Nhà báo, nhà văn, nhà thơ
Trúc Chi.
Trúc Chi là bút hiệu của Tôn Thất Kỳ. Anh sinh năm 1934 tuổi Giáp Tuất,
học ở Huế và Đà Lạt. Vào ngành thông tin báo chí năm 1960 tại Luân
Đôn, là biên tập viên ban Việt Ngữ đài BBC. Đã từng theo dõi và tường thuật Hội Nghị Geneve về vấn
đề Lào (1960-1961) khi cộng tác với giáo sư Tôn Thất Thiện. Giáo sư Thiện bấy giờ phụ trách thông tin
trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị. Một phần kinh nghiệm thông tin
quốc tế này giúp cho Trúc Chi được nhận làm thông tín viên thực thụ của hãng
Reuters Luân Đôn sau khi rời đài BBC vào năm 1967. Đã được phái đi công tác ở
một số quốc gia Đông Nam Á kể cả Việt Nam. Tại Singapore, từng làm chủ biên ban
tin tức Việt – Miên – Lào của Reuters.
Trúc Chi dùng bút hiệu Nguyễn Phúc trong các bản tin,
dịch thuật và phỏng vấn, anh có nhiều thơ đăng trên Văn Học, Thế Kỷ 21, ngoài
ra anh có 2 cuốn tùy bút: Đó Đây và Gỗ & Đá; trong năm 2000 nhà văn Phạm
Xuân Đài đã nhận xét “có thể nói ngay mà không sợ lầm, đây là cuốn tùy bút hay
nhất trong mấy năm gần đây ở hải ngoại.”
BAN VIỆT NGỮ ĐÀI BBC
Ngồi: Xuyến Như và Hữu Đại
Đứng: từ trái sang phải,
Trần Minh, Xuân Kỳ, Nguyễn Phúc
(Nguyễn Phúc là bút hiệu
của Trúc Chi trong ngành truyền thanh)
Bút hiệu Trúc Chi
Tôi có hai ông anh có trí nhớ cự phách siêu phàm “Mắt nhìn qua đã thuộc,
mở miệng thành văn chương / Quá mục thành tụng, xuất khẩu thành chương” là anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ và anh Từ Mai Trần Huy Bích. Đó là vạn
hạnh của người em nhỏ này, để tôi được nhắc nhở, được khuyên bảo, được lắng nghe thật nhiều chuyện đông tây kim cổ, đủ viết thành một pho sách dầy.
Anh đáp ngay: “tên Chi trong bút hiệu Trúc Chi không phải
là cành 枝 mà là
Chi 之 như
Chi Hồ Giả Dã do tôi bắt chước tên tự của ông Nội là Lạc Chi”.
(Ông Nội của anh Trúc Chi là Phò Quang Quận Vương Tôn
Thất Hân hiệu Liên Đình tự Lạc Chi, là cháu đời thứ Sáu của chúa Hiền Vương
Nguyễn Phúc Tần. Ngài là tôn sinh Quốc Tử Giám, lần lần thăng Bố chánh, Tuần vũ,
Tổng đốc, từng làm Thượng Thư Bộ Hình, Phụ Chánh đại thần, Phò Quang Quận Công,
Phò Quang Quận Vương dưới thời các Vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại.
Năm 1925, sau khi vua Khải Định qua đời, vua Bảo Đại đang
du học tại Pháp, ngài được cử làm Nhiếp chính thân thần, xử lý các công việc
cho đến khi vua Bảo Đại hồi loan).
Anh
Trúc Chi hân hoan: ông Đào Trinh Nhất là bạn của bác tôi, hân
hạnh được nhìn thấy ông ở nhà bác ngày còn nhỏ, hồi tôi mới biết viết biết đọc.
Hiền thê của anh Trúc Chi
Trong
lần gặp anh chị Trúc Chi ở nhà anh Từ Mai, anh Trúc Chi khoe: Dzung có biết tôi
tuổi Tuất mà Đoan Thư tuổi Thìn nên người ta khen tôi là chó ngáp phải rồng, tôi không nén được cười rinh rích trong khi anh
tỉnh bơ.
Chị
Đoan Thư giòng dõi trâm anh thế phiệt như anh, chị hết sức xinh đẹp mảnh mai
tao nhã, điều ấy trùng hợp với cung Hôn Phối của anh Trúc Chi, là sự truyền
tinh giữa hai lá số: Cơ Lương đắc địa, Khôi Việt, Thiên Nguyệt Đức, Thiên Quan
Quý Nhân.
Cùng thích Số Tử Vi
-Quá khen, Vui chút vậy thôi. Tuổi này rồi còn số chẵn số lẻ gì nữa.
Ừ đêm tháng Sáu Mười Hai nhỉ
Riêng tôi, những chiều Nguyên Tiêu, những tối Thất tịch, những
sáng Lập Xuân hàng năm thường gửi các bài thơ hợp mùa hợp cảnh đến anh, lúc thì
Nguyên tịch của Âu Dương Tu, khi là câu thơ năm chữ của một ẩn sĩ đời Tấn, khi
là bài thơ Mưa viết trong tết Hàn Thực của Tô Đông Pha.
Anh Trúc Chi rất thưởng thức câu “Phù vân du tử ý,
Lạc nhật cố nhân tình”. Người đi là
đám mây, Kẻ ở là chiều tà. Quá đẹp. Lời anh thật đúng ý tôi hết chỗ nói: em
cũng yêu Lý Bạch, anh biết Hành Đường Thoái Sĩ mê câu “Yên hoa tam nguyệt há
Dương Châu” lắm không, ông phê câu ấy là “Thiên cổ lệ cú”, em cũng yêu “Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng
Lăng” vì tháng Ba là tháng của em. Anh có ý kiến riêng: tôi lại mê cái bát ngát
của câu kế tiếp “Cô phàm viễn ảnh bích không tận”.
Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu
“San sẻ với các bạn chút vui riêng tư. Bài thơ mà tôi chép dưới đây, tôi làm trong một buổi họp bạn năm 1994 gồm mấy anh em thân với nhau từ thời trung học (Quốc học Huế, Yersin Đà Lạt). Hai mươi lăm năm rồi, cả một lũ bốn năm thằng nay chỉ còn sót lại mỗi mình tôi. Chính tôi cũng quên rằng mình có làm bài Đường luật này cho đến cách đây khoảng ba tuần, em của một người bạn trong nhóm tình cờ gặp bản chép tay của tôi trong mớ thư từ cũ, gửi lại tôi xem. Dĩ nhiên thấy NÓ là tôi nhớ ngay. Trước năm 1994, tức là trước 60 tuổi, tôi có làm một số thơ Đường luật gửi tặng bạn bè ....bốn phương. Có ngay cả môt bài tặng ông Quách Tấn nữa, to gan chưa? Nếu tôi không lầm thì bài Họp Bạn này là bài Đường luật cuối (và duy nhất mà tôi còn có trong tay). Thấy lại NÓ, mừng và vui nhưng cũng tiếc và nhớ quay quắt mấy người bạn đã rẽ sang lối về thiên cổ. Bài này tôi suy nghĩ rồi viết xong giữa hai ly rượu. Ly thứ hai được rót ra từ chai rượu vang trong đó chỉ còn vừa đúng một ly mà một người bạn của tôi nói "thưởng trước cho mi một ly nhưng mà phải làm cho xong bài thơ!" Cho nên tôi mới bảo các bạn tôi khui thêm chai nữa sau khi đọc to hai câu kết. Xem lại, không đến nỗi quá hổ ngươi (mắc cỡ).
Họp Bạn
Mới đó mà nay đã bạc đầu
Cầm tay cười khóc chuyện xưa
sau
Này thơ này rượu câu tâm sự
Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu
Tàn lớp phế hưng chừng mất cả
Già đời lưu lạc may còn nhau
Quí rồi! buổi loạn cầu chi nữa
Khui nốt chai kia phá trận sầu
Trúc Chi
(1994)
Tái bút: Cái tứ "Chúng ta mất hết chỉ còn nhau" của
thi sĩ Vũ Hoàng Chương nằm sẵn trong tiềm thức tôi! Khi viết xong toàn bài mới
thấy nó hiện ra. Xin thắp một nén tâm hương mà tạ thi hào họ Vũ.
Vạn lý bi thu thường tác khách
Tôi gửi anh nhận xét của La Đại Kinh, học giả đời Nam
Tống phân tích Đăng Cao rất kỹ, chỉ trong 14 chữ “Vạn lý bi thu thường tác
khách, Bách niên đa bệnh độc đăng đài” có đến tám điều đáng buồn: làm lữ khách
nơi đất lạ là điều buồn thứ nhất, luôn làm lữ khách là điều buồn thứ hai, làm
lữ khách nơi vạn dặm là điều buồn thứ ba, đúng vào mùa thu se sắt là điều buồn
thứ tư, tuổi đã già việc chưa thành là điều buồn thứ năm, bằng hữu người thân
đã khuất là điều buồn thứ sáu, cô đơn lên đài là điều buồn thứ bảy, thân bệnh
tật là điều buồn thứ tám. Đăng Cao được mọi người tôn là “cổ kim thất ngôn luật
đệ nhất” một trong những kiệt tác tiêu biểu nhất của thơ Đường mà Đỗ Phủ là nhà thơ kiệt xuất nhất trong thể loại này.
Nắng chiều sưởi mấy
đóa tàn
Ấm thay một nét hân
hoan bất ngờ
Thoáng nụ cười
trong tứ thơ
Vui nhanh kẻo mất
giữa vô thường này
Khổ thơ sáu
tám, bốn dòng giản dị mà ý tứ sâu sắc khiến tôi nhớ về Lý Bạch, “nhi phù sinh
nhược mộng, vi hoan kỷ hà” mà kiếp phù sinh như mộng, vui được là bao. Tôi yêu
thích bốn chữ “Vui nhanh kẻo mất” phong thái tự do tràn đầy thi hứng trước vũ
trụ bao la không ngừng thay đổi muôn hình vạn trạng mà niềm vui kiếp nhân sinh thì
vô cùng bé nhỏ hữu hạn.
Cõi trần ta lại lè kè túi thơ
Chiều rồi chút bệnh mà hay
Gánh nghiệp bớt nặng cho ngày ra đi
Kiếp sau duyên có dẫn về
Cõi trần ta lại lè kè túi thơ.
Đây là lần đầu tôi thấy hai chữ “lè kè” trong bài thơ,
nghe duyên dáng làm sao, đó là cách dùng chữ ngộ nghĩnh sáng tạo của anh. Tôi
thưa với anh tôi thích chữ “dẫn” trong câu lục “Kiếp sau duyên có dẫn về” anh
bảo mình thấm đạo Phật là nhờ vào mẫu thân, “dẫn” đây là duyên đưa đến, không
có cái tình cờ trong nghĩa triết học.
Dăm hàng lục bát thương về sau xưa
Vần thơ gieo giữa vô thường
Bể dâu thế ấy đoạn trường thế kia
Vạch trên rêu đá xanh rì
Dăm hàng lục bát thương về sau xưa.
Kiếp sau duyên có dẫn về
Sau bữa ăn các anh chị ra salon nói chuyện văn chương, tôi xích lại gần
bàn xôi vò chè đường, chị Lệ-Hương nấu xôi vò chè đường và làm xôi gấc rất
ngon, mà sao các anh vô tâm thế, cứ nhởn nha nhởn nhơ chuyện thơ văn mà không
chịu để ý đến cái bàn xôi chè này, anh Trúc Chi đi ngang nghiêng đầu ngẫm nghĩ một
vài giây rồi khuyến khích "thêm 8 bát chè này có lẽ tạm đủ cho Dzung tráng
miệng rồi đấy, tôi không ăn, Dzung cứ ăn phần của tôi". Tôi khúc khích vào hùa với
anh “Sinh ra em là cha mẹ, mà hiểu em chỉ có anh Trúc Chi. Sinh ngã giả phụ
mẫu, tri ngã giả Trúc Chi dã.”
Yêu thích tính cách trẻ trung tinh nghịch của anh nên thỉnh thoảng tôi gọi anh là Lão Ngoan Đồng, mấy hôm sau nhận thư anh ký tên Ngỗng Loan Đào. Nghe tên Ngỗng Loan Đào có khác gì một món ăn cực phẩm của miền sông nước Giang Nam không chứ.
HỮU SỞ TƯ
Tháng 10-03-2026
Một số sáng tác văn, thơ của
Trúc Chi Tôn Thất Kỳ có thể tìm đọc ở: https://tranhuybich.blogspot.com/p/truc-chi-ton-that-ky.html