Thursday, October 1, 2026

NGÔ THẾ VINH: LỜI GIỚI THIỆU "NHẬT KÝ AN LỘC" CỦA BS NGUYỄN VĂN QUÝ

Một Y Sĩ Tiền Tuyến giữa 86 ngày đêm lửa đạn

 

BS NGÔ THẾ VINH

 Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Thời gian đủ dài để những chiến trường năm xưa trở thành địa danh trong quân sử: Kontum, An Lộc, Quảng Trị. Những bản đồ hành quân đã ngả màu, những đơn vị tham chiến đã giải thể, nhiều người lính của cả hai phía không còn nữa. Nhưng chiến tranh, nếu chỉ được nhớ bằng những mũi tên đỏ xanh trên bản đồ, bằng số xe tăng bị bắn cháy hay những con số thương vong, thì vẫn còn thiếu một phần rất quan trọng: số phận con người ở bên trong cuộc chiến ấy.

 Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý giữ lại cho chúng ta phần ký ức đó.

 Tôi được đọc cuốn sách này từ trước năm 2002 dạng bản thảo khi anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, Giám đốc Nhà xuất bản Văn Nghệ California gửi cho tôi và cho biết đang chuẩn bị xuất bản tác phẩm này.  Trước hết không phải như đọc một tác phẩm quân sử. Tôi đã đọc Nhật Ký An Lộc từ tâm thế của một người cùng thế hệ, cùng bước ra từ một trường Y khoa Sài Gòn, và cũng từng khoác áo lính và hiểu rằng đối với một người thầy thuốc trong quân đội, có một thời điểm mà khoảng cách giữa giảng đường và chiến trường chỉ còn được tính bằng vài dặm đường.

 Và ở An Lộc năm 1972, với Nguyễn Văn Quý, khoảng cách ấy gần như không còn nữa.

 TỪ ĐẠI HỌC Y KHOA SÀI GÒN ĐẾN AN LỘC

Nguyễn Văn Quý tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn năm 1967, là con trai độc nhất trong 

một gia đình mà mẹ là quả phụ và em gái. Lẽ ra được miễn quân dịch, Quý vẫn tình nguyện 

gia nhập Khóa 10 Y Sĩ Trưng Tập năm 1968. Ban đầu, anh phục vụ trong một Trung đoàn Bộ 

binh. Sau mấy cuộc hành quân và đụng trận, chứng kiến tổn thất thương vong, anh nhận ra 

mình không thể làm được nhiều giữa trận địa, nên đã xin theo học khoá Giải Phẫu Dã chiến 

tại Tổng Y Viện Cộng Hoà. Một năm sau, anh tốt nghiệp và chọn về phục vụ tại Bệnh viện 

Tiểu khu Bình Long vì nơi này gần gia đình.

Anh tới Bình Long ngày 13 tháng 4 năm 1971.

Gần đúng một năm sau, chiến tranh tìm tới tận cửa bệnh viện.

Tháng 4 năm 1972, cuộc Tổng Công Kích Mùa Hè bắt đầu. Sau khi Lộc Ninh thất thủ, An 

Lộc trở thành mục tiêu của những cuộc tấn công dữ dội. Quốc lộ 13 bị cắt. Thành phố bị vây. 

Tiếp tế chủ yếu trông vào không vận. Pháo kích diễn ra ngày đêm. Quân nhân và thường dân 

thương vong ngày một nhiều.

Bệnh viện Bình Long từ một bệnh viện tỉnh nhỏ với trang bị thật thô sơ, bỗng trở thành một 

bệnh viện tiền tuyến.

Nguyễn Văn Quý từ một bác sĩ giải phẫu trở thành một Y Sĩ Tiền Tuyến đúng theo nghĩa 

trọn vẹn và khắc nghiệt nhất của danh xưng ấy.

Đó cũng là điểm khiến Nhật Ký An Lộc có một vị trí riêng.

Đã có nhiều sách viết về An Lộc từ góc nhìn của các đơn vị tác chiến, của những cấp chỉ huy, 

của các phóng viên chiến trường. Nhưng Nguyễn Văn Quý nhìn trận đánh từ một nơi khác: 

bàn mổ.

Ở đó, bản đồ hành quân được thay bằng những thân thể đầy thương tích.

Ở đó, một cuộc tấn công không được đo bằng số chiến xa xuất hiện ngoài phòng tuyến, mà 

bằng số thường dân và thương binh được khiêng vào bệnh viện.

Và ở đó, mỗi phút đều có thể là khoảng cách giữa sống và chết.

 

NHẬT KÝ ĐƯỢC VIẾT KHI CHƯA BIẾT NGÀY MAI

Có một khác biệt căn bản giữa nhật ký và hồi ký.

Người viết hồi ký đã biết kết thúc của câu chuyện. Người viết nhật ký thì không.

Nguyễn Văn Quý ghi lại những ngày An Lộc khi anh đang sống trong biến cố ấy. Anh không 

biết trận đánh sẽ kéo dài bao lâu. Không biết thành phố có đứng vững hay không. Và cũng 

không biết chính mình có còn sống để đọc lại những dòng đang viết.

Theo lời tác giả, lúc đầu anh còn có thể ghi chép khá đều. Nhưng khi chiến trận ngày càng 

khốc liệt, thương binh tràn vào bệnh viện, công việc giải phẫu liên tục, có những khoảng thời 

gian anh không còn thì giờ cầm bút.

Những khoảng trống ấy không phải là khuyết điểm của cuốn nhật ký.

Ngược lại, chúng là dấu vết trung thực của chiến tranh.

Có những ngày không thể viết được, bởi vì người bác sĩ phải dành từng giờ, từng phút cho 

những người đang chờ được cứu sống.

Ba mươi năm sau, tập nhật ký mới được xuất bản thành sách tại California năm 2002. 

Khoảng cách ba thập niên ấy cho phép tác giả bổ sung và sắp xếp một số dữ kiện, nhưng 

phần cốt lõi vẫn mang sức nóng của những ghi chép tại chỗ.

Và điều đáng chú ý hơn nữa: Nguyễn Văn Quý ban đầu không viết với ý nghĩ mình đang để 

lại một tài liệu lịch sử.

Anh viết cho gia đình.

Anh nghĩ rằng nếu mình chết ở An Lộc, mẹ và các em sau này ít nhất sẽ biết anh đã sống 

những ngày cuối cùng như thế nào.

Từ một động cơ rất riêng tư ấy, lịch sử đã giữ lại được một chứng từ.

 

254 CUỘC GIẢI PHẪU LỚN

Trong những con số của Nhật Ký An Lộc, có một con số khiến tôi dừng lại rất lâu:

254 cuộc giải phẫu lớn.

Nguyễn Văn Quý ghi nhận trong thời gian trận An Lộc, Anh đã thực hiện 254 trường hợp giải 

phẫu lớn, với sáu trường hợp tử vong tại chỗ; còn những thương binh sau mổ được di tản đi 

nơi khác thì anh không thể theo dõi được kết quả.

Với một bác sĩ, con số 254 không đơn thuần là một thống kê.

Mỗi ca là một con người.

Một vết thương bụng.

Một lồng ngực bị xuyên thủng.

Một cánh tay hay một cẳng chân không còn có thể giữ lại.

Một người lính mất quá nhiều máu.

Một người dân vừa được khiêng ra từ một căn nhà trúng pháo.

Và trước mỗi bệnh nhân là một chuỗi quyết định mà người bác sĩ phải đưa ra trong vài phút, 

đôi khi vài giây, với phương tiện hết sức giới hạn.

Ở một bệnh viện dân sự thời bình, bác sĩ giải phẫu có phòng mổ, ánh sáng, dụng cụ, ngân 

hàng máu, thuốc men, ê-kíp gây mê và các chuyên khoa hỗ trợ.

Ở An Lộc, tất cả những điều ấy có thể thiếu.

Chỉ có thương binh thì không thiếu.

Đọc những trang ấy, một người đã học và hành nghề y sẽ hiểu thêm sức nặng của hai chữ giải 

phẫu trong hoàn cảnh chiến trường.

Không còn là một ca mổ lý tưởng như trong sách giáo khoa.

Đó là y khoa của lựa thương.

Ai phải mổ ngay?

Ai có thể chờ?

Phần chân tay nào còn cứu được?

Khi nào một phần của thân thể phải cắt đi để cứu mạng?

Lượng huyết thanh ít ỏi còn lại dành cho ai?

Đó là những câu hỏi không một sinh viên y khoa nào muốn gặp, nhưng người Y Sĩ Tiền 

Tuyến có thể phải trả lời hàng ngày.

 

TRUYỀN THỐNG Y SĨ TIỀN TUYẾN

Nguyễn Văn Quý không phải một trường hợp đơn độc.

Anh thuộc về một thế hệ bác sĩ miền Nam mà chiến tranh đã đưa từ giảng đường vào quân 

đội.

Sau khi tốt nghiệp, nhiều bác sĩ trẻ gia nhập các khóa Y Sĩ Trưng Tập, rồi được đưa về các 

quân y viện, bệnh viện tiểu khu, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn hay những đơn vị tác chiến 

tổng trừ bị.

Họ có mặt từ Đồng Bằng Cửu Long tới Cao nguyên, từ miền Đông Nam phần tới vùng giới 

tuyến.

Có người làm việc trong những quân y viện lớn.

Có người sống với một đơn vị ngoài mặt trận, mang theo một túi y cụ nhỏ hơn rất nhiều so 

với nhu cầu của những thương tích mà họ sắp phải đối diện.

Họ là một thành phần của Quân Y Việt Nam Cộng Hòa, nhưng trước hết họ vẫn là những 

người thầy thuốc.

Đó là một nét cần được nhắc lại khi nói về truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến.

Người bác sĩ mặc quân phục, có cấp bậc và đơn vị. Nhưng khi một thương binh được đặt 

trước mặt mình, bổn phận y khoa vượt lên trên những phân chia khác.

Trong Nhật Ký An Lộc, bệnh nhân không chỉ có quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Còn có 

thường dân, người già, phụ nữ, trẻ em, và cả những người lính phía bên kia khi họ trở thành 

thương binh.

Một người đang chảy máu trên bàn mổ không còn là một khẩu hiệu chính trị.

Đó là một bệnh nhân.

Tôi nghĩ đây chính là phần đẹp nhất của truyền thống Quân Y: giữa một cuộc chiến mà 

nhiệm vụ của người lính là chiến đấu, nhiệm vụ của người thầy thuốc vẫn là cứu người.

Hai bổn phận ấy cùng tồn tại trong một bộ quân phục.

 

LÒNG CAN ĐẢM KHÔNG CẦN ĐƯỢC NÓI RA 

Điều tôi quý ở Nguyễn Văn Quý là anh không viết để dựng cho mình một tượng đài.

Trong sách có sợ hãi.

Có mệt mỏi.

Có lo âu.

Có những giây phút con người rất bình thường trước cái chết.

Và chính điều ấy làm cuốn sách đáng tin hơn.

Can đảm không phải là không biết sợ.

Người bác sĩ nghe tiếng pháo vẫn biết sợ như bất cứ ai. Nhưng khi thương binh được khiêng 

vào, anh vẫn trở lại bàn mổ.

Không cần một câu tuyên bố nào khác.

Có lẽ hình ảnh tiêu biểu nhất về Nguyễn Văn Quý ở An Lộc không phải hình ảnh một người 

cầm súng, mà là một bác sĩ cúi xuống một bệnh nhân trong khi bên ngoài pháo vẫn rơi.

Ở đó, lòng can đảm không mang hình thức của một cuộc xung phong.

Nó là sự ở lại.

Ở lại với bệnh viện.

Ở lại với thương binh.

Ở lại với trách nhiệm của một người thầy thuốc khi chính mạng sống của mình cũng không 

được bảo đảm.

 

MỘT CHỨNG TỪ Y KHOA VÀ MỘT CHỨNG TỪ NHÂN BẢN

Đọc Nhật Ký An Lộc hơn nửa thế kỷ sau, chúng ta có thể đọc cuốn sách trên nhiều tầng.

Đó là một tài liệu về trận An Lộc.

Đó là một chứng từ về đời sống của một thành phố bị vây hãm.

Đó là một tài liệu hiếm về hoạt động y tế và giải phẫu trong điều kiện chiến tranh.

Nhưng đối với tôi, giá trị lâu dài hơn cả vẫn là tính cách nhân bản.

Chiến tranh thường biến con người thành những con số.

Bao nhiêu chết.

Bao nhiêu bị thương.

Bao nhiêu mất tích.

Bao nhiêu tù binh.

Nhưng người bác sĩ không được phép nhìn bệnh nhân như một con số.

Trước mắt anh là một khuôn mặt.

Một cái tên.

Một mạch đập đang yếu dần.

Một huyết áp đang tụt xuống.

Một sinh mạng mà mình phải tìm cách giữ lại.

Vì vậy, nếu người lính ngoài chiến hào phải chiến đấu để giữ An Lộc, thì những người trong 

bệnh viện cũng có một mặt trận khác.

Mỗi sinh mạng cứu được là một phần đất của sự sống được giành lại từ chiến tranh.

 

ĐÃ HƠN NỬA THẾ KỶ SAU

Thế hệ chúng tôi nay đã đi rất xa khỏi tuổi hai mươi, ba mươi của những năm chiến tranh.

Nhiều bạn đồng môn đã mất.

Nhiều đồng đội không còn.

Những người từng sống sót qua An Lộc năm 1972 nay cũng ngày một ít đi.

Bởi vậy, việc tái bản Nhật Ký An Lộc không chỉ là đưa trở lại lưu hành một cuốn sách đã xuất 

bản từ năm 2002.

Đó còn là một hành động gìn giữ ký ức.

Ký ức ấy không cần được tô đậm thêm bằng những mỹ từ.

Những gì Nguyễn Văn Quý đã ghi lại đủ sức tự nói.

Và cũng không nên đọc cuốn sách này chỉ để tìm thêm những lý lẽ cho những tranh luận 

thắng thua kéo dài từ một cuộc chiến đã kết thúc hơn nửa thế kỷ.

Hãy đọc nó để hiểu một thế hệ.

Một thế hệ sinh viên y khoa vừa rời giảng đường đã mặc quân phục.

Một thế hệ bác sĩ chưa kịp có một phòng mạch riêng đã có một đơn vị.

Một thế hệ học cách cứu người trong khi chung quanh là chiến tranh.

Trong thế hệ ấy có Nguyễn Văn Quý.

Và trong 86 ngày đêm ở An Lộc, anh đã sống trọn vẹn căn cước của một Y Sĩ Tiền Tuyến.

Khi gấp lại những trang cuối của Nhật Ký An Lộc, điều còn lại trong tôi không phải tiếng đại 

bác, cũng không phải những bản đồ hành quân.

Tôi nghĩ tới một căn phòng mổ nhỏ giữa thành phố bị vây khổn.

Ngoài kia, chiến tranh vẫn đang tìm cách lấy đi mạng sống.

Bên trong, một người bác sĩ vẫn đang tìm cách giữ lại từng mạng người.

Hai sức mạnh đối nghịch ấy gặp nhau trên một bàn mổ.

Và có lẽ không có hình ảnh nào nói rõ hơn ý nghĩa của nghề y giữa chiến tranh.

Người lính có thể được lệnh rời một vị trí.

Nhưng người thầy thuốc không thể rời một thương binh đang cần mình

Đó là Nguyễn Văn Quý ở An Lộc năm 1972.

Đó cũng là một nét đẹp cần được ghi nhớ trong truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến, Quân Y Việt 

Nam Cộng Hòa.

Và đó là lý do, hơn nửa thế kỷ sau, Nhật Ký An Lộc vẫn cần được tái bản, lưu giữ và trao lại 

cho những thế hệ mai sau.

 

Hướng tới một ấn bản Anh ngữ học thuật

Lần tái bản 2026 này đồng thời mở ra một hướng đi kế tiếp: chuẩn bị ấn bản Anh ngữ của 

Nhật Ký An Lộc, nhằm đưa một chứng từ Việt Nam từ chiến trường An Lộc vào không 

gian nghiên cứu quốc tế. Trong tiến trình ấy, sự trao đổi và đóng góp của các học giả về 

Chiến tranh Việt Nam, lịch sử Đông Nam Á và quân y sẽ được trân trọng đón nhận.

Với dẫn nhập lịch sử, niên biểu, bản đồ, tư liệu, chú giải và thư mục chọn lọc, ấn bản tương 

lai hy vọng góp thêm một nguồn tư liệu trực tiếp của người Việt cho nghiên cứu về chiến 

tranh, y học và trải nghiệm con người.

 

BS Ngô Thế Vinh  

Long Beach, tháng 9/ 2026

  

Tuesday, September 29, 2026

Wednesday, September 23, 2026

TRẦN HUY BÍCH: Bài phát biểu trong lễ Tưởng niệm Thi sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG



Kính thưa Quý vị,

Trước hết, tôi xin phép được nói một chuyện nhỏ: Hồi nãy cô Diệu Quyên vừa nói là thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 6 tháng 9 năm 1976. Điều ấy đúng như Wikipedia. Có tài liệu ghi rằng ông mất ngày 7 tháng 9. Sự thực là ông qua đời lúc nửa đêm ngày 6 qua ngày 7 tháng 9. Bà Vũ Hoàng Chương tin rằng ông có linh giác khi viết câu “Đêm nào ta trở về ngôi,” in trong bài “Nguyện cầu,” bài thơ mở đầu tập Rừng Phong từ năm 1954. Qua nửa đêm thì thuộc về hôm sau, nên những người nói ông mất ngày 7 tháng 9 cũng có lý. Nếu đọc bài “Gặp bà Thục Oanh, nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương” của nhà văn Hoàng Quốc Hải, một nhà văn và biên khảo được nhiều người mến mộ ở trong nước, in trong cuốn Trắng Án Nguyễn Thị Lộ, rồi in lại trong cuốn Kẻ Sĩ Trước Thời Cuộc, thì chúng ta thấy rằng bà Thục Oanh, tức bà Vũ Hoàng Chương, cho biết là “thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn 1976, trước Trung Thu một ngày.” Bà Thục Oanh nhớ ngày giỗ theo âm lịch, và “trước Trung Thu một ngày” là một ngày dễ nhớ. Một nhà thơ có tình thân với ông bà Vũ Hoàng Chương, nữ sĩ Hoàng Hương Trang, cũng làm thơ tưởng niệm thi sĩ Vũ Hoàng Chương vào ngày 14 tháng 8 âm lịch.

Hiện nay chúng ta theo dương lịch. Nhiều gia đình cũng đã nhớ ngày giỗ theo dương lịch, nhưng chúng ta vẫn ghi nhớ những ngày theo âm lịch quan trọng như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, ngày Rằm tháng Bảy “Xá tội vong nhân.” Vì thế tôi xin thưa rằng theo âm lịch, hôm nay là ngày 10 tháng 8, ngày giỗ Nguyễn Du mà Vũ Hoàng Chương luôn luôn ghi nhớ, rồi 4 hôm nữa, Thứ Năm tuần này, là 14 tháng 8 âm lịch, một ngày trước Trung Thu, chính là ngày giỗ thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Nhận xét về Vũ Hoàng Chương tại hai miền Nam Bắc Việt Nam trong thời gian đất nước chia đôi và ít chục năm sau đó cũng khác nhau rất nhiều. Một người cháu gọi tôi là bác ruột nhưng sinh ra và lớn lên ở ngoài Bắc có lần nói chuyện với tôi về thơ văn. Cháu có khiếu về văn chương. Một lần trong câu chuyện tôi nhắc đến danh hiệu thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Cháu hỏi lại một cách thành thật và lễ phép: “Vũ Hoàng Chương có gì đáng nói đâu bác? Tác giả này phóng đãng và trụy lạc, thơ văn có ra gì đâu!” Tôi không ngạc nhiên vì biết rằng cháu được dạy như thế từ nhỏ, chỉ được biết về Vũ Hoàng Chương qua mấy câu của bài “Say đi em” (sau đổi tên là bài “Mời say”):

Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêng, cho điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa! và quên quên hết!

(Cháu không được cho biết những câu sau)

Cháu cũng được dạy rằng VHC” là nhà thơ đam mê nhục dục, thân xác,” chuyên ca ngợi những cảnh:

          Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải.

Không được đọc toàn thể bài “Tối tân hôn,” cháu không biết gì về những câu trước và sau của câu ấy:

          Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn

          Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nơi hạ giới

          Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn.

 

Theo nhà giáo, nhà văn Nguyễn Thông, tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà

Nội, được cử vào dạy ở trong Nam từ năm 1977, trong bài “Án văn 7”, đăng trên Văn

Việt ngày 5 tháng 9-2026 vừa qua (đúng nửa tháng trước đây), thì trong thời gian ông

còn ngồi trên ghế nhà trường:

“Ở miền Bắc những năm đó, Vũ Hoàng Chương bị án “tử hình về văn nghệ”, đã “chết” như khá nhiều người có số phận giống ông, những Đinh Hùng, Phạm Duy, Hồ Hữu Tường, Nhất Linh, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến… Thậm chí cả những tên tuổi như ... Nguyễn Bính, một hồn thơ hiền lành, đa cảm, tài hoa, Vũ Trọng Phụng vốn chả gây thù chuốc oán gì với họ, Khái Hưng ... của nhóm Tự lực văn đoàn… mà họ còn cấm tiệt thông tin, cấm tiệt xuất bản, loại hẳn khỏi sách giáo khoa và đời sống văn nghệ, huống hồ là những người đang sống, sáng tác trong chế độ “ngụy quyền.”

 Với chính quyền ở miền Bắc, văn nghệ phải đi với chính trị, tuyệt đối phục tùng chính trị. Chỉ cần trái ý họ, không làm theo lời họ là bị thi hành án, mà rõ nhất là Nhân văn – Giai phẩm với những nhân vật “chiếu trên” trong đời sống văn nghệ khi ấy như Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán…

Huống chi với một người như Vũ Hoàng Chương, họ luôn luôn coi là kẻ không đội trời chung, có tài mấy, hay mấy cũng phải bị hủy diệt, cả danh tiếng lẫn con người.

 Nhà giáo Nguyễn Thông sống ở miền Bắc trong ba thập niên, từ nửa cuối thập niên 1950 đến nửa đầu thập niên 1970, nên biết rõ việc Vũ Hoàng Chương bị chính quyền Bắc vĩ tuyến 17 đối xử thế nào:

 

Hầu hết dân Bắc những năm đó không biết gì về Vũ Hoàng Chương. Báo đài không đề cập, không nhắc tới. Sách giáo khoa lại càng không.

Cũng có lúc, rất ít ỏi, người ta nhắc tới Vũ Hoàng Chương và những người như ông, chẳng hạn Nhất Linh, nhưng là để… chửi. Đội ngũ những nhân vật phục tùng chính trị như Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận…, một số bạn bè cũ của Vũ Hoàng Chương, từng một thời khâm phục ông, ca ngợi ông, đề cao ông, nay quay ngoắt chửi ông ra rả, rằng “đồi trụy, trai gái, nghiện ngập, khốn nạn, điên khùng, phản động, thơ chẳng ra thơ, người chả ra người ...”

Nếu họ có nhắc tới Vũ Hoàng Chương, thường chỉ đưa ra những câu nhằm hạch tội, đủ thứ tội: “Say đi em/Say cho lơi lả ánh đèn/Cho cung bậc ngả nghiêng/Cho điên rồ xác thịt” (tội trụy lạc, trai gái), hay là: “Bao giờ ta trở lại cố đô/Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ” (tội phản động, “chống cộng,” thô bỉ, tàn bạo).

Câu thơ trên, Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ, không phải của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhưng ông Trần Bạch Đằng, Ủy viên Tuyên huấn Trung ương Đảng CSVN, qua bút hiệu Nguyễn Trương Thiên Lý, đã viết khơi khơi rằng “đó là thơ Vũ Hoàng Chương,” cốt để dân miền Bắc căm ghét, thù hận Vũ Hoàng Chương.

 Dân Việt ở phía Nam vĩ tuyến 17 nhìn thấy một Vũ Hoàng Chương khác, một nhà thơ hiền hòa:

 

          Ta van cát bụi trên đường

          Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này (1954)

 

          Nghe được từ lâu cá thở than

          Hôm nay mới sõi tiếng cây ngàn.

          Bao giờ tôi hiểu sâu lòng đất

          Là thấy đường lên cõi Niết bàn (1962)

 

          Thi sĩ Việt, trong tay không tấc sắt

          Chưa giết một ai trên nẻo luân hồi

          Vàng hoen máu không một lần để mắt... (1965)

         

          Tạo “duyên” thay “nghiệp,” dây Oan gỡ

          Hiểu “sắc” là “không,” bến Giác kề  (1967)

 

          Ta đứng trông về cái chính ta

          Hồn xanh trong nếp áo thu già

          Cánh tay xưa níu trời cao mãi

          Nay chống ô chờ đất nở hoa (1972).

 

          (So với năm 1954: Để ta tròn một kiếp say

          Cao xanh liều một cánh tay níu trời).

 

Với miền Nam, Vũ Hoàng Chương được coi là một nhà thơ có niềm thông cảm với người dân, đã nói lên những điều người dân không thể nói hay không dám nói:

          Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý

          Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Những người tìm cách vượt biển những năm cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980 ... thấy thơ Vũ Hoàng Chương nói lên cảnh ngộ của họ:

          Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa 

        Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh...

          Bể vô tận sá gì phương hướng nữa

          Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh...

 

Dân miền Nam biết rằng nhà thơ Vũ Hoàng Chương có một nhược điểm: đau đớn cho mối tình đầu theo đuổi trong gần 10 năm bị tan vỡ, nhà thơ – từ hồi còn trẻ -- tìm quên trong khói thuốc phiện (nàng tiên nâu), rồi sau trở nên nghiện, không bỏ được. Chúng ta thông cảm cho nỗi đau đớn ấy:

          Men khói đêm nay sầu dựng mộ

          Bia đề tháng sáu, ghi mười hai

          Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc

          Tố của Hoàng nay Tố của ai.

Ngoài nhược điểm ấy, Vũ Hoàng Chương không phải là một kẻ trụy lạc, bê tha, phóng đãng ... như nhà cầm quyền miền Bắc muốn mô tả.

 

Sự kiện tác giả bài “Say đi em” không phải là một dân ăn chơi được một người bạn thân của ông, nhà thơ Tô Kiều Ngân, xác nhận:

“Đọc thơ Vũ Hoàng Chương, với những câu:

Say đi em, say đi em

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

Nhiều người tưởng là ông rượu chè be bét. Kỳ thực Vũ không uống được rượu, hoặc uống rất ít. Mà đó là hồi còn trẻ, ở Hà Nội. Từ khi quen anh ở Sài Gòn, tôi chưa bao giờ thấy anh say sưa.”

 Họa sĩ Tạ Tỵ cũng cho biết ông có hai người bạn trong giới văn nghệ không uống được rượu, một trong hai người ấy là Vũ Hoàng Chương. Nhà thơ Tô Kiều Ngân cho biết tiếp:

 “Vũ cũng không biết nhảy đầm mặc dầu tả nhảy đầm rất hay... Có thể lúc còn trẻ Vũ đã đi nhảy đôi lần. Còn khi vào Sài Gòn chẳng thấy anh chuyện trò gì về khiêu vũ. Một người quen mặc áo gấm, áo the, đi guốc mộc hay giày hạ như anh hẳn là lạ lẫm lắm với cảnh bốn tường gương điên đảo. Hỏi anh Grand Monde ở đâu, Croix du Sud, Tabarin, Mỹ Phụng ở đâu (tên các tiệm nhảy danh tiếng ở SG), anh lắc đầu bảo ‘không biết’.”

 Với miền Nam, Vũ Hoàng Chương còn là một nhà giáo được hầu hết học sinh kính trọng và quý mến. Nhà văn Song Thao nhớ lại kỷ niệm cùng mấy người bạn đến thăm, chúc Tết thầy đầu năm Bính Thân 1956:

“Chúng tôi ngỏ ý cáo từ để Thầy nghỉ thì Thầy khoát tay bảo chúng tôi ngồi lại. Thầy lấy mực và một xấp giấy đỏ ra để tặng chữ, tặng thơ kỷ niệm. Không khí vui nhộn hẳn lên. Chúng tôi lật những tập thơ của Thầy ra tìm những câu thích nhất để xin Thầy viết. Có anh lại xin Thầy một đôi câu đối chữ Hán... Thầy chỉ khẽ mỉm cười vung tay viết ra những chữ đẹp như vẽ. Chỉ cần nhìn vào nét chữ cũng đủ thấy cái tài hoa khôn sánh của Thầy. Mỗi chữ lững lờ như tiềm tàng niềm ngây ngất ẩn dấu. Thấy chữ như buông thả mà trong chữ dường như có tâm sự riêng...

 

... Trên đường về tôi cười một mình khi thấy sao mà cảnh tết thầy vừa rồi giống như cảnh tết thầy của một thời xa lắc xa lơ khi các cụ đồ nho ngồi dạy học được coi như những bậc quân tử được mọi người bái phục, kính nể. Sự so sánh lẩm cẩm này làm nẩy sinh ra một câu hỏi. Vì sao Thầy lại có một chỗ đứng riêng biệt trong lòng chúng tôi như vậy? Bởi vì chúng tôi mến mộ thi tài của Thầy? Bởi vì chúng tôi quí trọng tư cách của Thầy? Bởi vì chúng tôi yêu mến Thầy? Bởi vì chúng tôi xót xa cho sức khỏe của Thầy? Bởi vì chúng tôi trân trọng cố gắng truyền đạt kiến thức của Thầy? Có lẽ phải cộng tất cả những cái ‘bởi vì’ này mới có một câu trả lời tạm đầy đủ”

 

Hồi nãy cô Ysa vừa cho biết là thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm Chủ tịch Văn Bút Việt Nam từ năm 1964 đến 1968. Theo nhà văn Nhật Tiến, sau khi không giữ nhiệm vụ Chủ tịch nữa, nhà thơ Vũ Hoàng Chương vẫn rất quan tâm đến Văn Bút trong cương vị Cố vấn. Nhà văn Nhật Tiến viết, “Sau này, trong vai trò Cố vấn Văn Bút, thi sĩ vẫn rất siêng năng đi họp. Ông ngồi đấy, nhìn những đàn em với cặp mắt hiền từ, bao dung, như sẵn sàng chia sẻ với mọi người trong các vấn đề đang bàn thảo...”

 

Là một trong những học trò cũ của nhà giáo, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, bạn cùng lớp với anh Song Thao, tôi có ý định viết một cuốn sách về thầy mình từ khoảng năm 2016 nhưng những năm ấy chưa gom góp được đủ tài liệu. Nhờ nhà sưu tầm thơ Trần Ngọc Khôi đã tìm lại được đầy đủ các tác phẩm của Vũ Hoàng Chương, từng được in thành thi tập hay được đăng rải rác trên các báo, tạp chí, đặc san của miền Nam trong những năm 1954-1975, công việc của tôi bớt khó khăn. Nhờ sự cố gắng của một số vị có lòng với lịch sử và văn hóa như nhà giáo Huỳnh Chiếu Đẳng với sự tiếp tay của kỹ sư Võ Phi Hùng, như nhà văn quá cố Trần Hoài Thư, nhiều sách báo, tạp chí của miền Nam trước biến cố 1975 như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Sáng Tạo, Khởi Hành, Văn Hóa Nguyệt San ..., các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận, Chính Luận, Tiền Tuyến, Hòa Bình, Tiếng Chuông, Sống, Sóng Thần ... dần dần được phục hồi, giúp tôi có cái nhìn tạm đầy đủ về lịch sử và xã hội miền Nam trong những năm ấy, nên mới dám khởi sự viết. Tuy tôi được mấy người bạn tận tâm giúp đỡ, công việc của một nhóm 4, 5 người khó có thể toàn hảo. Ước mong khi đọc sách, các bậc thức giả thấy có chỗ nào thiếu sót hay chưa hoàn toàn chính xác, xin vui lòng chỉ cho biết để khi tái bản, sách được hoàn chỉnh hơn, chúng tôi xin thành thật cảm ơn trước.

 

Ngoài bìa sách có ghi tên Gs Phạm Thị Lệ-Hương, một người bạn chúng tôi, nguyên là giáo sư và Quản thủ thư viện tại Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Ở bìa sau cũng in lời của Gs Lệ Hương về việc biên soạn một Thư tịch chú giải thật đầy đủ về Vũ Hoàng Chương, một tài liệu sẽ rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu lớp sau, nhưng trong tập sách phát hành hôm nay chưa có bản Thư tịch ấy. Lý do là gần tới ngày đưa sách đi in,  bản Thư tịch vẫn có chỗ cần được bổ túc. Trước cuối năm nay, chúng tôi sẽ in tập 2 của bộ sách với bản Thư tịch với những lời chú giải ấy. Trong tập 2 cũng sẽ có một số bài về bà Vũ Hoàng Chương, (cũng là chị ruột của nhà thơ Đinh Hùng), một nhân vật rất quan trọng đối với thi nghiệp của Vũ Hoàng Chương mà theo nhận xét của họa sĩ Tạ Tỵ, “Đó là một người có tình thương yêu vô lượng, có sức chịu đựng phi thường,” và, “Sự nghiệp của Vũ Hoàng Chương được thành quả, một phần cũng bởi lòng hy sinh cao cả và ý chí sắt son của tâm hồn khả kính ấy.” Chúng tôi cũng sẽ cho in trong tập 2 một số thơ tưởng niệm Vũ Hoàng Chương rất đặc sắc nhưng phát hiện được trễ, sau khi đưa tập 1 đi in.

 

Cám ơn Quý vị đã đồng cảm với ý nghĩ “nên có một hình thức tưởng niệm dành cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương” hôm nay:

--Một nhà thơ có chân tài,

--Một tâm hồn nhân hậu,

--Một tư cách khảng khái,

--Một vị thầy được học sinh kính ngưỡng,

--Một người cầm bút với nhiều từng trải, rất quan tâm tới tập thể cùng tới thế hệ sau.

 

Xin cám ơn sự lưu tâm lắng nghe của toàn thể Quý vị.

 

Trần Huy Bích

 



         Hình bàn sách: 
Quầy sách tại chương trình Năm Mươi Năm 
Ngày Giỗ  thi sĩ Vũ Hoàng Chương: 
Thúy Hằng, Quyên Trần và Janine Trang Nguyễn. (Ảnh: Thanh Huy.)