Phúc là em của anh Quyên Di?” Anh xác nhận, “Đúng rồi”. Thật là một tình cờ thích thú!

 Tháng 4/2024, Bùi Vĩnh Phúc gửi tặng tôi 9 Khuôn Mặt, 9 Phong Khí Văn Chương, cuốn sách mới xuất bản của anh, viết về Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng và Tô Thùy Yên. Đó là cuốn sách phê bình trên cả tuyệt vời được viết rất kỹ, rất nghiêm túc bằng ngôn ngữ thi ca được BVP ‘thai nghén’ 30 năm, mà mỗi tủ sách gia đình nên có. Nhờ đó, tôi được biết đôi điều về tác giả: Sinh năm 1953 ở Hà Nội, lớn ở Sài Gòn. Dạy Việt văn và Pháp văn trường Nguyễn Bá Tòng (Sài Gòn và Gia Định) từ 1972 đến 1977. Vượt biển vào tháng 12/1977 và định cư tại California từ tháng 4/1978. Tại đây, BVP đã học và tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn Ngữ học, và từ 1989 liên tục dạy Anh Văn và Ngôn Ngữ & Văn Hóa Việt Nam tại Golden West College và tại California State University, Fullerton. Hiện đã nghỉ hưu. Bắt đầu viết tiểu luận và phê bình văn học từ 1982 khi đọc truyện Ngựa Nản Chân Bon của Nguyễn Mộng Giác trên báo Đồng Nai tại Quận Cam vì rất thích cốt truyện sâu sắc, diễn đạt khéo léo, đáp ứng được những khát khao về mặt thẩm mỹ trong văn học.

 Ngay từ Lời Vào Sách, Bùi Vĩnh Phúc giới thiệu về Văn Học Miền Nam bằng những nét mặn mà:

Văn Học miền Nam Việt Nam, trong suốt hai mươi năm rực rỡ và đầy ánh sáng của nó, đã sản sinh ra biết bao tài năng, làm phong phú và hãnh diện cho dòng văn học dân tộc nói chung, và cho dòng văn học miền Nam nói riêng, trong cái bối cảnh lịch sử của đất nước. Những khuôn mặt tài tuấn, những ngòi bút tài hoa, đã làm bừng sáng cảnh quan phong thổ miền Nam, đất nước cỏ hoa miền Nam, nơi đó, những nét truyền thống của dân tộc, hòa cùng hương hoa và ánh sáng thế giới, và những âm vang của thời đại, đã làm dội lên những khúc hoan ca, hạnh ca, tình ca, hùng ca và bi ca của con người... (sđd, trang 11)

 Hay những dòng mở đầu khi viết về thơ Thanh Tâm Tuyền. Tưởng chừng sống lại một thuở nào với thanh âm mật ngọt, quyến rũ, ấm áp, rót nhẹ vào tai của chương trình Nhạc Chủ Đề Nguyễn Đình Toàn mỗi tối thứ năm phát thanh trên đài Sài Gòn mà dù có bận thế nào cũng khó bỏ qua:

Một buổi chiều, một buổi chiều nào đó, như tất cả những buổi chiều ta đã lang thang trên xứ lạ, như tất cả những buổi chiều mặt trời rơi xuống xoáy buồn vào trái tim, ta nhìn đời sống mình bốc khói. Khói cay ngun ngún cháy đi tất cả những ngày đã qua, cháy đi những mộng tưởng cũ kỹ, những hè đường đầy lá úa ướt át, những dòng sông thở nồng mùi gỗ mục. Đời đã ngun ngún cháy đi những giây phút hạnh phúc đẹp đẽ và mơ mộng nhất của ta, cháy đi những cửa sổ mở tung nhìn con chim bay trên trời, những ngõ hẹp cất giấu bóng chiều âm ỉ, và khuôn mặt em, khuôn mặt ướt mưa mà hai bàn tay ta đã nâng niu như một cánh hoa gần. Trong mắt em, ta nhìn thấy ngoài kia cơn mưa chụp xuống giăng kín buổi chiều. Em chớp mi, và bầu trời phủ đầy bóng tối. Một bóng tối thơm ngát mùi hoa chanh. (sđd, trang 19)

 Hoặc khi nghe Bùi Vĩnh Phúc định nghĩa về quê hương. Có ai không thổn thức, nao lòng khi nhớ đến?

Quê hương. Nó là tiếng cười ta thuở chân sáo vào đời, là nỗi rộn ràng ta lần đầu nhìn em áo ngoan hài tím tóc thả gió thu, là mộng mơ ta bên em nhìn dòng sông mà màu chiều bơ vơ đổ bóng. Nó là nụ hôn trong vườn đêm thơm mùi ngọc lan thao thiết, bờ môi em dịu dàng hé mở như một cánh hoa. Là chất sữa của nhung trên da thịt em dịu dàng trinh trắng. Là em run rẩy trong tay ta như một ánh trăng xanh chỉ chờ rạn vỡ. Quê hương là những ngày mà gió nắng vẽ trên vầng trán ta biết bao điều lý tưởng, là trái tim ta cháy lên bao tha thiết cuồng say. Và quê hương cũng là những ngày loạn lạc, khói lửa mịt mù, là đắng cay của những người vợ trẻ, là xót xa của những người mẹ già tóc trắng như sương. Quê hương là gió bão, là lời chúc dữ, và là giọt nước mắt ta chảy ra một đêm tối khi chân bước xuống thuyền, là nỗi quặn đau ta mỗi khi nhìn lại, nỗi quặn đau mà ta hằng chắt chiu chẳng nỡ rời bỏ, chối từ. Quê hương. Giọt nước mắt ta chảy ra hóa thành một đêm tối bơ vơ. (sđd, trang 263-264)

 Và còn nhiều, rất nhiều nữa những đoạn viết như thơ trong sách, trích dẫn hoài cũng không hết...  

 Trong trả lời phỏng vấn của tạp chí mạng Da Màu về chuyện “Đọc và Viết & về Văn học Hải ngoại” (28 & 29.8.2025), Bùi Vĩnh Phúc chia sẻ anh yêu sách từ nhỏ nên đã để dành tiền mua sách và đọc đủ thứ. Bên cạnh đó, anh còn đổi sách, báo với bạn bè trong xóm...  Hoặc “cất giữ làm của riêng” những báo hoặc tập san có đi thơ, truyện mà anh thích từ “kho” báo chí trong nhà của bố. Khoảng lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ), bằng tiền bố mẹ cho, anh “nướng” hết vào các tiệm bán sách cũ hoặc bán solde (có những quyển rất hay và còn mới) để có một thư viện cho riêng mình. Càng lớn, anh lại càng có thêm điều kiện để thu thập sách mới, sách hay với các thể loại khác nhau. Kể từ năm Đệ Nhị (lớp 11 sau này), anh hướng về đọc sách phi-hư cấu đủ mọi thể loại. Đến thời thanh niên, Bùi Vĩnh Phúc tìm đọc nhiều sách nghiên cứu và phê bình. Anh cũng chú ý các loại sách triết, sử, ngôn ngữ, tâm lý, xã hội, nhân chủng, dân tộc học, văn hoá, và kiến thức tổng quát. Anh đọc miên man và liên tục chỉ để tìm hiểu về sự sống, về cuộc sống. Đến tháng Tư 1975, anh đã có một thư viện riêng, khá “bề thế”, bao gồm cả sách tiếng Pháp và tiếng Anh.

 Để tìm hai chữ tự do, Bùi Vĩnh Phúc phải bỏ lại cả một tủ sách đã chăm chút yêu thương của một thời tuổi trẻ, tạo dựng bằng số tiền nhịn ăn tiêu của chính mình. Với lòng bâng khuâng, trĩu nặng, anh bước lên con tàu nhỏ vào tháng 12/1977 rời xa quê hương với bao thân tình, kỷ niệm... Định cư tại Mỹ từ tháng 4/1978 và tiếp tục “góp nhặt cát đá”, đến mùa đại dịch Covid-19 (từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2023), anh đã có một tủ sách khoảng 10 ngàn cuốn. Hãy nghe anh kể, “... Rồi, đến một lúc, tôi nghĩ cuộc đời này cũng quá vô thường, sao không trao tặng bớt sách đi cho nhiều người cùng đọc. Thế là, sau đó, tôi mất khoảng từ hai đến ba tháng để lục lọi, duyệt xét lại tất cả các loại sách mà tôi đã thu thập được từ khi đến Mỹ, có nghĩa là trong hơn 40 năm tính đến thời điểm ấy. Sách vở lúc bấy giờ được lục ra, xếp la liệt đầy nhà. Tôi lọc lựa ra khoảng từ bốn đến năm ngàn quyển sách để giữ lại; còn tất cả khoảng hơn năm ngàn quyển khác tôi phải cất công cho vào các thùng carton (cũng phải ra Home Depot mua nhiều), chất đầy nhà.” Rồi, sau đó, anh phải thuê người khuân vác và cùng với họ chở sách đi cho các thư viện.

 Đọc sách, tích lũy vốn kiến thức vô tận từ thời tuổi trẻ đến nay, anh đã vượt xa mức tuổi sống của mình, lại được đào tạo có hệ thống, quy củ từ những trường lớp danh tiếng ở Việt Nam sang đến Hoa Kỳ trong ngành Ngôn ngữ học và các ngành khác. Nên, có thể tán dương mà không sợ quá lời rằng, Bùi Vĩnh Phúc là một học giả uyên bác. Bởi thế, cách trình bày và lập luận của anh rất hàn lâm, chặt chẽ. Chẳng hạn trong bài “Nói Chuyện Đọc và Viết & Cái Sống, Thân Phận, Hiệu Ứng của Chữ” đi trên Da Màu (9.5.2024), khi được hỏi, “Thưa anh, trong việc viết phê bình văn học, anh có đặc biệt thích thú một hướng phân tích hay một phong cách phê bình, nhận định nào hay không?”, anh đã trả lời:

 “Phê bình có thể có nhiều hướng, nhiều phong cách. Riêng tôi, tôi quý cái viết của nhà phê bình Gaston Bachelard (1884-1962). Ông là một người được thế giới biết đến như một triết gia, một nhà duy lý dấn thân, một người được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, và đã có những công trình quan trọng trong lĩnh vực này.

Ngoài việc được xem là một nhà khoa học, Bachelard cũng được đánh giá là một nhà phê bình văn học kiệt xuất. Trong nhiều tác phẩm của mình, đặc biệt trong quyển L’Eau et les Rêves (Nước và Những Giấc Mơ), và, trước đó, trong quyển La Psychanalyse du Feu (Phân Tâm Học về Lửa), Bachelard đã dùng tinh thần khoa học pha với một ngôn ngữ nhiều chất thơ, tạo nên một thứ thi pháp kết hợp với những suy tưởng, phân tích hiện tượng luận, để đặt thi ca và văn chương trong một quan hệ tốt đẹp và nhiều thành tựu với khoa học về tâm lý.

Khuôn mặt trong gia tài khoa học/văn học của Bachelard mang dấu ấn của một nhận thức luận và một thi pháp học đặc thù, đã cho thấy triết lý, tư duy nơi ông là một tư duy kép, gồm cả tư duy khoa học và tư duy thi ca. Ông cho thấy dù đó là hai mảng có vẻ đối chọi nhau, con người không thể tư duy mặt này mà thiếu mặt kia. AnimusAnima. Trong tác phẩm La Poétique de la Reverie (Thi pháp của mơ mộng), Bachelard đã đối lập animus, gắn bó với tinh thần khoa học, tượng trưng bằng lý trí, với anima, gắn bó với mơ mộng và tưởng tượng.

Cũng thế đối với Maurice Blanchot, một nhà phê bình kiệt xuất khác của Pháp. Trong tác phẩm L'Écriture du Désastre (Writing the Disaster, 1980), một tác phẩm chứa đựng những suy tư mang tính triết học sâu sắc, thể hiện qua một lối viết được giới phê bình gọi là “prose fragments”, người ta cũng có thể đọc được những đoạn văn đầy thơ mộng của Blanchot.

Tôi thích hướng phê bình và cái viết của cả Bachelard và Blanchot. Dĩ nhiên, còn có những người khác nữa. Có thể tạm kể như Mikhail Bakhtin, Roland Barthes, Roman Jakobson, Claude Lévi-Strauss, Jean Pierre Richard, Pierre Macherey, Charles Mauron, Normand Holland, Jean Starobinski, v.v..  Mỗi người viết như thế là một ánh sao, mà cái ánh sáng họ để lại còn làm cho chúng ta, những người đọc, nhìn ngắm, theo đuổi.”

 Lấy bất cứ bài viết nào trong cuốn sách “9 Khuôn Mặt. 9 Phong Khí Văn Chương”, ta cũng có thể thấy phong cách đó của Bùi Vĩnh Phúc. Chẳng hạn, như bài “Vũ Khắc Khoan & Samuel Beckett: Nghệ thuật như một cái cớ”.  Phải đọc toàn bài để thấy cái tuyệt vời của lý luận và phê bình. Anh dẫn dắt độc giả đi từ lập luận này đến lập luận khác rất cuốn hút. Nơi đây, chỉ xin trích một ít:

 Vũ Khắc Khoan có thể đã chịu một ít ảnh hưởng của Samuel Beckett. Và ông đã thành công trong việc làm mới kịch Việt, với những vở kịch được viết sau này của ông, dựa trên một vài kỹ thuật mà Samuel Beckett đã sử dụng trong En Attendant Godot và những kịch sau đó. Nhưng chính cái tài sử dụng ngôn ngữ cũng như sự tinh tế của Vũ Khắc Khoan khi nhìn ra những kho tàng ẩn giấu chưa được khám phá trong các vở chèo cổ hay hát bội Việt đã là những yếu tố góp phần nhiều nhất vào sự thành công của ông. Trong cuốn túy bút Mơ Hương Cảng, Vũ Khắc Khoan có một bài viết bày tỏ sự thích thú về vở kịch En Attendant Godot của Beckett. Trả lời câu hỏi của Nguyễn Đông Châu trên báo Văn (Sàigòn): Từ Shakespeare, Racine tới Camus, Beckett, kịch đã tiến triển như thế nào. Và trong các tác giả trên, ông lưu ý đến ai? Vũ Khắc Khoan đã nói tóm lại là ông thích nhất hai người: Shakespeare (lắm lời nhất) và Beckett (ít lời nhất). Cũng trên Văn (Sàigòn), để trả lời câu hỏi của Nguyễn Nam Anh: Ông nghĩ sao về Ionesco? Samuel Beckett? Vũ Khắc Khoan nói: Ionesco dưới Beckett một bực. Nhưng cũng vì vậy mà với Ionesco thì còn kịch. Với Beckett, kịch dần dần tự hóa giải để trở thành vô ngôn.

Vũ Khắc Khoan yêu sự vô ngôn này. Ông cũng lặp đi lặp lại nhiều lần cái quan niệm của ông cho rằng một vở kịch lớn là một vở kịch không có khán giả. Khán giả với diễn viên là một. Khán trường và sân khấu không còn sự ly cách (sự ly cách này vốn dĩ đã thật là mỏng manh trong bản chất của kịch).

En Attendant Godot là một vở kịch cả thế giới biết đến của Samuel Beckett, được viết trong giai đoạn 1947-1949. In thành kịch bản năm 1952. Diễn lần đầu vào tháng Giêng, 1953. Bản dịch ra Anh văn là Waiting for Godot năm 1954… Vở kịch này là một cuộc cách mạng trong cơ cấu kịch, trong chất liệu kịch, và trong sự trình diễn. Thông điệp của vở kịch là sự chờ đợi. Vở kịch được xây dựng quanh hai diễn viên chính, qua đó, tác giả trình bày hoàn cảnh và đặc tính của sự chờ đợi. Cái đặc tính này cũng là yếu tính của vở kịch. Kịch ở đây không còn trình bày về một biến cố nào đó, nhưng nó trình bày chính nó. Tự nó là một vũ trụ riêng với những khả tính và yếu tính mà tác giả muốn nó có.” (sđd, tr. 147-148)

 

*

 

Tôi có được xem đoạn video trong ngày ra mắt sách “9 Khuôn Mặt. 9 Phong Khí Văn Chương” này của anh. Tất cả những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, giáo sư, dịch giả... có mặt đều rất khen phần văn chương và phê bình của BVP. Nhà thơ Trịnh Y Thư nhận xét, “Đặc trưng trong phong cách văn học của Bùi Vĩnh Phúc hàn lâm nhưng không thiếu tính thơ và trữ tình, bởi vì trước khi đi vào lý luận văn học thì BVP đã từng là một nhà thơ. Phê bình văn học đòi hỏi người viết phải có một căn bản về văn học, các lý thuyết văn học. Ngoài ra, còn phải thấu triệt các vấn đề về triết học, tâm lý học, mỹ học; thậm chí các ngành khác như âm nhạc, hội họa, kịch nghệ, v.v... Bùi Vĩnh Phúc là một nhà phê bình văn học đứng đắn, nghiêm cẩn”. Giáo sư Trần Chấn Trí chia sẻ, “Khi xem xét một bài thơ, với lối phê bình tài hoa của một Nhà Phê Bình/nhà Ngôn Ngữ Học [, BVP] đã soi sáng cho người đọc thấy hiệu ứng âm thanh đóng một vai trò trọng yếu như thế nào trong nghệ thuật làm cho những vần thơ, yên lặng trên trang giấy, lấp lánh trên không gian ba chiều, cộng thêm chiều thứ tư là cảm xúc của người đang thưởng ngoạn bài thơ [...] Bùi Vĩnh Phúc xem xét nhiều góc độ khác nhau như lời thơ, ý thơ, tứ thơ, vần điệu. Nhưng đặc biệt là anh chiếu thẳng vào từng từ ngữ, tháo tung nó ra như người thợ sửa đồng hồ săm soi từng bộ phận chi li của nó... Bùi Vĩnh Phúc đã say mê đi thật sâu vào thế giới âm thanh của từng chữ, từng âm tiết, thậm chí từng âm tố… Từ trước đến giờ, chưa có ai phê bình thơ mà đi vào tận cùng thế giới âm và thanh như Bùi Vĩnh Phúc. Anh dùng ngôn ngữ học để lột trần ngôn ngữ trong thi ca...” Nhà văn Đặng Thơ Thơ phát biểu, “Độc giả có thành kiến rằng phê bình văn học là những gì khô khan hay ‘hại não’, nhưng thành kiến đó không đúng với Bùi Vĩnh Phúc, nhờ cách vận dụng ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật, và sự liên tưởng để bài phê bình cũng là một bản văn đầy chất thơ, làm rung cảm người đọc. Cuốn sách 9 Khuôn Mặt. 9 Phong Khí Văn Chương là chứng nghiệm thơ mộng như thế. Trong cuốn sách này, Bùi Vĩnh Phúc đã sử dụng nhiều phương pháp phê bình để tiếp cận văn bản, trong đó có cấu trúc luận, ký hiệu học, ngôn ngữ học, và áp dụng phân tâm học và hiện tượng luận để soi rọi khung văn hoá của từng đối tượng được nghiên cứu... [Qua cuốn sách, BVP viết về] 9 Khuôn Mặt 9 Phong Khí Văn Chương, nhưng theo tôi phải là 10, vì phong khí văn chương thứ 10 là chính Bùi Vĩnh Phúc.”   

 

Từ những bài thơ đăng báo hồi Tuổi Hoa cách nay hơn nửa thế kỷ đến những bài viết của hiện tại, “Người bạn” thời hoa mộng ấy đã đi những bước dài bằng đôi hia bảy dặm, nêm đầy kiến thức mỗi ngày qua việc dạy và học, đọc sách, vui chơi cùng bè bạn và cả những cuộc lữ đó đây. Nhà báo Phan Tấn Hải tiết lộ, “Bùi Vĩnh Phúc là hình ảnh một Cung Tiến bên âm nhạc, do Cung Tiến sáng tác nhạc rất ít nhưng ngày nào cũng sống với âm nhạc. BVP cũng viết rất ít nhưng đọc mỗi ngày và đọc nhiều lắm. Khoảng gần 40 năm trước, Phan Tấn Hải ghé nhà Bùi Vĩnh Phúc ở Irvine có 2 phòng nhưng đầy sách, sách xếp thành hàng cả dưới gầm giường.” Giáo sư Quyên Di cập nhật, “Căn nhà PTH nhắc đến là nhà cũ, nhà hiện nay của BVP rộng hơn nhiều, có tới 4 phòng, nhưng 3 phòng rưỡi dùng để chứa sách!”  

 Xin chúc mừng anh Bùi Vĩnh Phúc, người mãi mãi chung thủy với văn chương. Hy vọng sẽ tiếp tục được đọc những tác phẩm mới của anh mà tôi đoan chắc đó là những viên ngọc quý. Vì chúng được tác giả viết một cách cẩn trọng bằng trái tim yêu thương và khối óc sáng suốt của một người tài hoa, sống cùng và sống với văn chương. Trọn đời.

  

Trần Thị Nguyệt Mai

Tháng 11/2025

 

[ trích từ Tạp Chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt - Bùi Vĩnh Phúc - Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương do Ngôn Ngữ phát hành 2026.

Sách được phát hành trên Amazon: https://www.amazon.com/T%E1%BA%A1p-Ch%C3%AD-Ng%C3%B4n-Ng%E1%BB%AF-Bi%E1%BB%87t/dp/B0GFSZ3666

Muốn có sách với chữ ký tác giả, xin thư về: bvphuc2000@yahoo.com ]