Sunday, October 11, 2026

TRỊNH Y THƯ dịch & giới thiệu: JAMES JOYCE. Dubliners. Những kiếp sống mòn

 

Văn Học Press

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978

email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press

                                          

PR 10/10/2026

SÁCH MỚI

                      

Trân trọng giới thiệu:

 

JAMES JOYCE

Dubliners

Những kiếp sống mòn

Tập truyện

 TRỊNH Y THƯ dịch & giới thiệu

Tranh & thiết kế bìa ĐINH TRƯỜNG CHINH

VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026

   

 Lời người dịch

 Trước khi vào sách

 Tập truyện Dubliners là tập hợp mười lăm truyện ngắn của James Joyce, xuất bản lần đầu năm 1914. Hãy tưởng tượng một thành phố che phủ trong màn mưa và sự hối tiếc, nơi những giấc mơ đông lại thành nỗi thất vọng và cuộc sống vang vọng tiếng leng keng rỗng tuếch của biết bao tiềm năng chưa hoặc không được khai mở. Đó là thành phố Dublin, Ireland vào đầu thế kỷ XX, làm bối cảnh cho toàn bộ tập truyện, những câu chuyện miêu thuật cuộc sống thường ngày của cư dân thành phố và cho người đọc một bức chân dung sâu sắc và thường mang tính mỉa mai phê phán về xã hội, văn hóa và chính trị của thời đại đó. Mỗi câu chuyện là một cái nhìn thoáng qua về cuộc sống của những người dân Dublin bình thường, khắc họa những cuộc đấu tranh, mong muốn và khát vọng của họ, một bức tranh thu nhỏ nhưng phức tạp, ghi lại nỗi tuyệt  vọng  câm lặng  và  nỗi  thất vọng  âm ỉ  của cuộc sống  bị  mắc kẹt  trong  một vòng  xoay  trì  trệ,  dường như không lối thoát.

 Sự quan sát tinh tế và phong cách kể chuyện sống động của Joyce đã nắm bắt được những sắc thái của trải nghiệm con người, phản ánh các chủ đề như sự tê liệt, sự thức tỉnh và tính phức tạp trong các mối quan hệ của con người.

 Những nhân vật trong các truyện đều có chung một định mệnh nghiệt ngã. Ông Kernan, một người đàn ông từng là người kiêu hãnh, bị dìm xuống bởi chứng nghiện rượu và sự khinh miệt của xã hội. Cô Eveline, một cô gái trẻ đứng chênh vênh trên bờ vực, dù trong lòng rất muốn trốn thoát khỏi cuộc sống giam hãm tù túng bởi bổn phận và truyền thống, nhưng không thoát ra được vì xích xiềng của các điều đó trì kéo cô lại. Little Chandler, một người đàn ông khao khát đam mê nghệ thuật, chỉ tìm thấy đống tro tàn nguội lạnh của một cuộc hôn nhân không tình yêu. Và rất nhiều các nhân vật khác điển hình như vậy trong tập sách. Mỗi nhân vật, được Joyce tinh tế tạo dựng, trở thành một hợp âm buồn thảm trong bản giao hưởng về sự vỡ mộng của thành phố Dublin.

 Những câu chuyện dẫn dắt người đọc đi quanh co qua những con phố lát đá cuội và những quán rượu mịt mù khói thuốc, cho thấy sự kềm kẹp ngột ngạt của những ràng buộc xã hội, giáo điều tôn giáo và khó khăn kinh tế. Tham vọng cùng hoài bão của biết bao con người cứ thế héo mòn dần trong không khí ẩm ướt của sương mù và những trận mưa, thay vào đó là sự chấp  nhận  cái  tầm  thường  một  cách  đầy  cam  chịu. Tiếng cười, khi xuất hiện, nhuốm màu sắc mỉa mai, che giấu sự bất mãn gặm nhấm âm ỉ bên dưới bề mặt.

 Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.

 Dubliners không phải là một cuốn sách mang đến sự thoải mái êm ái hay những giải pháp ấm lòng cho người đọc. Nó là tấm gương phản chiếu một xã hội đang trong tình trạng trì trệ, buộc ta phải đối mặt với những hạn chế của cuộc sống và những lựa chọn mà ta đưa ra. Nó là bức chân dung hôn ám về khát vọng, sự thất vọng và nỗi đau cay đắng ngọt bùi của những kiếp sống vô vị, không trọn vẹn.

 Người đọc có thể không tìm thấy câu trả lời dễ dàng cho những vấn nạn nhân sinh mà Joyce đưa ra trong tập truyện, nhưng trong bản giao hưởng đan kết những nỗi buồn của kiếp sống, người đọc vẫn có thể nghe thấy văng vẳng vài nốt nhạc xanh yếu ớt của hy vọng, một giai điệu thì thầm vươn lên len lỏi trong nỗi tuyệt vọng dày đặc của kiếp người.

 

Tập truyện này của Joyce được giới phê bình văn học đánh giá như là sự đổi mới trong văn học, với việc Joyce sử dụng các kỹ thuật hiện đại và phong cách tự sự đặc biệt mà sau này trở thành dấu ấn trong các tác phẩm văn học khác của ông. Xuyên qua việc khám phá những điều tầm thường lẫn phi thường trong cuộc sống của người dân Dublin, Joyce đưa ra một bình luận sâu sắc về thân phận con người. Với một văn phong gợi cảm và cái nhìn xuyên thấu tâm lý con người đã biến Dubliners trở thành một tác phẩm văn học kinh điển được ca ngợi và có sức sống trường tồn trong nền văn học Tây phương.

 

*

   


 Đôi dòng tiểu sử James Joyce

 James Joyce là một nhà văn được xem là tiên phong của chủ nghĩa Hiện đại. Những cách tân của ông trong phong cách tự sự, đặc biệt là kỹ thuật “dòng ý thức”, đã đưa ông trở thành một trong những tác giả tầm vóc đặc biệt, có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX.

 Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1882 tại Rathgar, Dublin, là người con cả trong một gia đình Công giáo đông con và gặp nhiều khó khăn về tài chính. Ông theo học tại trường Clongowes Wood, trường Belvedere, và sau đó là Đại học Dublin (University College Dublin), nơi ông theo học chuyên ngành ngôn ngữ hiện đại.

 Năm   1904,   Joyce   rời   Ireland   cùng   vợ    là  Nora Barnacle, bắt đầu một cuộc sống lưu vong tự nguyện tại lục địa châu Âu. Ông đã sống tại Pola, Trieste, Zurich và Paris, chủ yếu tự nuôi sống bản thân bằng nghề dạy tiếng Anh. Trong những năm tháng này, ông đã sáng tác và xuất bản những tác phẩm định hình cho nền Văn học Hiện đại Tây phương.

 Văn phong của Joyce định hình hình thức tự sự xuyên qua kỹ thuật độc thoại nội tâm, các cấu trúc biểu tượng và những thử nghiệm táo bạo về ngôn ngữ. Các tác phẩm chính của ông bao gồm:

 ·       Dubliners (1914): Tập truyện ngắn khắc họa sự trì trệ, bế tắc trong đời sống tại Dublin.

·       Portrait of the Artist as a Young Man (1916): Tiểu thuyết mang tính bán tự truyện, theo dấu quá trình trưởng thành và phát triển của nhân vật Stephen Dedalus.

·       Ulysses (1922): Thiên sử thi Hiện đại mang tính đột phá của ông, tái hiện hành trình tương tự như trường thi Odyssey của Homer nhưng diễn ra chỉ trong vỏn vẹn một ngày tại Dublin.

·       Finnegans Wake (1939): Tác phẩm mang tính thử nghiệm cao, là một câu chuyện kể về giấc mơ được thể hiện qua sự pha trộn của nhiều ngôn ngữ khác nhau.

 Trong Thế Chiến thứ nhất, Joyce dành phần lớn thời gian sinh sống tại Zurich, sau đó chuyển đến Paris và sống tại đó cho đến năm 1940.  Ông qua đời tại  Zurich vào ngày 13  tháng  1  năm 1941  sau một ca phẫu thuật điều trị chứng loét dạ dày.

 Joyce  được  tôn  vinh  là  một  trong  những nhà văn quan trọng nhất của trường phái Hiện đại trong văn học, được ngưỡng mộ nhờ những kỹ thuật tự sự mang tính cách tân đột phá, cùng chiều sâu tâm lý và sự sáng tạo vô biên trong ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông vẫn tiếp tục định hình nền văn học, lý luận phê bình và thực hành nghệ thuật trên phạm vi toàn cầu.

 

*

 Dịch Dubliners

 Tại sao dịch Dubliners? Câu trả lời là tại sao không? Một tác phẩm kinh điển được cả thế giới ngưỡng mộ và dịch, rất xứng đáng được đọc và dịch (thực ra, dịch là đọc một cách kỹ lưỡng hơn).

 Tập truyện Dubliners có đặc tính là đằng sau những hành động, những tự sự miêu thuật bình thường, thậm chí tẻ nhạt, là tiềm năng diễn giải phong phú của câu chuyện, một câu chuyện luôn liên quan đến cuộc sống. Đối tượng của văn học ở đây luôn là con người. Một trong những dấu ấn của Joyce trong văn chương là không bao giờ để lộ một chủ ý rõ rệt nào mà luôn “mở” cho người đọc tùy nghi và tùy tiện diễn dịch hoặc phỏng đoán. (Một giai thoại không rõ có đúng không là: Có người hỏi tại sao ông viết cuốn tiểu thuyết Ulysses khó hiểu như vậy, để làm gì, thì ông trả lời, “Để các nhà phê bình biên khảo bận rộn đọc trong suốt 300 năm tới.”)

 Dù dễ đọc hơn các tác phẩm sau này của Joyce, dịch Dubliners sang tiếng Việt, đối với tôi, vẫn là một thách thức lớn.

 Thách thức lớn nhất trong việc dịch Dubliners sang một ngôn ngữ khác đến từ sự chính xác tuyệt đối của Joyce. Thêm nữa, các thành ngữ, phương ngữ, cú điệu, tham chiếu văn hóa, và nhất là cái “ý tại ngôn ngoại” của Joyce khó có thể chuyển tải một cách suôn sẻ sang bất kỳ hệ thống ngôn ngữ nào khác.

 Tác phẩm chứa đựng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ, tiếng lóng của văn hóa và đời sống đặc thù dân tộc Ireland. Đối thoại của cư dân Dublin là tiếng Anh-Dublin đầu thế kỷ XX, đầy tiếng lóng, mang tính giai cấp. Các từ vựng Công giáo và Dân tộc chủ nghĩa cũng không thiếu. Sự cố ý cho nhân vật phát âm sai và dùng từ sai (thuật ngữ tiếng Anh là malapropisms, một thủ pháp văn học thường thấy trong văn học Tây phương cốt ám chỉ trình độ xã hội và văn hóa của nhân vật, chính Miguel de Cervantes, trong tác phẩm tiểu thuyết Don Quixote, cũng thường hay sử dụng thủ pháp này.)

 Các dịch giả thường “sửa chữa” hoặc làm mượt mà những đặc điểm này, nhưng làm như vậy lại xóa bỏ kết cấu ngôn ngữ có chủ ý của Joyce. Vấn đề này được ghi nhận trong các nghiên cứu về các bản dịch tiếng Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha và Ý, nơi các dịch giả thường xuyên thay đổi hoặc “chuẩn hóa” ngôn ngữ của Joyce.

 Đối với tiếng Việt, thách thức thậm chí còn gay gắt hơn, bởi thường ta không có cụm từ tương đương trực tiếp cho nhiều thành ngữ tiếng Anh-Ireland. Người dịch phải lựa chọn giữa sự khó hiểu theo nghĩa đen hoặc cách diễn đạt phù hợp với văn hóa.

 Rồi đến các tham chiếu văn hóa và lịch sử trong tác phẩm. Dubliners chứa đầy các tham chiếu đến chủ nghĩa Dân tộc Ireland; các nghi lễ Công giáo; chính quyền thuộc địa Anh; địa lý Dublin; các nhân vật lịch sử-chính trị (Parnell, Sir John Gray, v.v.); các thể chế xã hội (trường học một-xu-mỗi-tuần)… Những tham chiếu này thường xa lạ với độc giả không phải người Ireland, và đôi khi người dịch phải thêm chú thích hoặc giải thích. Các học giả lưu ý rằng người dịch thường cung cấp thêm chú thích vì họ không thể kỳ vọng độc giả trong ngôn ngữ mình nắm vững tường tận các chi tiết này.

 Đối với độc giả Việt Nam, khoảng cách văn hóa thậm chí còn lớn hơn.

 Văn phong của Joyce qua sự lặp lại có chủ ý và cú pháp cũng là một thách thức lớn khác cho người dịch. Joyce sử dụng sự lặp lại như một thủ pháp văn học, phản ánh sự đơn điệu và tê liệt của cuộc sống ở Dublin. Tuy nhiên, các dịch giả thường loại bỏ hoặc giảm thiểu sự lặp lại, cho rằng nó vụng về hoặc thiếu tính văn chương. Đây là một mô hình được ghi nhận trong nhiều bản dịch tiếng Âu.

 Văn xuôi tiếng Việt có xu hướng coi trọng sự ngắn gọn và trôi chảy, vì vậy việc giữ nguyên cú điệu lặp lại của Joyce có thể cảm thấy không tự nhiên. Tuy nhiên, việc loại bỏ lại làm suy yếu hiệu quả nghệ thuật của nội dung.

 Joyce cũng  ưa chuộng lối viết mà ta hay gọi là  “ý tại ngôn ngoại”, một hình thức hiện thực chủ nghĩa được tinh giản hóa, mang tính khách quan gần như tuyệt đối. Giọng điệu này rất khó tái hiện bởi phong cách văn xuôi tiếng Việt thường thiên về việc thể hiện các tín hiệu cảm xúc một cách rõ ràng, trực diện hơn. Sự tiết chế của Joyce có thể khiến văn chương trở nên nhạt nhẽo hoặc mơ hồ nếu không được xử lý một cách khéo léo. Người dịch buộc phải kềm nén thôi thúc muốn “giải thích” những điều mà Joyce để ngỏ, bỏ lửng lơ.

 Những khoảnh khắc giác ngộ (epiphanies) trong tác phẩm của Joyce thường rất thầm lặng, chúng là những nhận thức nội tâm nho nhỏ, không phải sự bừng ngộ mang kịch tính chấn động. (Điển hình là truyện The Dead/ Kẻ đã khuất). Do đó, người dịch cần phải duy trì tính mơ hồ cùng sự kiệm lời, và sự tĩnh lặng về mặt cảm xúc của những khoảnh khắc ấy. Việc dịch quá tải (over-translation) có nguy cơ khiến khoảnh khắc giác ngộ trở nên quá lộ liễu; ngược lại, việc dịch giản lược (under-translation) lại có nguy cơ khiến nó trở nên vô hình, tan biến.

 Các học giả chỉ ra rằng đôi khi người dịch thường “sửa lại” những gì họ cho là lỗi lầm của Joyce – chẳng hạn như thủ pháp dùng sai từ (malapropisms), cấu trúc cú pháp lạ lùng, hay ngữ pháp mang tính khẩu ngữ – qua đó vô tình làm sai lệch chủ ý nghệ thuật trong nguyên tác. Sự cám dỗ này đặc biệt mạnh mẽ khi chuyển ngữ sang một ngôn ngữ như tiếng Việt, nơi mà các cấu trúc ngữ pháp có sự khác biệt căn bản, lối nói khẩu ngữ được mã hóa theo những cách hoàn toàn khác, và người dịch có thể cảm thấy áp lực phải tạo ra một văn phong “suôn sẻ”, thậm chí mềm mại, óng mượt.

 Thế nhưng, những nét thô ráp, gai góc, khúc khuỷu trong văn phong của Joyce lại hoàn toàn là chủ ý của ông.

 Một nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng chỉ nắm vững tiếng Anh thôi là chưa đủ để dịch các tác phẩm của Joyce; người dịch còn phải là những học giả am hiểu sâu sắc về chính tác phẩm của ông cũng như bối cảnh sáng tác của chúng. Điều này đặc biệt đúng đối với tác phẩm Dubliners, nơi mà những chi tiết tầm thường vặt vãnh lại mang sức nặng biểu tượng to lớn, các tham chiếu lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng, và kết cấu mặt bằng xã hội thành phố Dublin là yếu tố then chốt để giải mã ý nghĩa tác phẩm.

 Đối với người dịch tiếng Việt, điều này đồng nghĩa với việc phải thực hiện những nghiên cứu sâu rộng về lịch sử Ireland, Công giáo, và đời sống tại Dublin vào đầu thế kỷ XX.

 Các học giả nghiên cứu về những bản dịch sang các ngôn ngữ khác đều khẳng định rằng văn phong của Joyce có tính “kháng cự” rất mạnh đối với việc chuyển ngữ một cách suôn sẻ, và rằng người dịch buộc phải tìm được sự cân bằng hài hòa giữa tính trung thực với nguyên tác với khả năng tiếp cận về mặt văn hóa của ngôn ngữ dịch.

 Để đương đầu và phần nào khắc phục những thách thức khó khăn nêu trên trong việc dịch tác phẩm Dubliners, tôi có một trợ tá đắc lực: Internet.

 Internet là kho tài liệu phong phú gần như vô tận giúp tôi tra cứu những điều khúc mắc khó hiểu, hoặc không thể hiểu nổi trong văn bản nguyên tác. Thêm nữa, Dubliners đã có mặt trên trăm năm nay, được giới phê bình văn học đánh giá là tác phẩm kinh điển, nhờ thế, đã có không biết bao nhiêu giấy mực viết về nó. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian, thời gian đọc và nghiền ngẫm. Quá trình “dịch” tác phẩm, đối với tôi, trở thành quá trình “học”, và quả thực, tôi đã học hỏi được rất nhiều trong lúc dịch.

 Những điều “học” được, tôi cho vào các chú thích và phần “Phân tích và cảm nhận của người dịch” nằm sau mỗi truyện. Mặc dù đã cố hết sức mình, tôi biết chắc vẫn có những khiếm khuyết, sai sót đâu đó, chờ đợi bạn đọc bốn phương chỉ giáo cho bản dịch được hoàn chỉnh hơn.

 

*

 Dịch Dubliners như là một hành động tôn vinh nhà văn Nam Cao của văn học Việt Nam

 Trong lúc lần giở từng trang sách tác phẩm Dubliners của James Joyce, đến truyện ngắn A Little Cloud/ Một cụm mây nhỏ, tôi bỗng nhận thấy sự tương tự giữa nhân vật Little Chandler trong truyện với nhân vật Điền trong truyện ngắn Trăng sáng của nhà văn Nam Cao. Cũng như Little Chandler, Điền là một nhà văn có ước vọng và tham vọng nhiều trong văn chương. Anh muốn sống hết mình cho nghệ thuật, nhưng hoàn cảnh túng bấn, nghèo khó, thôi thúc của đời sống không cho phép giấc mơ của anh trở thành hiện thực. Từ đó, nhìn sâu rộng hơn, và một điều khá hiển nhiên là giữa Dubliners của Joyce và văn chương Nam Cao có những điểm tương đồng lạ lùng về đối tượng văn học.

 Cũng như Joyce, sáng tác của Nam Cao đặt ra trước người đọc hàng loạt những vấn đề nhân sinh: những cảnh đời tù đọng, bế tắc, những bi kịch đau đớn, chua cay. Nam Cao phản ánh được cái thực tại bối cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam thời tiền chiến. Từ truyện ngắn nổi tiếng đầu tay Chí Phèo cho đến tiểu thuyết Sống mòn, văn chương Nam Cao luôn lấy những chủ đề về cuộc sống cùng khổ của cả một tầng lớp con người, từ nông thôn ra thành thị, từ anh nông dân chất phác chân lấm tay bùn cho đến người thầy giáo trí thức tiểu tư sản nghèo ngoài thành phố. Trên nhiều bình diện, nó thể hiện một cách rõ nét thân phận con người trong xã hội mà thời nào cũng có thể xảy ra.

 Giống như Joyce, Nam Cao cũng cho các nhân vật của mình chìm nổi, vật vã trong cuộc đấu tranh với hoàn cảnh. Họ không dửng dưng lạnh nhạt với sự đời, nhưng họ cũng là những con người thiếu hành động. Nhìn chung họ bị dồn vào thế bế tắc, không có hướng giải thoát. Họ vật vã, đau đớn trong những kiếp sống luôn bị dằn vặt, xói mòn. Suy nghĩ và hối hận nhưng họ không tìm ra cho chính mình phương hướng để hành động, và nếu có thì lại dễ hối hận với việc làm của mình.

 Các nhân vật của  Nam Cao cũng rất vất vả để chống lại tình trạng tha hóa với bản chất mình. Họ cũng bị lôi cuốn  vào  nhiều  ham  muốn  tầm thường,  nhiều  tính toán  nhỏ  nhen.  Chính  trong  bản  thân  họ cũng chất chứa biết bao mâu thuẫn.

 Qua tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao phản ánh sâu sắc không khí ngột ngạt, tù túng, quẩn quanh do một sức mạnh tưởng như vô hình nhưng tác động lại rất cụ thể, sự hủy hoại thầm lặng làm cho con người mỏi mòn dần cho đến kiệt sức. Tất cả mỏi mòn, chết dần chết mòn.

 Đó là lý do vì sao tôi chọn nhan đề tiếng Việt cho tập truyện Dubliners của Joyce là Những kiếp sống mòn.

 Nó không phải sự nhái lại, mà là một hành động trân trọng tôn vinh nhà văn Nam Cao, một nhà văn có vị trí rất lớn, rất riêng trong văn học Việt Nam.

 – Trịnh Y Thư

(Cuối Hè, 2026)

 

@@@

 

Sách có bán trên BARNES & NOBLE

408 trang, bìa cứng, 5.5”x 8.5”, giá bán: US$30.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

 

Dubliners Nhung kiep song mon | Barnes & Noble®

 

Từ tìm kiếm: dubliners, nhung kiep song mon

 

Hoặc liên lạc với NXB qua địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của dịch giả:

 

vanhocpress@gmail.com

 

 

 

Saturday, October 10, 2026

Monday, October 5, 2026

Hữu Sở Tư: TRÚC CHI, Kiếp sau duyên có dẫn về

 

Nhà báo, nhà văn, nhà thơ Trúc Chi.

Trúc Chi là bút hiệu của Tôn Thất Kỳ. Anh sinh năm 1934 tuổi Giáp Tuất, học ở Huế và Đà Lạt. Vào ngành thông tin báo chí năm 1960 tại Luân Đôn, là biên tập viên ban Việt Ngữ đài BBC.  Đã từng  theo dõi và tường thuật Hội Nghị Geneve về vấn đề Lào (1960-1961) khi cộng tác với giáo sư Tôn Thất Thiện.  Giáo sư Thiện bấy giờ phụ trách thông tin trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị. Một phần kinh nghiệm thông tin quốc tế này giúp cho Trúc Chi được nhận làm thông tín viên thực thụ của hãng Reuters Luân Đôn sau khi rời đài BBC vào năm 1967 cũng là người Việt Nam đầu tiên được nhận làm phái viên (correspondent) của hãng Reuters Luân Đôn. Đã được phái đi công tác ở một số quốc gia Đông Nam Á kể cả Việt Nam.  Tại Singapore, từng làm chủ biên ban tin tức Việt – Miên – Lào của Reuters. 

Trúc Chi dùng bút hiệu Nguyễn Phúc trong các bản tin, dịch thuật và phỏng vấn, anh có nhiều thơ đăng trên Văn Học, Thế Kỷ 21, ngoài ra anh có 2 cuốn tùy bút: Đó Đây và Gỗ & Đá; trong năm 2000 nhà văn Phạm Xuân Đài đã nhận xét “có thể nói ngay mà không sợ lầm, đây là cuốn tùy bút hay nhất trong mấy năm gần đây ở hải ngoại.”


BAN VIỆT NGỮ ĐÀI BBC

Ngồi: Xuyến Như và Hữu Đại

Đứng: từ trái sang phải, Trần Minh, Xuân Kỳ, Nguyễn Phúc

(Nguyễn Phúc là bút hiệu của Trúc Chi trong ngành truyền thanh)

 

Bút hiệu Trúc Chi

          Tôi có hai ông anh có trí nhớ cự phách siêu phàm “Mắt nhìn qua đã thuộc, mở miệng thành văn chương / Quá mục thành tụng, xuất khẩu thành chương” là anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ và anh Từ Mai Trần Huy Bích. Đó là vạn hạnh của người em nhỏ này, để tôi được nhắc nhở, được khuyên bảo,  được lắng nghe  thật nhiều chuyện đông tây kim cổ, đủ viết thành một pho sách dầy.

 Bữa nọ trong tuần lễ mưa rả rích không nguôi, nhớ đến câu “Trời Thục như mắt người ly biệt, Mười ngày mưa không ngày nào tạnh ráo” trong “Trúc Chi Từ” của Đinh Hạc Niên đời Minh, tôi giới thiệu đến anh kèm thêm dòng thư: em gửi anh bài có tựa đề Trúc Chi từ 竹枝詞 giống như tên anh.

Anh đáp ngay: “tên Chi trong bút hiệu Trúc Chi không phải là cành 枝 mà là Chi 之 như Chi Hồ Giả Dã do tôi bắt chước tên tự của ông Nội là Lạc Chi”.

(Ông Nội của anh Trúc Chi là Phò Quang Quận Vương Tôn Thất Hân hiệu Liên Đình tự Lạc Chi, là cháu đời thứ Sáu của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần. Ngài là tôn sinh Quốc Tử Giám, lần lần thăng Bố chánh, Tuần vũ, Tổng đốc, từng làm Thượng Thư Bộ Hình, Phụ Chánh đại thần, Phò Quang Quận Công, Phò Quang Quận Vương dưới thời các Vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại.  Năm 1925, sau khi vua Khải Định qua đời, vua Bảo Đại đang du học tại Pháp, ngài được cử làm Nhiếp chính thân thần, xử lý các công việc cho đến khi vua Bảo Đại hồi loan).

 Anh Từ Mai tiếp: nếu vậy chữ Chi 之 trong tên anh Trúc Chi cũng giống nhà báo nhà học giả Đào Trinh Nhất. Tên là Nhất nên ông lấy tên tự là Quán Chi 貫之.Ông lấy chữ trong Luận Ngữ, lời Khổng Tử: “Ngô đạo nhất dĩ quán chi 吾道一以貫之.”

Anh Trúc Chi hân hoan: ông Đào Trinh Nhất là bạn của bác tôi, hân hạnh được nhìn thấy ông ở nhà bác ngày còn nhỏ, hồi tôi mới biết viết biết đọc.

 Anh Trúc Chi thường xuyên nhắc đến người bác thân yêu và mãi mãi nhớ ơn bác, là thầy dạy chữ Nho cho anh. Thứ Năm ngày 24 tháng 09 (14 tháng 08 âm lịch) tôi gửi anh Trúc Chi xem  hình bàn thờ anh Từ Mai cúng thầy Vũ Hoàng Chương, anh Trúc Chi đã niệm A Di Đà Phật, và hồi tưởng, chừng 80 năm trước bác từng dạy cho tôi một bài trong Tân Quốc Văn: Trung Thu dạ nguyệt, Tối minh đăng lâu viễn vọng… bác còn dặn kỹ đừng lầm hai chữ mạt 末 và vị 未,  thầm cảm ơn ông bác.

 Trong một thư đầu năm 2026 anh bùi ngùi viết đôi ba dòng lửng lơ: anh Từ Mai đúng là quyển tự điển sống về thơ Đường.  Ngày xưa tôi được bạn cùng lớp tặng cho cái danh hiệu “dictionnaire ambulant” (tự điển di động) về thơ tiếng Pháp trong mấy quyển sách giáo khoa quen thuộc thời ấy, chúng nó bí câu nào thì cứ bảo nhau “hỏi thằng Kỳ”. Bây giờ thì chắc chắn thằng Kỳ cũng bí nốt. Mà bạn thời ấy cũng “đi” cả rồi. Không có ai hỏi tôi nữa.

 

Hiền thê của anh Trúc Chi

Trong lần gặp anh chị Trúc Chi ở nhà anh Từ Mai, anh Trúc Chi khoe: Dzung có biết tôi tuổi Tuất mà Đoan Thư tuổi Thìn nên người ta khen tôi là chó ngáp phải rồng, tôi không nén được cười rinh rích trong khi anh tỉnh bơ.

           Ông Cố của chị Đoan Thư là cụ Nguyễn Khoa Đạm trước dạy Quốc Tử Giám. Có 2 bức hoành phi trang trọng treo ở nhà Cụ Nguyễn Khoa Đạm, một tấm khắc bốn chữ 政教大家 CHÍNH GIÁO ĐẠI GIA, tấm kia khắc ba chữ 品自高 PHẨM TỰ CAO (Sự năng tri túc tâm thường lạc, Nhân đáo vô cầu phẩm tự cao 事能知足心常樂,人到無求品自高 là câu của tiên sinh Trần Bá Nhai sư phụ nhà văn Kỷ Hiểu Lam đời Thanh treo trước án sách để tự nhắc nhở mình. Mọi điều biết đủ lòng thường vui, Người không cầu cạnh phẩm giá tự nhiên cao)

 

                                                 

Chị Đoan Thư giòng dõi trâm anh thế phiệt như anh, chị hết sức xinh đẹp mảnh mai tao nhã, điều ấy trùng hợp với cung Hôn Phối của anh Trúc Chi, là sự truyền tinh giữa hai lá số: Cơ Lương đắc địa, Khôi Việt, Thiên Nguyệt Đức, Thiên Quan Quý Nhân.

 

Cùng thích Số Tử Vi

     Anh Trúc Chi thích xem Tử Vi và nhờ có Tử Vi nên ngoài Đường thi, Tam Quốc Chí, anh em chúng tôi có đủ điều để nói hết ngày này tháng nọ không bao giờ vơi chuyện.

 -  Thưa anh, hôm nay em tình cờ xem được số Tử Vi Tôn Trung Sơn, Mệnh của Quốc Phụ có vòng chính tinh giống của anh Trúc Chi, các phụ tinh cũng tương tự, nhưng cung Hôn Phối và cung Tử Tức của Tôn Trung Sơn thua xa anh Trúc Chi, em chưa thấy lá số Tử Vi nào có cung Hôn Phối và Tử Tức đẹp như của anh. Anh Trúc Chi mệnh có Đế Vượng là con người trượng phu, bề thế, rộng lượng hào phóng ưa làm việc thiện có lòng nhân ái, luôn thể hiện tình yêu thương với mọi người xung quanh, anh được nhiều sự yêu mến, là mẫu người duyên dáng có sức thu hút, có năng khiếu nghệ thuật, nghề nghiệp anh liên quan đến ngôn ngữ làm công việc truyền thanh là hợp cách và đúng số. Anh được hưởng vòng Tràng Sinh (ngay cung an Thân). Thiên Đồng là sao chủ Mệnh được hưởng phúc lộc của Trời đất thêm các sao Văn Tinh nên là người nho nhã văn chương trí tuệ. Cung Tử Tức của anh phải nói là tuyệt đẹp: Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Khoa Quyền Lộc, Xương Khúc, Quang Quý, Long Phượng, Thai Tọa, Tướng Ấn.

 Anh Từ Mai tiếp lời: Rất vui nhận được email từ anh Trúc Chi. Dung nói cung Mệnh của anh có Đế Vượng, có Đế Vượng ắt được Tràng Sinh chiếu. Anh được bộ sao Sinh Vượng cộng thêm Tả Hữu và Thiên Phúc thì quý lắm rồi. Thiên Khôi đi với Hồng Loan (Hồng Khôi) rất đẹp, mình rất quý sao Thiên Khôi (là quý nhân). Anh có Tả Hữu, Thiên Phúc Thiên Khôi, các cụ vẫn nói là “cát nhân thiên tướng”. Chân thành cầu chúc anh được hưởng phúc vì có những bộ sao quý ấy.

 Vào mỗi cuối năm tôi tự hiểu mình cần chuẩn bị lá số Tử Vi của anh cho năm sắp đến hầu có thể trò chuyện kỹ hơn về vận niên khi bắt đầu qua Tết Nguyên đán “cho đúng phong tục cổ truyền” để nghe anh dí dỏm pha trò:

-Quá khen, Vui chút vậy thôi. Tuổi này rồi còn số chẵn số lẻ gì nữa.

 

Ừ đêm tháng Sáu Mười Hai nhỉ

         Mỗi năm đến ngày 12 tháng 06, anh thường gửi thư đố hai anh em Từ Mai: Hôm nay 12 tháng 06, anh Từ Mai và Dzung có nhớ là ngày gì không?   Sau này anh Từ Mai nói rõ thêm, 12 tháng 06 âm lịch mới là ngày nàng Tố Uyển bước lên xe hoa, không phải 12 tháng 06 dương lịch.

Riêng tôi, những chiều Nguyên Tiêu, những tối Thất tịch, những sáng Lập Xuân hàng năm thường gửi các bài thơ hợp mùa hợp cảnh đến anh, lúc thì Nguyên tịch của Âu Dương Tu, khi là câu thơ năm chữ của một ẩn sĩ đời Tấn, khi là bài thơ Mưa viết trong tết Hàn Thực của Tô Đông Pha.

Anh Trúc Chi rất thưởng thức câu “Phù vân du tử ý, Lạc nhật cố nhân tình”. Người đi là đám mây, Kẻ ở là chiều tà. Quá đẹp. Lời anh thật đúng ý tôi hết chỗ nói: em cũng yêu Lý Bạch, anh biết Hành Đường Thoái Sĩ mê câu “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” lắm không, ông phê câu ấy là “Thiên cổ lệ cú”, em cũng yêu  “Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” vì tháng Ba là tháng của em. Anh có ý kiến riêng: tôi lại mê cái bát ngát của câu kế tiếp “Cô phàm viễn ảnh bích không tận”.

  

Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu

                     Năm 2024 anh gửi bài thơ Đường luật làm nhiều năm trước cùng những lời tâm sự của một tráng niên tóc bạc đến cho các anh chị em:

 “San sẻ với các bạn chút vui riêng tư. Bài thơ mà tôi chép dưới đây, tôi làm trong một buổi họp bạn năm 1994 gồm mấy anh em thân với nhau từ thời trung học (Quốc học Huế, Yersin Đà Lạt).  Hai mươi lăm năm rồi, cả một lũ bốn năm thằng nay chỉ còn sót lại mỗi mình tôi. Chính tôi cũng quên rằng mình có làm bài Đường luật này cho đến cách đây khoảng ba tuần, em của một người bạn trong nhóm tình cờ gặp bản chép tay của tôi trong mớ thư từ cũ, gửi lại tôi xem. Dĩ nhiên thấy NÓ là tôi nhớ ngay. Trước năm 1994, tức là trước 60 tuổi, tôi có làm một số thơ Đường luật gửi tặng bạn bè ....bốn phương. Có ngay cả môt bài tặng ông Quách Tấn nữa, to gan chưa? Nếu tôi không lầm thì bài Họp Bạn này là bài Đường luật cuối (và duy nhất mà tôi còn có trong tay). Thấy lại NÓ, mừng và vui nhưng cũng tiếc và nhớ quay quắt mấy người bạn đã rẽ sang lối về thiên cổ. Bài này tôi suy nghĩ rồi viết xong giữa hai ly rượu. Ly thứ hai được rót ra từ chai rượu vang trong đó chỉ còn vừa đúng một ly mà một người bạn của tôi nói "thưởng trước cho mi một ly nhưng mà phải làm cho xong bài thơ!"  Cho nên tôi mới bảo các bạn tôi khui thêm chai nữa sau khi đọc to hai câu kết. Xem lại, không đến nỗi quá hổ ngươi (mắc cỡ).  


Họp Bạn

Mới đó mà nay đã bạc đầu

Cầm tay cười khóc chuyện xưa sau

Này thơ này rượu câu tâm sự

Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu

Tàn lớp phế hưng chừng mất cả

Già đời lưu lạc may còn nhau

Quí rồi! buổi loạn cầu chi nữa

Khui nốt chai kia phá trận sầu

Trúc Chi

(1994)


Tái bút: Cái tứ "Chúng ta mất hết chỉ còn nhau" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương nằm sẵn trong tiềm thức tôi! Khi viết xong toàn bài mới thấy nó hiện ra. Xin thắp một nén tâm hương mà tạ thi hào họ Vũ.

  

Vạn lý bi thu thường tác khách

           Từ trong Rehab center anh gửi … Đỗ Phủ: Gian nan khổ hận phồn sương mấn, Bách niên đa bệnh độc nằm khoèo, ở đây không có đài mà đăng.

Tôi gửi anh nhận xét của La Đại Kinh, học giả đời Nam Tống phân tích Đăng Cao rất kỹ, chỉ trong 14 chữ “Vạn lý bi thu thường tác khách, Bách niên đa bệnh độc đăng đài” có đến tám điều đáng buồn: làm lữ khách nơi đất lạ là điều buồn thứ nhất, luôn làm lữ khách là điều buồn thứ hai, làm lữ khách nơi vạn dặm là điều buồn thứ ba, đúng vào mùa thu se sắt là điều buồn thứ tư, tuổi đã già việc chưa thành là điều buồn thứ năm, bằng hữu người thân đã khuất là điều buồn thứ sáu, cô đơn lên đài là điều buồn thứ bảy, thân bệnh tật là điều buồn thứ tám. Đăng Cao được mọi người tôn là “cổ kim thất ngôn luật đệ nhất” một trong những kiệt tác tiêu biểu nhất của thơ Đường mà Đỗ Phủ là nhà thơ kiệt xuất nhất trong thể loại này.

 Vào tuổi 92 phải qua nhiều thí nghiệm, chụp hình, lấy máu, đủ các loại test này test kia mỗi ngày nhưng lúc nào anh cũng  lạc quan dí dỏm, sáng sáng tôi kính thăm anh, hôm nay anh ra sao, anh có được khỏe, anh đáp khỏe nhưng cái khỏe của người bệnh (đời này tương đối cả).  Tôi khích lệ anh chịu khó tịnh dưỡng một thời gian, bình phục về nhà ăn cơm ngon chị Đoan Thư nấu. Hiện nay đại vận của anh đương ở cung Tỵ, mà mệnh Hỏa khi đi vào các hạn ở những cung Dần, Ngọ, Tỵ là đắc cách bởi gặp nơi sinh vượng cho hành Hỏa, trong tài liệu Tử Vi cổ, quy ước được đúc kết qua bài khẩu quyết “Hỏa hành Dần, Ngọ cộng Xà hương” cuộc sống và công việc sẽ gặp thật nhiều thuận lợi may mắn.

 

 Vui nhanh kẻo mất giữa vô thường này 

     Ngày 19 tháng 07, anh gửi một dòng nhắn đi chung bài lục bát:  Mấy câu ngẫu đắc khi nhìn thấy những cánh hoa khô bên cửa sổ bệnh viện:


Nắng chiều sưởi mấy đóa tàn

Ấm thay một nét hân hoan bất ngờ 

Thoáng nụ cười trong tứ thơ 

Vui nhanh kẻo mất giữa vô thường này 

 

Khổ thơ sáu tám, bốn dòng giản dị mà ý tứ sâu sắc khiến tôi nhớ về Lý Bạch, “nhi phù sinh nhược mộng, vi hoan kỷ hà” mà kiếp phù sinh như mộng, vui được là bao. Tôi yêu thích bốn chữ “Vui nhanh kẻo mất” phong thái tự do tràn đầy thi hứng trước vũ trụ bao la không ngừng thay đổi muôn hình vạn trạng mà niềm vui kiếp nhân sinh thì vô cùng bé nhỏ hữu hạn.

           Tôi thưởng thức thơ anh, những ý thơ phong vị như Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Vi Ứng Vật, tao nhã, điềm đạm, cao viễn, tịch mịch, nên vài ba ngày lại gửi lời nhắc nhở: Có thêm bài thơ nào anh nhớ gửi cho em nhé. Anh đáp: Có được vần nào còn sót lại Dzung sẽ là người đầu tiên tôi gửi đấy.

 

Cõi trần ta lại lè kè túi thơ

     Trước sinh nhật 92 một ngày, vào Thứ Ba, 14 tháng 07, 2026 lúc 12:52 PM anh gửi bài lục bát:

 

Chiều rồi chút bệnh mà hay

Gánh nghiệp bớt nặng cho ngày ra đi 

Kiếp sau duyên có dẫn về

Cõi trần ta lại lè kè túi thơ.

     Anh Trần Mạnh Toàn rất chịu bài thơ trên, anh gửi lời chúc mừng anh Trúc Chi:  Kính anh Trúc Chi, Được đọc bốn câu khẩu chiêm của anh mới thấy anh là người sớm đạt được tuệ giác hơn ai về lẽ sắc không của nhà Phật. Cái nợ văn chương thi ca mà anh nhắc đến chỉ là sự nhắc nhở khéo léo lớp hậu sinh. Mai này ngày 15 tháng 07 là ngày anh vượt thêm ngưỡng cửa cửu tuần. Đây cũng là ngày Kỷ niệm 92 năm ra đời ngôi Văn Tinh Trúc Chi. Xin nồng nhiệt chúc mừng.

Đây là lần đầu tôi thấy hai chữ “lè kè” trong bài thơ, nghe duyên dáng làm sao, đó là cách dùng chữ ngộ nghĩnh sáng tạo của anh. Tôi thưa với anh tôi thích chữ “dẫn” trong câu lục “Kiếp sau duyên có dẫn về” anh bảo mình thấm đạo Phật là nhờ vào mẫu thân, “dẫn” đây là duyên đưa đến, không có cái tình cờ trong nghĩa triết học.

 Tao ngộ giữa nhà thơ Trúc Chi và nhà văn Trần Mạnh Toàn cũng nhờ vào thơ Vũ Hoàng Chương. Trong thư gửi anh Trần Mạnh Toàn anh Trúc Chi tâm sự “Lang thang giữa đường một cách vô định, nói chuyện với cuộc đời qua chữ nghĩa của mình, họa hoằn gặp được một đôi người “nghe” và hiểu mình quả là một điều may mắn. Riêng anh, đối với tôi là một hạnh ngộ. Mà cũng nhờ chút duyên của tôi đối với thơ của Vũ Hoàng Chương. Viết mấy câu “bình thơ” bậc thi bá này nhân thể nói luôn về con người Vũ Hoàng Chương, thế nào lại lọt vào mắt xanh của anh, từ đó … Duyên văn tự là vậy. Bài của anh viết thật công phu. Nghĩ cho cùng anh Toàn ơi, chân thiện mỹ là ba, nhưng tuyệt đối chỉ có một. Mon men tìm đến chân trời của tuyệt đối là một cách nói thôi. Mong có dịp gặp nhau, cảm ơn anh Toàn.”

 Anh Trúc Chi tin vào kiếp sau, như Tô Đông Pha tin vào kiếp trước, đọc thơ Trúc Chi, tôi nhớ Tô Đông Pha “Ngã bản tu hành nhân, tam thế tích tinh luyện.  Trung gian nhất niệm thất, thâu thử bách niên khiển. / Ta vốn người tu hành, suốt ba đời tu luyện, lỡ làng sai một niệm, phải xuống trần trăm năm.”

 

Dăm hàng lục bát thương về sau xưa

     Hôm nọ anh gửi 4 câu từng đăng trong Văn Học trước năm 2000, kể từ lúc nhận thư anh trong vòng  nửa tiếng tôi chép bài thơ với bút lông mực Tàu trên giấy Tuyên. Anh biết không, dạo đó đọc bài thơ này trên báo Văn Học ngay lập tức em trở thành người hâm mộ anh đấy, mỗi lần có báo mới em tìm thơ Trúc Chi đầu tiên.


Vần thơ gieo giữa vô thường

Bể dâu thế ấy đoạn trường thế kia

Vạch trên rêu đá xanh rì

Dăm hàng lục bát thương về sau xưa.

 Tiếng thơ vọng ra đâu đó nỗi âm trầm dằng dặc từ thời Tam Quốc “Tơi bời thế sự bao giờ hết, Mịt mù vận số trốn vào đâu / Phân phân thế sự vô cùng tận, Thiên sổ mang mang bất khả đào” dòng thơ vừa như ngưng tụ vừa như xuyên suốt cả trăm năm.

 


  Chị Phạm Hảo cũng kể chuyện cho anh Trúc Chi nghe: em mê thơ và tùy bút Trúc Chi, lúc xưa em thường mua sách của Văn Nghệ, có hôm ông Võ Thắng Tiết nói chuyện là cuối tuần này nhà văn Trúc Chi sẽ ghé quán sách của Văn Nghệ để ký sách cho độc giả, em chỉ ước gì em ở California để ra đó quanh quẩn lúc nhà văn Trúc Chi ở đấy. Nhà em có trồng được hai chậu trúc thân màu đen, mỗi lần ngắm Thạch Trúc, em lại nghĩ đến nhà văn Trúc Chi vì Trúc Chi gọi trúc đen là Thạch Trúc. Anh Trúc Chi cũng viết về “Lan vàng Vũ Nữ” duyên dáng lắm, hỏi sao em không mê đọc sách của anh.

  

Kiếp sau duyên có dẫn về

 Kỷ niệm nhớ mãi không quên là hôm được sắp xếp ngồi gần anh dùng bữa trưa ở nhà chị Lệ-Hương; sau khi ăn khoảng 10 con ốc hương nhồi giò thơm hương vị gừng xả, mấy khoanh đậu phụ rán giòn chấm tương Cự Đà, bát bún riêu cua nêm nếm mắm tôm, tôi còn định ăn thêm một bát riêu cua nữa nhưng thật ngại ngùng vì thấy ngồi bên cạnh anh cầm đũa ung dung từ tốn khoan thai trông thanh lịch làm sao, tôi đâm ngượng; anh vừa tinh ý vừa nghịch ngợm, hạ giọng nói riêng tôi nghe: Dzung cứ ăn thoải mái đi, tôi không nhìn mô.

Sau bữa ăn các anh chị ra salon nói chuyện văn chương, tôi xích lại gần bàn xôi vò chè đường, chị Lệ-Hương nấu xôi vò chè đường và làm xôi gấc rất ngon, mà sao các anh vô tâm thế, cứ nhởn nha nhởn nhơ chuyện thơ văn mà không chịu để ý đến cái bàn xôi chè này, anh Trúc Chi đi ngang nghiêng đầu ngẫm nghĩ một vài giây rồi khuyến khích  "thêm 8 bát chè này có lẽ tạm đủ cho Dzung tráng miệng rồi đấy, tôi không ăn, Dzung cứ ăn phần của tôi". Tôi khúc khích vào hùa với anh “Sinh ra em là cha mẹ, mà hiểu em chỉ có anh Trúc Chi. Sinh ngã giả phụ mẫu, tri ngã giả Trúc Chi dã.”

Yêu thích tính cách trẻ trung tinh nghịch của anh nên thỉnh thoảng tôi gọi anh là Lão Ngoan Đồng, mấy hôm sau nhận thư anh ký tên Ngỗng Loan Đào. Nghe tên Ngỗng Loan Đào có khác gì một món ăn cực phẩm của miền sông nước Giang Nam không chứ.

 Tôi đọc đâu đó có người viết thế này, “nếu phải chọn một người bạn Thơ đồng hành phiêu lãng rong chơi, có lẽ ít ai chọn Lý Bạch vì chàng Lý phiêu dật bay bổng xa vời thực tế, không chọn Đỗ Phủ vì chàng Đỗ nghiêm túc, khắc khổ, sầu tư, hầu như phần đông chúng ta sẽ chọn Tô Đông Pha vì chàng Tô khả ái lạc quan, thú vị hài hước, dễ dãi khoát đạt, có thể làm bạn với Ngọc Hoàng thượng đế trên trời cũng có thể ngồi với bác nông phu bên bờ ruộng” tôi bất chợt nghĩ ngay đến anh Trúc Chi, anh Trúc Chi của chúng tôi chính là mẫu người giống Tô Đông Pha nhất rồi còn gì.

 Kiếp sau duyên có dẫn về, tôi mong được gặp anh, và trong kiếp lai sinh ấy xin cho tôi vẫn có trái tim nồng nàn yêu thích Tam Quốc, Tử Vi, Đường thi, Tống từ, để ngày ngày được trò chuyện cùng ông anh của mình.

 

HỮU SỞ TƯ

Tháng 10-03-2026

Một số sáng tác văn, thơ của Trúc Chi Tôn Thất Kỳ có thể tìm đọc ở: https://tranhuybich.blogspot.com/p/truc-chi-ton-that-ky.html