Monday, October 5, 2026

Hữu Sở Tư: TRÚC CHI, Kiếp sau duyên có dẫn về

 

Nhà báo, nhà văn, nhà thơ Trúc Chi.

Trúc Chi là bút hiệu của Tôn Thất Kỳ. Anh sinh năm 1934 tuổi Giáp Tuất, học ở Huế và Đà Lạt. Vào ngành thông tin báo chí năm 1960 tại Luân Đôn, là biên tập viên ban Việt Ngữ đài BBC.  Đã từng  theo dõi và tường thuật Hội Nghị Geneve về vấn đề Lào (1960-1961) khi cộng tác với giáo sư Tôn Thất Thiện.  Giáo sư Thiện bấy giờ phụ trách thông tin trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị. Một phần kinh nghiệm thông tin quốc tế này giúp cho Trúc Chi được nhận làm thông tín viên thực thụ của hãng Reuters Luân Đôn sau khi rời đài BBC vào năm 1967. Đã được phái đi công tác ở một số quốc gia Đông Nam Á kể cả Việt Nam. Tại Singapore, từng làm chủ biên ban tin tức Việt – Miên – Lào của Reuters. 

Trúc Chi dùng bút hiệu Nguyễn Phúc trong các bản tin, dịch thuật và phỏng vấn, anh có nhiều thơ đăng trên Văn Học, Thế Kỷ 21, ngoài ra anh có 2 cuốn tùy bút: Đó Đây và Gỗ & Đá; trong năm 2000 nhà văn Phạm Xuân Đài đã nhận xét “có thể nói ngay mà không sợ lầm, đây là cuốn tùy bút hay nhất trong mấy năm gần đây ở hải ngoại.”


BAN VIỆT NGỮ ĐÀI BBC

Ngồi: Xuyến Như và Hữu Đại

Đứng: từ trái sang phải, Trần Minh, Xuân Kỳ, Nguyễn Phúc

(Nguyễn Phúc là bút hiệu của Trúc Chi trong ngành truyền thanh)

 

Bút hiệu Trúc Chi

          Tôi có hai ông anh có trí nhớ cự phách siêu phàm “Mắt nhìn qua đã thuộc, mở miệng thành văn chương / Quá mục thành tụng, xuất khẩu thành chương” là anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ và anh Từ Mai Trần Huy Bích. Đó là vạn hạnh của người em nhỏ này, để tôi được nhắc nhở, được khuyên bảo,  được lắng nghe  thật nhiều chuyện đông tây kim cổ, đủ viết thành một pho sách dầy.

 Bữa nọ trong tuần lễ mưa rả rích không nguôi, nhớ đến câu “Trời Thục như mắt người ly biệt, Mười ngày mưa không ngày nào tạnh ráo” trong “Trúc Chi Từ” của Đinh Hạc Niên đời Minh, tôi giới thiệu đến anh kèm thêm dòng thư: em gửi anh bài có tựa đề Trúc Chi từ 竹枝詞 giống như tên anh.

Anh đáp ngay: “tên Chi trong bút hiệu Trúc Chi không phải là cành 枝 mà là Chi 之 như Chi Hồ Giả Dã do tôi bắt chước tên tự của ông Nội là Lạc Chi”.

(Ông Nội của anh Trúc Chi là Phò Quang Quận Vương Tôn Thất Hân hiệu Liên Đình tự Lạc Chi, là cháu đời thứ Sáu của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần. Ngài là tôn sinh Quốc Tử Giám, lần lần thăng Bố chánh, Tuần vũ, Tổng đốc, từng làm Thượng Thư Bộ Hình, Phụ Chánh đại thần, Phò Quang Quận Công, Phò Quang Quận Vương dưới thời các Vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại.  Năm 1925, sau khi vua Khải Định qua đời, vua Bảo Đại đang du học tại Pháp, ngài được cử làm Nhiếp chính thân thần, xử lý các công việc cho đến khi vua Bảo Đại hồi loan).

 Anh Từ Mai tiếp: nếu vậy chữ Chi 之 trong tên anh Trúc Chi cũng giống nhà báo nhà học giả Đào Trinh Nhất. Tên là Nhất nên ông lấy tên tự là Quán Chi 貫之.Ông lấy chữ trong Luận Ngữ, lời Khổng Tử: “Ngô đạo nhất dĩ quán chi 吾道一以貫之.”

Anh Trúc Chi hân hoan: ông Đào Trinh Nhất là bạn của bác tôi, hân hạnh được nhìn thấy ông ở nhà bác ngày còn nhỏ, hồi tôi mới biết viết biết đọc.

 Anh Trúc Chi thường xuyên nhắc đến người bác thân yêu và mãi mãi nhớ ơn bác, là thầy dạy chữ Nho cho anh. Thứ Năm ngày 24 tháng 09 (14 tháng 08 âm lịch) tôi gửi anh Trúc Chi xem  hình bàn thờ anh Từ Mai cúng thầy Vũ Hoàng Chương, anh Trúc Chi đã niệm A Di Đà Phật, và hồi tưởng, chừng 80 năm trước bác từng dạy cho tôi một bài trong Tân Quốc Văn: Trung Thu dạ nguyệt, Tối minh đăng lâu viễn vọng… bác còn dặn kỹ đừng lầm hai chữ mạt 末 và vị 未,  thầm cảm ơn ông bác.

 Trong một thư đầu năm 2026 anh bùi ngùi viết đôi ba dòng lửng lơ: anh Từ Mai đúng là quyển tự điển sống về thơ Đường.  Ngày xưa tôi được bạn cùng lớp tặng cho cái danh hiệu “dictionnaire ambulant” (tự điển di động) về thơ tiếng Pháp trong mấy quyển sách giáo khoa quen thuộc thời ấy, chúng nó bí câu nào thì cứ bảo nhau “hỏi thằng Kỳ”. Bây giờ thì chắc chắn thằng Kỳ cũng bí nốt. Mà bạn thời ấy cũng “đi” cả rồi. Không có ai hỏi tôi nữa.

 

Hiền thê của anh Trúc Chi

Trong lần gặp anh chị Trúc Chi ở nhà anh Từ Mai, anh Trúc Chi khoe: Dzung có biết tôi tuổi Tuất mà Đoan Thư tuổi Thìn nên người ta khen tôi là chó ngáp phải rồng, tôi không nén được cười rinh rích trong khi anh tỉnh bơ.

           Ông Cố của chị Đoan Thư là cụ Nguyễn Khoa Đạm trước dạy Quốc Tử Giám. Có 2 bức hoành phi trang trọng treo ở nhà Cụ Nguyễn Khoa Đạm, một tấm khắc bốn chữ 政教大家 CHÍNH GIÁO ĐẠI GIA, tấm kia khắc ba chữ 品自高 PHẨM TỰ CAO (Sự năng tri túc tâm thường lạc, Nhân đáo vô cầu phẩm tự cao 事能知足心常樂,人到無求品自高 là câu của tiên sinh Trần Bá Nhai sư phụ nhà văn Kỷ Hiểu Lam đời Thanh treo trước án sách để tự nhắc nhở mình. Mọi điều biết đủ lòng thường vui, Người không cầu cạnh phẩm giá tự nhiên cao)

 

                                                 

Chị Đoan Thư giòng dõi trâm anh thế phiệt như anh, chị hết sức xinh đẹp mảnh mai tao nhã, điều ấy trùng hợp với cung Hôn Phối của anh Trúc Chi, là sự truyền tinh giữa hai lá số: Cơ Lương đắc địa, Khôi Việt, Thiên Nguyệt Đức, Thiên Quan Quý Nhân.

 

Cùng thích Số Tử Vi

     Anh Trúc Chi thích xem Tử Vi và nhờ có Tử Vi nên ngoài Đường thi, Tam Quốc Chí, anh em chúng tôi có đủ điều để nói hết ngày này tháng nọ không bao giờ vơi chuyện.

 -  Thưa anh, hôm nay em tình cờ xem được số Tử Vi Tôn Trung Sơn, Mệnh của Quốc Phụ có vòng chính tinh giống của anh Trúc Chi, các phụ tinh cũng tương tự, nhưng cung Hôn Phối và cung Tử Tức của Tôn Trung Sơn thua xa anh Trúc Chi, em chưa thấy lá số Tử Vi nào có cung Hôn Phối và Tử Tức đẹp như của anh. Anh Trúc Chi mệnh có Đế Vượng là con người trượng phu, bề thế, rộng lượng hào phóng ưa làm việc thiện có lòng nhân ái, luôn thể hiện tình yêu thương với mọi người xung quanh, anh được nhiều sự yêu mến, là mẫu người duyên dáng có sức thu hút, có năng khiếu nghệ thuật, nghề nghiệp anh liên quan đến ngôn ngữ làm công việc truyền thanh là hợp cách và đúng số. Anh được hưởng vòng Tràng Sinh (ngay cung an Thân). Thiên Đồng là sao chủ Mệnh được hưởng phúc lộc của Trời đất thêm các sao Văn Tinh nên là người nho nhã văn chương trí tuệ. Cung Tử Tức của anh phải nói là tuyệt đẹp: Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Khoa Quyền Lộc, Xương Khúc, Quang Quý, Long Phượng, Thai Tọa, Tướng Ấn.

 Anh Từ Mai tiếp lời: Rất vui nhận được email từ anh Trúc Chi. Dung nói cung Mệnh của anh có Đế Vượng, có Đế Vượng ắt được Tràng Sinh chiếu. Anh được bộ sao Sinh Vượng cộng thêm Tả Hữu và Thiên Phúc thì quý lắm rồi. Thiên Khôi đi với Hồng Loan (Hồng Khôi) rất đẹp, mình rất quý sao Thiên Khôi (là quý nhân). Anh có Tả Hữu, Thiên Phúc Thiên Khôi, các cụ vẫn nói là “cát nhân thiên tướng”. Chân thành cầu chúc anh được hưởng phúc vì có những bộ sao quý ấy.

 Vào mỗi cuối năm tôi tự hiểu mình cần chuẩn bị lá số Tử Vi của anh cho năm sắp đến hầu có thể trò chuyện kỹ hơn về vận niên khi bắt đầu qua Tết Nguyên đán “cho đúng phong tục cổ truyền” để nghe anh dí dỏm pha trò:

-Quá khen, Vui chút vậy thôi. Tuổi này rồi còn số chẵn số lẻ gì nữa.

 

Ừ đêm tháng Sáu Mười Hai nhỉ

         Mỗi năm đến ngày 12 tháng 06, anh thường gửi thư đố hai anh em Từ Mai: Hôm nay 12 tháng 06, anh Từ Mai và Dzung có nhớ là ngày gì không?   Sau này anh Từ Mai nói rõ thêm, 12 tháng 06 âm lịch mới là ngày nàng Tố Uyển bước lên xe hoa, không phải 12 tháng 06 dương lịch.

Riêng tôi, những chiều Nguyên Tiêu, những tối Thất tịch, những sáng Lập Xuân hàng năm thường gửi các bài thơ hợp mùa hợp cảnh đến anh, lúc thì Nguyên tịch của Âu Dương Tu, khi là câu thơ năm chữ của một ẩn sĩ đời Tấn, khi là bài thơ Mưa viết trong tết Hàn Thực của Tô Đông Pha.

Anh Trúc Chi rất thưởng thức câu “Phù vân du tử ý, Lạc nhật cố nhân tình”. Người đi là đám mây, Kẻ ở là chiều tà. Quá đẹp. Lời anh thật đúng ý tôi hết chỗ nói: em cũng yêu Lý Bạch, anh biết Hành Đường Thoái Sĩ mê câu “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” lắm không, ông phê câu ấy là “Thiên cổ lệ cú”, em cũng yêu  “Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” vì tháng Ba là tháng của em. Anh có ý kiến riêng: tôi lại mê cái bát ngát của câu kế tiếp “Cô phàm viễn ảnh bích không tận”.

  

Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu

                     Năm 2024 anh gửi bài thơ Đường luật làm nhiều năm trước cùng những lời tâm sự của một tráng niên tóc bạc đến cho các anh chị em:

 “San sẻ với các bạn chút vui riêng tư. Bài thơ mà tôi chép dưới đây, tôi làm trong một buổi họp bạn năm 1994 gồm mấy anh em thân với nhau từ thời trung học (Quốc học Huế, Yersin Đà Lạt).  Hai mươi lăm năm rồi, cả một lũ bốn năm thằng nay chỉ còn sót lại mỗi mình tôi. Chính tôi cũng quên rằng mình có làm bài Đường luật này cho đến cách đây khoảng ba tuần, em của một người bạn trong nhóm tình cờ gặp bản chép tay của tôi trong mớ thư từ cũ, gửi lại tôi xem. Dĩ nhiên thấy NÓ là tôi nhớ ngay. Trước năm 1994, tức là trước 60 tuổi, tôi có làm một số thơ Đường luật gửi tặng bạn bè ....bốn phương. Có ngay cả môt bài tặng ông Quách Tấn nữa, to gan chưa? Nếu tôi không lầm thì bài Họp Bạn này là bài Đường luật cuối (và duy nhất mà tôi còn có trong tay). Thấy lại NÓ, mừng và vui nhưng cũng tiếc và nhớ quay quắt mấy người bạn đã rẽ sang lối về thiên cổ. Bài này tôi suy nghĩ rồi viết xong giữa hai ly rượu. Ly thứ hai được rót ra từ chai rượu vang trong đó chỉ còn vừa đúng một ly mà một người bạn của tôi nói "thưởng trước cho mi một ly nhưng mà phải làm cho xong bài thơ!"  Cho nên tôi mới bảo các bạn tôi khui thêm chai nữa sau khi đọc to hai câu kết. Xem lại, không đến nỗi quá hổ ngươi (mắc cỡ).  


Họp Bạn

Mới đó mà nay đã bạc đầu

Cầm tay cười khóc chuyện xưa sau

Này thơ này rượu câu tâm sự

Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu

Tàn lớp phế hưng chừng mất cả

Già đời lưu lạc may còn nhau

Quí rồi! buổi loạn cầu chi nữa

Khui nốt chai kia phá trận sầu

Trúc Chi

(1994)


Tái bút: Cái tứ "Chúng ta mất hết chỉ còn nhau" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương nằm sẵn trong tiềm thức tôi! Khi viết xong toàn bài mới thấy nó hiện ra. Xin thắp một nén tâm hương mà tạ thi hào họ Vũ.

  

Vạn lý bi thu thường tác khách

           Từ trong Rehab center anh gửi … Đỗ Phủ: Gian nan khổ hận phồn sương mấn, Bách niên đa bệnh độc nằm khoèo, ở đây không có đài mà đăng.

Tôi gửi anh nhận xét của La Đại Kinh, học giả đời Nam Tống phân tích Đăng Cao rất kỹ, chỉ trong 14 chữ “Vạn lý bi thu thường tác khách, Bách niên đa bệnh độc đăng đài” có đến tám điều đáng buồn: làm lữ khách nơi đất lạ là điều buồn thứ nhất, luôn làm lữ khách là điều buồn thứ hai, làm lữ khách nơi vạn dặm là điều buồn thứ ba, đúng vào mùa thu se sắt là điều buồn thứ tư, tuổi đã già việc chưa thành là điều buồn thứ năm, bằng hữu người thân đã khuất là điều buồn thứ sáu, cô đơn lên đài là điều buồn thứ bảy, thân bệnh tật là điều buồn thứ tám. Đăng Cao được mọi người tôn là “cổ kim thất ngôn luật đệ nhất” một trong những kiệt tác tiêu biểu nhất của thơ Đường mà Đỗ Phủ là nhà thơ kiệt xuất nhất trong thể loại này.

 Vào tuổi 92 phải qua nhiều thí nghiệm, chụp hình, lấy máu, đủ các loại test này test kia mỗi ngày nhưng lúc nào anh cũng  lạc quan dí dỏm, sáng sáng tôi kính thăm anh, hôm nay anh ra sao, anh có được khỏe, anh đáp khỏe nhưng cái khỏe của người bệnh (đời này tương đối cả).  Tôi khích lệ anh chịu khó tịnh dưỡng một thời gian, bình phục về nhà ăn cơm ngon chị Đoan Thư nấu. Hiện nay đại vận của anh đương ở cung Tỵ, mà mệnh Hỏa khi đi vào các hạn ở những cung Dần, Ngọ, Tỵ là đắc cách bởi gặp nơi sinh vượng cho hành Hỏa, trong tài liệu Tử Vi cổ, quy ước được đúc kết qua bài khẩu quyết “Hỏa hành Dần, Ngọ cộng Xà hương” cuộc sống và công việc sẽ gặp thật nhiều thuận lợi may mắn.

 

 Vui nhanh kẻo mất giữa vô thường này 

     Ngày 19 tháng 07, anh gửi một dòng nhắn đi chung bài lục bát:  Mấy câu ngẫu đắc khi nhìn thấy những cánh hoa khô bên cửa sổ bệnh viện:


Nắng chiều sưởi mấy đóa tàn

Ấm thay một nét hân hoan bất ngờ 

Thoáng nụ cười trong tứ thơ 

Vui nhanh kẻo mất giữa vô thường này 

 

Khổ thơ sáu tám, bốn dòng giản dị mà ý tứ sâu sắc khiến tôi nhớ về Lý Bạch, “nhi phù sinh nhược mộng, vi hoan kỷ hà” mà kiếp phù sinh như mộng, vui được là bao. Tôi yêu thích bốn chữ “Vui nhanh kẻo mất” phong thái tự do tràn đầy thi hứng trước vũ trụ bao la không ngừng thay đổi muôn hình vạn trạng mà niềm vui kiếp nhân sinh thì vô cùng bé nhỏ hữu hạn.

           Tôi thưởng thức thơ anh, những ý thơ phong vị như Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Vi Ứng Vật, tao nhã, điềm đạm, cao viễn, tịch mịch, nên vài ba ngày lại gửi lời nhắc nhở: Có thêm bài thơ nào anh nhớ gửi cho em nhé. Anh đáp: Có được vần nào còn sót lại Dzung sẽ là người đầu tiên tôi gửi đấy.

 

Cõi trần ta lại lè kè túi thơ

     Trước sinh nhật 92 một ngày, vào Thứ Ba, 14 tháng 07, 2026 lúc 12:52 PM anh gửi bài lục bát:

 

Chiều rồi chút bệnh mà hay

Gánh nghiệp bớt nặng cho ngày ra đi 

Kiếp sau duyên có dẫn về

Cõi trần ta lại lè kè túi thơ.

     Anh Trần Mạnh Toàn rất chịu bài thơ trên, anh gửi lời chúc mừng anh Trúc Chi:  Kính anh Trúc Chi, Được đọc bốn câu khẩu chiêm của anh mới thấy anh là người sớm đạt được tuệ giác hơn ai về lẽ sắc không của nhà Phật. Cái nợ văn chương thi ca mà anh nhắc đến chỉ là sự nhắc nhở khéo léo lớp hậu sinh. Mai này ngày 15 tháng 07 là ngày anh vượt thêm ngưỡng cửa cửu tuần. Đây cũng là ngày Kỷ niệm 92 năm ra đời ngôi Văn Tinh Trúc Chi. Xin nồng nhiệt chúc mừng.

Đây là lần đầu tôi thấy hai chữ “lè kè” trong bài thơ, nghe duyên dáng làm sao, đó là cách dùng chữ ngộ nghĩnh sáng tạo của anh. Tôi thưa với anh tôi thích chữ “dẫn” trong câu lục “Kiếp sau duyên có dẫn về” anh bảo mình thấm đạo Phật là nhờ vào mẫu thân, “dẫn” đây là duyên đưa đến, không có cái tình cờ trong nghĩa triết học.

 Tao ngộ giữa nhà thơ Trúc Chi và nhà văn Trần Mạnh Toàn cũng nhờ vào thơ Vũ Hoàng Chương. Trong thư gửi anh Trần Mạnh Toàn anh Trúc Chi tâm sự “Lang thang giữa đường một cách vô định, nói chuyện với cuộc đời qua chữ nghĩa của mình, họa hoằn gặp được một đôi người “nghe” và hiểu mình quả là một điều may mắn. Riêng anh, đối với tôi là một hạnh ngộ. Mà cũng nhờ chút duyên của tôi đối với thơ của Vũ Hoàng Chương. Viết mấy câu “bình thơ” bậc thi bá này nhân thể nói luôn về con người Vũ Hoàng Chương, thế nào lại lọt vào mắt xanh của anh, từ đó … Duyên văn tự là vậy. Bài của anh viết thật công phu. Nghĩ cho cùng anh Toàn ơi, chân thiện mỹ là ba, nhưng tuyệt đối chỉ có một. Mon men tìm đến chân trời của tuyệt đối là một cách nói thôi. Mong có dịp gặp nhau, cảm ơn anh Toàn.”

 Anh Trúc Chi tin vào kiếp sau, như Tô Đông Pha tin vào kiếp trước, đọc thơ Trúc Chi, tôi nhớ Tô Đông Pha “Ngã bản tu hành nhân, tam thế tích tinh luyện.  Trung gian nhất niệm thất, thâu thử bách niên khiển. / Ta vốn người tu hành, suốt ba đời tu luyện, lỡ làng sai một niệm, phải xuống trần trăm năm.”

 

Dăm hàng lục bát thương về sau xưa

     Hôm nọ anh gửi 4 câu từng đăng trong Văn Học trước năm 2000, kể từ lúc nhận thư anh trong vòng  nửa tiếng tôi chép bài thơ với bút lông mực Tàu trên giấy Tuyên. Anh biết không, dạo đó đọc bài thơ này trên báo Văn Học ngay lập tức em trở thành người hâm mộ anh đấy, mỗi lần có báo mới em tìm thơ Trúc Chi đầu tiên.


Vần thơ gieo giữa vô thường

Bể dâu thế ấy đoạn trường thế kia

Vạch trên rêu đá xanh rì

Dăm hàng lục bát thương về sau xưa.

 Tiếng thơ vọng ra đâu đó nỗi âm trầm dằng dặc từ thời Tam Quốc “Tơi bời thế sự bao giờ hết, Mịt mù vận số trốn vào đâu / Phân phân thế sự vô cùng tận, Thiên sổ mang mang bất khả đào” dòng thơ vừa như ngưng tụ vừa như xuyên suốt cả trăm năm.

 


  Chị Phạm Hảo cũng kể chuyện cho anh Trúc Chi nghe: em mê thơ và tùy bút Trúc Chi, lúc xưa em thường mua sách của Văn Nghệ, có hôm ông Võ Thắng Tiết nói chuyện là cuối tuần này nhà văn Trúc Chi sẽ ghé quán sách của Văn Nghệ để ký sách cho độc giả, em chỉ ước gì em ở California để ra đó quanh quẩn lúc nhà văn Trúc Chi ở đấy. Nhà em có trồng được hai chậu trúc thân màu đen, mỗi lần ngắm Thạch Trúc, em lại nghĩ đến nhà văn Trúc Chi vì Trúc Chi gọi trúc đen là Thạch Trúc. Anh Trúc Chi cũng viết về “Lan vàng Vũ Nữ” duyên dáng lắm, hỏi sao em không mê đọc sách của anh.

  

Kiếp sau duyên có dẫn về

 Kỷ niệm nhớ mãi không quên là hôm được sắp xếp ngồi gần anh dùng bữa trưa ở nhà chị Lệ-Hương; sau khi ăn khoảng 10 con ốc hương nhồi giò thơm hương vị gừng xả, mấy khoanh đậu phụ rán giòn chấm tương Cự Đà, bát bún riêu cua nêm nếm mắm tôm, tôi còn định ăn thêm một bát riêu cua nữa nhưng thật ngại ngùng vì thấy ngồi bên cạnh anh cầm đũa ung dung từ tốn khoan thai trông thanh lịch làm sao, tôi đâm ngượng; anh vừa tinh ý vừa nghịch ngợm, hạ giọng nói riêng tôi nghe: Dzung cứ ăn thoải mái đi, tôi không nhìn mô.

Sau bữa ăn các anh chị ra salon nói chuyện văn chương, tôi xích lại gần bàn xôi vò chè đường, chị Lệ-Hương nấu xôi vò chè đường và làm xôi gấc rất ngon, mà sao các anh vô tâm thế, cứ nhởn nha nhởn nhơ chuyện thơ văn mà không chịu để ý đến cái bàn xôi chè này, anh Trúc Chi đi ngang nghiêng đầu ngẫm nghĩ một vài giây rồi khuyến khích  "thêm 8 bát chè này có lẽ tạm đủ cho Dzung tráng miệng rồi đấy, tôi không ăn, Dzung cứ ăn phần của tôi". Tôi khúc khích vào hùa với anh “Sinh ra em là cha mẹ, mà hiểu em chỉ có anh Trúc Chi. Sinh ngã giả phụ mẫu, tri ngã giả Trúc Chi dã.”

Yêu thích tính cách trẻ trung tinh nghịch của anh nên thỉnh thoảng tôi gọi anh là Lão Ngoan Đồng, mấy hôm sau nhận thư anh ký tên Ngỗng Loan Đào. Nghe tên Ngỗng Loan Đào có khác gì một món ăn cực phẩm của miền sông nước Giang Nam không chứ.

 Tôi đọc đâu đó có người viết thế này, “nếu phải chọn một người bạn Thơ đồng hành phiêu lãng rong chơi, có lẽ ít ai chọn Lý Bạch vì chàng Lý phiêu dật bay bổng xa vời thực tế, không chọn Đỗ Phủ vì chàng Đỗ nghiêm túc, khắc khổ, sầu tư, hầu như phần đông chúng ta sẽ chọn Tô Đông Pha vì chàng Tô khả ái lạc quan, thú vị hài hước, dễ dãi khoát đạt, có thể làm bạn với Ngọc Hoàng thượng đế trên trời cũng có thể ngồi với bác nông phu bên bờ ruộng” tôi bất chợt nghĩ ngay đến anh Trúc Chi, anh Trúc Chi của chúng tôi chính là mẫu người giống Tô Đông Pha nhất rồi còn gì.

 Kiếp sau duyên có dẫn về, tôi mong được gặp anh, và trong kiếp lai sinh ấy xin cho tôi vẫn có trái tim nồng nàn yêu thích Tam Quốc, Tử Vi, Đường thi, Tống từ, để ngày ngày được trò chuyện cùng ông anh của mình.

 

HỮU SỞ TƯ

Tháng 10-03-2026

Một số sáng tác văn, thơ của Trúc Chi Tôn Thất Kỳ có thể tìm đọc ở: https://tranhuybich.blogspot.com/p/truc-chi-ton-that-ky.html

 

Saturday, October 3, 2026

21 CÂU HỎI CỦA BS NGÔ THẾ VINH VỚI BS NGUYỄN VĂN QUÝ

 Dự án tái bản tác phẩm Nhật Ký An Lộc của BS Nguyễn Văn Quý, 24 năm sau lần xuất bản đầu tiên năm 2002, đồng thời mở ra một hướng đi xa hơn: chuẩn bị cho một ấn bản Anh ngữ tại một Nhà xuất bản Đại học.

Cuộc phỏng vấn này là một bước chuẩn bị cho Dự Án Tổng Thể của ấn bản tiếng Anh.

Tựa sách dự kiến:
AN LỘC DIARY / NHẬT KÝ AN LỘC

A South Vietnamese Military Physician’s Eyewitness Account of the 1972 Siege

Một bác sĩ giải phẫu miền Nam Việt Nam trong vòng vây, 1972

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Văn Quý
Chủ biên: Bác sĩ Ngô Thế Vinh
Dịch giả: Sẽ tuyển chọn
Người viết dẫn nhập lịch sử: Sẽ tuyển chọn
Hình thức dự kiến: Ấn bản Anh ngữ học thuật có chú giải
Lĩnh vực: Nghiên cứu Chiến tranh Việt Nam, Nghiên cứu Đông Nam Á, Quân y, Nhân văn y học, Chiến tranh và xã hội, Hồi ký và tư liệu gốc

 


Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý và phu nhân, bà Quách Thị Minh, người ghi chép cuộc phỏng vấn. [Ảnh gia đình, tháng 09/ 2026]                                                                                                                                                                    

TẦM NHÌN VÀ MỤC ĐÍCH

Dự án không chỉ là dịch Nhật Ký An Lộc từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Mục tiêu rộng hơn là xác lập nhật ký thời chiến của Nguyễn Văn Quý như một tư liệu gốc có kiểm chứng, góp phần vào nghiên cứu quốc tế về Chiến tranh Việt Nam.

Sau đây là phần trả lời các câu hỏi của BS Nguyễn Văn Quý, nguyên vẹn ở dạng bản thảo, hoàn toàn không hiệu đính hay cắt xén.

BS Ngô Thế Vinh, 09/2026


TÓM TẮT DỰ ÁN PHỎNG VẤN BS NGUYỄN VĂN QUÝ

(Chuẩn bị cho ấn bản Anh ngữ có chú giải của “Nhật Ký An Lộc”)

Người thực hiện: BS Ngô Thế Vinh

Mục tiêu: Thu thập lịch sử truyền khẩu (oral history), xác minh sử liệu, thiết lập nguồn gốc bản thảo (chain of custody) và tái dựng bối cảnh y khoa chiến trường.

NỘI DUNG 21 CÂU HỎI PHỎNG VẤN

I. LỊCH SỬ BẢN THẢO & SỰ KIỆN

Câu 1–8

1. Thời điểm, địa điểm, lý do bắt đầu viết nhật ký và ý định ban đầu: dành cho gia đình hay làm tài liệu lịch sử?

Ngay từ đầu trận đánh, tôi đã cảm thấy đây là một trận chiến lớn. Tôi quyết định ghi chép lại mọi việc, phòng trường hợp nếu không sống sót trở về thì người thân trong gia đình biết được những gì đã xảy ra và những gì tôi đã làm.

2. Hình thức bản thảo gốc năm 1972: sổ, giấy rời, loại bút, nơi viết; có bị hư hại không?

Tôi viết vào một cuốn vở học sinh bằng bút bi Bic. Nơi viết thường là vào ban đêm, dưới gầm giường trong phòng ngủ để tránh pháo kích. Rất may mắn là phòng ngủ của tôi không bị trúng pháo kích trong thời gian đầu và mỗi lần di chuyển tôi đều mang nó theo. Có thể nói nhờ bom đạn “tránh” tôi nên bản thảo cũng may mắn được nguyên lành.

3. Bản thảo gốc năm 1972 còn không? Ai giữ? Đâu là bản sao sớm nhất để làm base text?

Sau khi rời An Lộc về lại Sài Gòn, tôi đã đánh máy lại toàn bộ với những chỉnh sửa cần thiết để người đọc thấy dễ hiểu hơn. Vì bản chép tay ban đầu chỉ là những nét ghi vội vã, viết ngoáy các ý chính, không đầu không đuôi nên sau khi hoàn thành bản đánh máy, tôi thấy không cần thiết giữ lại bản nháp tay nữa.

Năm 1979, khi vượt biển ra đi, tôi hoàn toàn đi tay trắng. Rất may mắn là đến năm 1991, cô em gái tôi khi sang Mỹ xuất cảnh theo diện đoàn tụ gia đình đã mang theo được bản thảo đánh máy này cùng với bộ phim slides.

4. Hành trình bản thảo và hình ảnh rời Việt Nam qua các mốc 1975, 1979 và khi nhận lại?

Sau biến cố 1975 và kể cả sau khi tôi vượt biển năm 1979, bản thảo đánh máy và các phim slides vẫn được mẹ và em gái tôi giữ tại nhà ở Việt Nam. Đến năm 1991, khi em gái tôi sang California theo diện gia đình bảo lãnh, cô ấy mới trao lại cho tôi.

5. Mức độ chỉnh sửa/thêm bớt về tên người, ngày tháng, suy ngẫm, chính trị khi xuất bản năm 2002 tại California?

Lúc viết năm 1972, thấy gì tôi ghi nấy, có cả những kỷ niệm riêng tư nảy ra lúc đó, ghi rất tự nhiên chứ không gò ép. Sau này khi có chương trình Microsoft Word, tôi đánh máy lại thì sắp xếp lại cho bớt lộn xộn, bỏ bớt những đoạn điệp ý và thêm chi tiết rõ ràng hơn cho người đọc…

Còn phần Lời Tựa, Lời Mở Đầu có mấy đoạn kể chuyện trước khi đến An Lộc và chuyện thăm lại chiến trường sau này, hay chương cuối lúc về phép và sau khi giã từ Bình Long... đều là “hồi ký”, tôi viết thêm sau này trên máy tính, chứ không phải nhật ký nguyên bản năm 1972.

6. Vai trò biên tập của NXB Văn Nghệ và Từ Mẫn Võ Thắng Tiết năm 2002; có còn lưu tư liệu/bản thảo sửa đổi không?

Khi giao bản thảo cho NXB Văn Nghệ, tôi chỉ đề nghị họ đổi tựa sách từ “Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long” thành “Nhật Ký An Lộc: 86 ngày của một bác sĩ giải phẫu tại mặt trận” theo lời đề nghị của BS Ngô Thế Vinh.

Với sự tin tưởng nơi nhà xuất bản qua lời giới thiệu của BS Vinh và công việc rất bận rộn tại phòng mạch lúc đó, tôi đã không kiểm tra lại xem bản thảo có được sửa chữa hay thay đổi gì không. Đến khi nhận sách đã in để chuẩn bị cho buổi ra mắt, tôi mới thấy tên tôi đã được sửa từ “Quý” thành “Quí”. Khi tôi phàn nàn, ông Võ Thắng Tiết giải thích rằng nhà văn Nguyễn Hiến Lê luôn viết theo quy tắc chính tả đó. Vì sách đã in xong nên đành chịu. Mãi đến khi bản vi tính được gõ lại gần đây, tên tôi mới được sửa lại.

Tôi không nhớ NXB có trả lại bản thảo hay không. Tôi có giữ một bản sao, nhưng sau khi sách in xong vài năm thì cũng thất lạc hay bỏ đi, vì tôi chưa hề nghĩ rằng sẽ có ngày tài liệu này được hỏi đến.

7. Anh cho biết có những thời gian chiến sự quá dữ dội khiến anh không thể viết trong hai hoặc ba tuần. Những khoảng trống ấy nằm vào khoảng thời gian nào?

Trong Lời Tựa (Về Nhật Ký Này) tôi có viết: “Những ngày đầu của trận đánh tương đối tôi còn có thì giờ để viết. Sau đó trận chiến trở nên gay cấn, nguy hiểm, sống chết không biết lúc nào, vì bệnh viện đã ở ngay sát tuyến đầu. Hơn nữa vì quá bận rộn săn sóc thương binh nên tôi không có thì giờ viết hàng ngày được. Có khi tôi phải gián đoạn tới hai, ba tuần.”

Ngẫm lại tôi thấy chi tiết “gián đoạn hai, ba tuần” có lẽ không đúng lắm.

Ngày vui bao giờ cũng qua mau. Ngược lại, giữa cái cảnh địa ngục trần gian ở An Lộc ngày ấy, mỗi ngày đối với chúng tôi dài hơn 24 tiếng nhiều, bởi sự mong đợi “một ánh sáng nơi cuối đường hầm”; chỉ một vài ngày không viết mà cứ tưởng chừng như đã ngưng cả tuần.

Ngoài chuyện rất bận rộn vì thương binh quá nhiều với những ca mổ liên tục và khi phải di chuyển phòng mổ sang Bộ Chỉ Huy dưới hầm ngầm vì bệnh viện đã bị hư hoại bởi pháo kích, còn một nguyên nhân tâm lý rất lớn: có những lúc chán nản và căng thẳng tột độ giữa ranh giới sống chết khiến tôi không còn tâm trí đâu để ghi chép.

8. Cách tái lập trình tự sự kiện sau những gián đoạn: trí nhớ, ghi chú, lịch, hồ sơ bệnh viện...?

Hầu hết là dựa trên các mảnh ghi chú ngắn ghi vội lúc đó kết hợp với hồi tưởng của trí nhớ sau này. Riêng danh sách và số lượng ca mổ thì có một ông Thượng sĩ giữ sổ, ghi chép lại tên tuổi, cấp bậc của từng bệnh nhân mỗi ngày.


II. Y KHOA & THỰC ĐỊA BỆNH VIỆN BÌNH LONG

Câu 9–14

9. Quy mô Bệnh viện Bình Long trước trận đánh: giường, bác sĩ, máy gây mê, X-ray, thuốc, máu...?

Bệnh viện Tiểu khu Bình Long lúc đó có chừng 103 giường, nhưng bác sĩ điều trị thì vỏn vẹn chỉ có 3 người: anh Lê Hữu Chí (bạn cùng khóa với tôi) lo bên Nội khoa; anh Nguyễn Phúc phụ trách Sản phụ khoa, kiêm luôn Trưởng Ty Y tế; còn tôi thì gánh bên Ngoại khoa.

Ngoài ra còn có một bác sĩ quân y Mỹ là David Risch, thuộc đoàn MILPHAP 10, cùng phụ với tôi bên Ngoại khoa. Nhưng đúng lúc trận chiến bùng nổ thì anh Risch lại đang nghỉ phép.

Lúc mất điện thì mấy máy móc như X-quang coi như vô dụng. Việc gây mê hoàn toàn làm bằng tay, do mấy y tá đảm nhiệm chứ chẳng có máy móc hỗ trợ gì. Thuốc men cần thiết như kháng sinh Penicillin hay thuốc giảm đau thì cũng tạm đủ xài. Còn máu thì lúc cần cấp cứu là lại phải hô hào mọi người ra hiến trực tiếp tại chỗ.

10. Sự thay đổi của bệnh viện khi bị bao vây: lượng thương binh đỉnh điểm, bố trí chỗ nằm, tình trạng pháo kích?

Tôi không còn nhớ chính xác con số thương binh đỉnh điểm trong một ngày. Khi bệnh viện hoàn toàn quá tải và hết giường, tất cả thương bệnh binh lẫn thường dân phải nằm la liệt ngoài hành lang.

Tình trạng pháo kích diễn ra liên tục và dữ dội. Dù phòng mổ may mắn không bị trúng pháo trực tiếp, nhưng sức chấn động từ các quả đạn pháo rơi gần đó nhiều lúc làm rụng cả bụi đất và thạch cao từ trần nhà xuống, ngay trong lúc chúng tôi đang tiến hành phẫu thuật.

11. Nguồn gốc con số 254 cuộc đại giải phẫu và định nghĩa “đại giải phẫu” thời đó?

Con số 254 thực chất là tổng số tất cả các ca phẫu thuật được ghi nhận, bao gồm cả đại phẫu lẫn tiểu phẫu.

Trong điều kiện chiến trường lúc bấy giờ, “đại giải phẫu” được định nghĩa là những ca phẫu thuật phức tạp đòi hỏi phải gây mê toàn thân, mổ ngực, mổ bụng, hoặc cắt lọc và đoạn chi (cắt bỏ tay chân).

12. Phân loại 254 ca mổ: vết thương bụng, ngực, chi, bỏng... và ca bệnh nhớ nhất sau hơn 50 năm?

Hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi, tôi không nhớ nổi chi tiết từng loại vết thương hay chính xác bao nhiêu ca bụng, ngực, đầu, mạch máu, rồi ca nào do mảnh pháo, ca nào do đạn nhọn. Nhưng ám ảnh nhất trong đầu tôi đến tận bây giờ vẫn là những ca mổ đặc biệt về kỹ thuật, khi phải xoay xở giữa những tổn thương cực kỳ phức tạp trong khi phòng mổ thiếu thốn đủ thứ, từ ánh sáng cho tới đồ khử trùng.

Ca mổ làm tôi nhớ đời nhất là lần đầu tiên mổ nối động mạch cánh tay cho một người lính trẻ. Tôi không bao giờ quên được ánh mắt van nài và lời cầu khẩn. Rơm rớm nước mắt, anh rưng rưng nói:

“Bác sĩ ơi, xin bác sĩ ráng giữ cái tay cho em, đừng cắt... Bác sĩ mà cắt tay em thì chắc em chết mất, em còn tới sáu đứa con nhỏ ở nhà...”

Thực sự lúc đó hy vọng mong manh lắm, vì vết thương bị lâu rồi, quá mất 6 tiếng đồng hồ. Nhưng thật may mắn, lần mổ đó thành công êm đẹp.

Với tôi, mổ bụng cứu sống một mạng người tôi cũng quý, nhưng cảm giác không vui sướng bằng việc nối thành công cái động mạch để cứu lại nguyên một phần thân thể cho bệnh nhân. Vì kết quả nó diễn ra ngay trước mắt: bàn tay đang tái héo, lạnh ngắt tự nhiên hồng hào và ấm dần lên ngay trên bàn mổ, cảm giác đó thật tuyệt vời!

13. Quy trình phân loại bệnh nhân (triage) và các quyết định y khoa/đạo đức khó khăn?

Khi nhân lực và các phương tiện y tế như máu, oxy đều cạn kiệt, mà thời gian mổ thì có hạn, việc phải quyết định ưu tiên mổ cho ai thực sự là những lựa chọn “sinh tử” vô cùng khó khăn đối với người thầy thuốc.

Nhiều lúc, giữa ranh giới sống chết mong manh đó, chẳng còn sách vở hay quy trình nào hướng dẫn nổi nữa, người bác sĩ đành phải dựa vào cảm tính và linh tính (intuition) của chính mình để đưa ra quyết định.

14. Việc điều trị cho thương binh phía bên kia, tinh thần Y đức và Lời thề Hippocrates?

Về nguyên tắc trung lập y khoa (Medical Neutrality): trước vết thương và ranh giới giữa sự sống với cái chết, chúng tôi chỉ nhìn thấy bệnh nhân chứ không còn khái niệm bạn-thù.

Đứng trước thương binh phía bên kia, người bác sĩ chỉ đơn thuần thực thi Lời thề Hippocrates và bổn phận cứu người.


III. BỐI CẢNH, CON NGƯỜI & DI SẢN

Câu 15–21

15. Nguồn tin quân sự thời điểm đó: radio, cố vấn Mỹ, bệnh nhân... so với thực tế được biết sau này?

Khi bệnh viện hoàn toàn bị cô lập, tôi không nắm được nhiều thông tin quân sự toàn cục. Dù có nghe được đài BBC, nhưng thời điểm đó “Mùa hè đỏ lửa” diễn ra đồng loạt nhiều trận đánh lớn trên toàn quốc, nên thông tin riêng về chiến trường An Lộc cũng rất hạn chế.

16. Mảnh ký ức/thời điểm tin rằng An Lộc sẽ thất thủ và nỗi sợ lớn nhất?

Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi không phải là cái chết thông thường, mà là cảm giác bất lực khi phương tiện y tế cạn kiệt không thể cứu chữa thương binh; hoặc nỗi sợ chính bản thân mình bị thương mà không có ai cứu chữa, vì tôi là bác sĩ giải phẫu duy nhất tại bệnh viện.

17. Đào tạo Y khoa Sài Gòn đã chuẩn bị được gì và không chuẩn bị được gì cho y khoa chiến trường?

Thực tế tàn khốc của một cuộc chiến tranh quy mô lớn là điều không một trường y hay sách vở nào có thể dự báo trước.

Trường Y khoa Sài Gòn chủ yếu trang bị kiến thức y khoa căn bản, chưa thể chuẩn bị nhiều cho y khoa chiến trường tàn khốc, nơi việc sơ cứu thông thường chỉ dừng ở mức băng bó và di tản thương binh như công việc của một y tá.

Toàn bộ kỹ năng và kinh nghiệm phẫu thuật chiến trường thực tế mà tôi có được đều nhờ vào một năm thụ huấn chuyên môn giải phẫu dã chiến tại Tổng Y viện Cộng Hòa.

18. Tri ân những con người lặng lẽ giúp bệnh viện tồn tại: y tá, tải thương, người cho máu, linh mục...?

Đó là những y tá, y công, người phụ gây mê, anh em tải thương, những người lặng lẽ dọn dẹp, đi tìm từng nguồn nước, từng cây nến, hay giúp chôn cất người tử thương...

Họ chính là những người đã giữ cho “nhịp đập” của bệnh viện tiếp tục duy trì, dù tên tuổi của họ không hề xuất hiện trong bất kỳ bản báo cáo chiến sự nào.

19. Tư liệu hình ảnh/slides: ai chụp, hoàn cảnh, bản gốc và các chứng từ liên quan để lập Archive?

Tất cả hình ảnh tư liệu trong cuốn nhật ký này đều được chụp bằng chiếc máy ảnh Canon cá nhân và sử dụng phim slides (dương bản). Trừ những bức ảnh có mặt tôi, các tấm ảnh còn lại đều do tự tay tôi bấm máy.

Năm 1972, khi từ An Lộc trở về Sài Gòn, tôi có hai cuộn phim slide chụp tại chiến trường. Vì không tin tưởng chất lượng rửa phim màu slide của các tiệm ảnh ở Sài Gòn lúc đó, tôi đã nhờ cô em gái (đang làm kế toán cho Văn phòng Cố vấn Quân sự Mỹ - US DAO) gửi hai cuộn phim này qua hệ thống PX (Post Exchange) sang Hawaii để tráng và rửa.

Đến năm 2002, khi chuẩn bị xuất bản sách, tôi chọn lọc những tấm slide rõ nét, không trùng lặp để rửa ra ảnh giấy láng. Sau đó, các bức ảnh này được in ra bằng máy photocopy màu để có khoảng trống bên dưới cho phần chú thích bằng chữ đánh máy.

Hiện tại, các hình in trên giấy và bản photocopies màu vẫn được giữ. Riêng các khay phim slide gốc thì không nhớ cất ở đâu.

20. Anh có nhắc tới mấy chi tiết không chính xác của bài báo TIME, June 26, 1972. Những chi tiết không đúng đó là gì?


                                    

Báo Time viết "An Lộc gần như đã bị bao vây từ khi cuộc tấn công của Miền Bắc Việt Nam bắt đầu vào ngày 30 tháng 3". Thật ra Ngày 30/3/1972 là ngày mở màn chính thức Chiến dịch Mùa Hè năm 1972 trên toàn lãnh thổ Việt Nam . Chỉ sau khi chiếm được Lộc Ninh ngày 7/4/1972, quân Bắc Việt mới liên tục pháo kích dữ dội trước khi bộ binh và xe tăng bắt đầu mở đợt tấn công đầu tiên để vây hãm thị xã ngày 13/4/1972.

Con số tổn thất 1.000 người chết trong báo cáo Time chỉ là con số ước tính tạm thời tại chỗ. Trên thực tế tổng số thường dân thiệt mạng do pháo kích và giao tranh tại khu vực An Lộc trong cả chiến dịch lớn hơn con số đó nhiều, chưa kể những người bị thương.

Khi phóng viên báo TIME vào An Lộc, phòng mổ dã chiến đã phải dời sang hầm ngầm (bunker) của Bộ Chỉ Huy rồi. Thành ra họ chỉ thấy một phòng mổ tương đối an toàn...  Họ đã không thấy được cảnh nguy hiểm trước đó: bệnh viện đã phải hứng chịu những trận mưa pháo kích liên tục mấy tuần đầu, mất sạch điện nước, thương binh và các xác chết tràn ngập, các trại bệnh và phòng mổ bị pháo sập hoàn toàn phải ngưng hoạt động...

21. Thông điệp gửi độc giả tương lai, năm 2030, và nội dung sẽ viết nếu bổ sung một trang cuối?

Trực tiếp chứng kiến chiến tranh, tôi mới hiểu rõ hơn cái sức tàn phá khủng khiếp của nó. Nó không chỉ húc đổ nhà cửa, cày xới phố phường, mà nghiệt ngã nhất là nó cướp mất tuổi thơ, hoài bão và mạng sống của bao nhiêu người trẻ. Càng về sau, vũ khí càng hiện đại thì sự mất mát lại càng rộng lớn.

Bởi vậy, tôi luôn nghĩ hòa bình chưa bao giờ là điều nghiễm nhiên, mà là thứ cần được vun đắp từ sự thấu hiểu và lòng bao dung của mỗi con người.

Mong các bạn dù có khác nhau về quan điểm, ngôn ngữ hay niềm tin, cũng đừng vội biến nhau thành thù nghịch. Khi có bất đồng, nếu mình chịu khó ngồi lại, lắng nghe nhau một chút trước khi phán xét, thì mọi thứ đã khác đi nhiều lắm. Đừng để những lời kích động hay định kiến làm lòng mình khép lại.

Nói về hòa bình nghe thì to tát, nhưng tôi thấy nó bắt đầu ngay từ những việc rất nhỏ mỗi ngày: một chút nhường nhịn người chung quanh, một lời nói ôn hòa, một bàn tay đưa ra giúp người yếu thế. Những điều tử tế nhỏ bé đó, cộng lại, sẽ giữ cho thế giới này bớt đi những mâu thuẫn.

Các bạn trẻ năm 2030 là những người nắm giữ tương lai. Mong các bạn dùng tri thức và công nghệ để kéo con người lại gần nhau hơn, chứ không phải để tạo thêm khoảng cách; dùng sự can đảm để bảo vệ sự sống và những điều tử tế.

Những đau thương của chiến tranh, thế hệ chúng tôi trót mang rồi, chỉ mong nó dừng lại ở đó. Mong sao các bạn sau này ai cũng được sống những ngày tháng thật bình an, tự do và tử tế với nhau.

BS Nguyễn Văn Quý
Ghi chép: Quách Thị Minh
Diamond Bar, California
Tháng 09/2026