Wednesday, September 23, 2026

TRẦN HUY BÍCH: Bài phát biểu trong lễ Tưởng niệm Thi sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG



Kính thưa Quý vị,

Trước hết, tôi xin phép được nói một chuyện nhỏ: Hồi nãy cô Diệu Quyên vừa nói là thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 6 tháng 9 năm 1976. Điều ấy đúng như Wikipedia. Có tài liệu ghi rằng ông mất ngày 7 tháng 9. Sự thực là ông qua đời lúc nửa đêm ngày 6 qua ngày 7 tháng 9. Bà Vũ Hoàng Chương tin rằng ông có linh giác khi viết câu “Đêm nào ta trở về ngôi,” in trong bài “Nguyện cầu,” bài thơ mở đầu tập Rừng Phong từ năm 1954. Qua nửa đêm thì thuộc về hôm sau, nên những người nói ông mất ngày 7 tháng 9 cũng có lý. Nếu đọc bài “Gặp bà Thục Oanh, nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương” của nhà văn Hoàng Quốc Hải, một nhà văn và biên khảo được nhiều người mến mộ ở trong nước, in trong cuốn Trắng Án Nguyễn Thị Lộ, rồi in lại trong cuốn Kẻ Sĩ Trước Thời Cuộc, thì chúng ta thấy rằng bà Thục Oanh, tức bà Vũ Hoàng Chương, cho biết là “thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn 1976, trước Trung Thu một ngày.” Bà Thục Oanh nhớ ngày giỗ theo âm lịch, và “trước Trung Thu một ngày” là một ngày dễ nhớ. Một nhà thơ có tình thân với ông bà Vũ Hoàng Chương, nữ sĩ Hoàng Hương Trang, cũng làm thơ tưởng niệm thi sĩ Vũ Hoàng Chương vào ngày 14 tháng 8 âm lịch.

Hiện nay chúng ta theo dương lịch. Nhiều gia đình cũng đã nhớ ngày giỗ theo dương lịch, nhưng chúng ta vẫn ghi nhớ những ngày theo âm lịch quan trọng như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, ngày Rằm tháng Bảy “Xá tội vong nhân.” Vì thế tôi xin thưa rằng theo âm lịch, hôm nay là ngày 10 tháng 8, ngày giỗ Nguyễn Du mà Vũ Hoàng Chương luôn luôn ghi nhớ, rồi 4 hôm nữa, Thứ Năm tuần này, là 14 tháng 8 âm lịch, một ngày trước Trung Thu, chính là ngày giỗ thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Nhận xét về Vũ Hoàng Chương tại hai miền Nam Bắc Việt Nam trong thời gian đất nước chia đôi và ít chục năm sau đó cũng khác nhau rất nhiều. Một người cháu gọi tôi là bác ruột nhưng sinh ra và lớn lên ở ngoài Bắc có lần nói chuyện với tôi về thơ văn. Cháu có khiếu về văn chương. Một lần trong câu chuyện tôi nhắc đến danh hiệu thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Cháu hỏi lại một cách thành thật và lễ phép: “Vũ Hoàng Chương có gì đáng nói đâu bác? Tác giả này phóng đãng và trụy lạc, thơ văn có ra gì đâu!” Tôi không ngạc nhiên vì biết rằng cháu được dạy như thế từ nhỏ, chỉ được biết về Vũ Hoàng Chương qua mấy câu của bài “Say đi em” (sau đổi tên là bài “Mời say”):

Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêng, cho điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa! và quên quên hết!

(Cháu không được cho biết những câu sau)

Cháu cũng được dạy rằng VHC” là nhà thơ đam mê nhục dục, thân xác,” chuyên ca ngợi những cảnh:

          Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải.

Không được đọc toàn thể bài “Tối tân hôn,” cháu không biết gì về những câu trước và sau của câu ấy:

          Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn

          Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nơi hạ giới

          Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn.

 

Theo nhà giáo, nhà văn Nguyễn Thông, tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà

Nội, được cử vào dạy ở trong Nam từ năm 1977, trong bài “Án văn 7”, đăng trên Văn

Việt ngày 5 tháng 9-2026 vừa qua (đúng nửa tháng trước đây), thì trong thời gian ông

còn ngồi trên ghế nhà trường:

“Ở miền Bắc những năm đó, Vũ Hoàng Chương bị án “tử hình về văn nghệ”, đã “chết” như khá nhiều người có số phận giống ông, những Đinh Hùng, Phạm Duy, Hồ Hữu Tường, Nhất Linh, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến… Thậm chí cả những tên tuổi như ... Nguyễn Bính, một hồn thơ hiền lành, đa cảm, tài hoa, Vũ Trọng Phụng vốn chả gây thù chuốc oán gì với họ, Khái Hưng ... của nhóm Tự lực văn đoàn… mà họ còn cấm tiệt thông tin, cấm tiệt xuất bản, loại hẳn khỏi sách giáo khoa và đời sống văn nghệ, huống hồ là những người đang sống, sáng tác trong chế độ “ngụy quyền.”

 Với chính quyền ở miền Bắc, văn nghệ phải đi với chính trị, tuyệt đối phục tùng chính trị. Chỉ cần trái ý họ, không làm theo lời họ là bị thi hành án, mà rõ nhất là Nhân văn – Giai phẩm với những nhân vật “chiếu trên” trong đời sống văn nghệ khi ấy như Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán…

Huống chi với một người như Vũ Hoàng Chương, họ luôn luôn coi là kẻ không đội trời chung, có tài mấy, hay mấy cũng phải bị hủy diệt, cả danh tiếng lẫn con người.

 Nhà giáo Nguyễn Thông sống ở miền Bắc trong ba thập niên, từ nửa cuối thập niên 1950 đến nửa đầu thập niên 1970, nên biết rõ việc Vũ Hoàng Chương bị chính quyền Bắc vĩ tuyến 17 đối xử thế nào:

 

Hầu hết dân Bắc những năm đó không biết gì về Vũ Hoàng Chương. Báo đài không đề cập, không nhắc tới. Sách giáo khoa lại càng không.

Cũng có lúc, rất ít ỏi, người ta nhắc tới Vũ Hoàng Chương và những người như ông, chẳng hạn Nhất Linh, nhưng là để… chửi. Đội ngũ những nhân vật phục tùng chính trị như Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận…, một số bạn bè cũ của Vũ Hoàng Chương, từng một thời khâm phục ông, ca ngợi ông, đề cao ông, nay quay ngoắt chửi ông ra rả, rằng “đồi trụy, trai gái, nghiện ngập, khốn nạn, điên khùng, phản động, thơ chẳng ra thơ, người chả ra người ...”

Nếu họ có nhắc tới Vũ Hoàng Chương, thường chỉ đưa ra những câu nhằm hạch tội, đủ thứ tội: “Say đi em/Say cho lơi lả ánh đèn/Cho cung bậc ngả nghiêng/Cho điên rồ xác thịt” (tội trụy lạc, trai gái), hay là: “Bao giờ ta trở lại cố đô/Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ” (tội phản động, “chống cộng,” thô bỉ, tàn bạo).

Câu thơ trên, Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ, không phải của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhưng ông Trần Bạch Đằng, Ủy viên Tuyên huấn Trung ương Đảng CSVN, qua bút hiệu Nguyễn Trương Thiên Lý, đã viết khơi khơi rằng “đó là thơ Vũ Hoàng Chương,” cốt để dân miền Bắc căm ghét, thù hận Vũ Hoàng Chương.

 Dân Việt ở phía Nam vĩ tuyến 17 nhìn thấy một Vũ Hoàng Chương khác, một nhà thơ hiền hòa:

 

          Ta van cát bụi trên đường

          Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này (1954)

 

          Nghe được từ lâu cá thở than

          Hôm nay mới sõi tiếng cây ngàn.

          Bao giờ tôi hiểu sâu lòng đất

          Là thấy đường lên cõi Niết bàn (1962)

 

          Thi sĩ Việt, trong tay không tấc sắt

          Chưa giết một ai trên nẻo luân hồi

          Vàng hoen máu không một lần để mắt... (1965)

         

          Tạo “duyên” thay “nghiệp,” dây Oan gỡ

          Hiểu “sắc” là “không,” bến Giác kề  (1967)

 

          Ta đứng trông về cái chính ta

          Hồn xanh trong nếp áo thu già

          Cánh tay xưa níu trời cao mãi

          Nay chống ô chờ đất nở hoa (1972).

 

          (So với năm 1954: Để ta tròn một kiếp say

          Cao xanh liều một cánh tay níu trời).

 

Với miền Nam, Vũ Hoàng Chương được coi là một nhà thơ có niềm thông cảm với người dân, đã nói lên những điều người dân không thể nói hay không dám nói:

          Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý

          Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Những người tìm cách vượt biển những năm cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980 ... thấy thơ Vũ Hoàng Chương nói lên cảnh ngộ của họ:

          Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa 

        Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh...

          Bể vô tận sá gì phương hướng nữa

          Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh...

 

Dân miền Nam biết rằng nhà thơ Vũ Hoàng Chương có một nhược điểm: đau đớn cho mối tình đầu theo đuổi trong gần 10 năm bị tan vỡ, nhà thơ – từ hồi còn trẻ -- tìm quên trong khói thuốc phiện (nàng tiên nâu), rồi sau trở nên nghiện, không bỏ được. Chúng ta thông cảm cho nỗi đau đớn ấy:

          Men khói đêm nay sầu dựng mộ

          Bia đề tháng sáu, ghi mười hai

          Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc

          Tố của Hoàng nay Tố của ai.

Ngoài nhược điểm ấy, Vũ Hoàng Chương không phải là một kẻ trụy lạc, bê tha, phóng đãng ... như nhà cầm quyền miền Bắc muốn mô tả.

 

Sự kiện tác giả bài “Say đi em” không phải là một dân ăn chơi được một người bạn thân của ông, nhà thơ Tô Kiều Ngân, xác nhận:

“Đọc thơ Vũ Hoàng Chương, với những câu:

Say đi em, say đi em

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

Nhiều người tưởng là ông rượu chè be bét. Kỳ thực Vũ không uống được rượu, hoặc uống rất ít. Mà đó là hồi còn trẻ, ở Hà Nội. Từ khi quen anh ở Sài Gòn, tôi chưa bao giờ thấy anh say sưa.”

 Họa sĩ Tạ Tỵ cũng cho biết ông có hai người bạn trong giới văn nghệ không uống được rượu, một trong hai người ấy là Vũ Hoàng Chương. Nhà thơ Tô Kiều Ngân cho biết tiếp:

 “Vũ cũng không biết nhảy đầm mặc dầu tả nhảy đầm rất hay... Có thể lúc còn trẻ Vũ đã đi nhảy đôi lần. Còn khi vào Sài Gòn chẳng thấy anh chuyện trò gì về khiêu vũ. Một người quen mặc áo gấm, áo the, đi guốc mộc hay giày hạ như anh hẳn là lạ lẫm lắm với cảnh bốn tường gương điên đảo. Hỏi anh Grand Monde ở đâu, Croix du Sud, Tabarin, Mỹ Phụng ở đâu (tên các tiệm nhảy danh tiếng ở SG), anh lắc đầu bảo ‘không biết’.”

 Với miền Nam, Vũ Hoàng Chương còn là một nhà giáo được hầu hết học sinh kính trọng và quý mến. Nhà văn Song Thao nhớ lại kỷ niệm cùng mấy người bạn đến thăm, chúc Tết thầy đầu năm Bính Thân 1956:

“Chúng tôi ngỏ ý cáo từ để Thầy nghỉ thì Thầy khoát tay bảo chúng tôi ngồi lại. Thầy lấy mực và một xấp giấy đỏ ra để tặng chữ, tặng thơ kỷ niệm. Không khí vui nhộn hẳn lên. Chúng tôi lật những tập thơ của Thầy ra tìm những câu thích nhất để xin Thầy viết. Có anh lại xin Thầy một đôi câu đối chữ Hán... Thầy chỉ khẽ mỉm cười vung tay viết ra những chữ đẹp như vẽ. Chỉ cần nhìn vào nét chữ cũng đủ thấy cái tài hoa khôn sánh của Thầy. Mỗi chữ lững lờ như tiềm tàng niềm ngây ngất ẩn dấu. Thấy chữ như buông thả mà trong chữ dường như có tâm sự riêng...

 

... Trên đường về tôi cười một mình khi thấy sao mà cảnh tết thầy vừa rồi giống như cảnh tết thầy của một thời xa lắc xa lơ khi các cụ đồ nho ngồi dạy học được coi như những bậc quân tử được mọi người bái phục, kính nể. Sự so sánh lẩm cẩm này làm nẩy sinh ra một câu hỏi. Vì sao Thầy lại có một chỗ đứng riêng biệt trong lòng chúng tôi như vậy? Bởi vì chúng tôi mến mộ thi tài của Thầy? Bởi vì chúng tôi quí trọng tư cách của Thầy? Bởi vì chúng tôi yêu mến Thầy? Bởi vì chúng tôi xót xa cho sức khỏe của Thầy? Bởi vì chúng tôi trân trọng cố gắng truyền đạt kiến thức của Thầy? Có lẽ phải cộng tất cả những cái ‘bởi vì’ này mới có một câu trả lời tạm đầy đủ”

 

Hồi nãy cô Ysa vừa cho biết là thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm Chủ tịch Văn Bút Việt Nam từ năm 1964 đến 1968. Theo nhà văn Nhật Tiến, sau khi không giữ nhiệm vụ Chủ tịch nữa, nhà thơ Vũ Hoàng Chương vẫn rất quan tâm đến Văn Bút trong cương vị Cố vấn. Nhà văn Nhật Tiến viết, “Sau này, trong vai trò Cố vấn Văn Bút, thi sĩ vẫn rất siêng năng đi họp. Ông ngồi đấy, nhìn những đàn em với cặp mắt hiền từ, bao dung, như sẵn sàng chia sẻ với mọi người trong các vấn đề đang bàn thảo...”

 

Là một trong những học trò cũ của nhà giáo, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, bạn cùng lớp với anh Song Thao, tôi có ý định viết một cuốn sách về thầy mình từ khoảng năm 2016 nhưng những năm ấy chưa gom góp được đủ tài liệu. Nhờ nhà sưu tầm thơ Trần Ngọc Khôi đã tìm lại được đầy đủ các tác phẩm của Vũ Hoàng Chương, từng được in thành thi tập hay được đăng rải rác trên các báo, tạp chí, đặc san của miền Nam trong những năm 1954-1975, công việc của tôi bớt khó khăn. Nhờ sự cố gắng của một số vị có lòng với lịch sử và văn hóa như nhà giáo Huỳnh Chiếu Đẳng với sự tiếp tay của kỹ sư Võ Phi Hùng, như nhà văn quá cố Trần Hoài Thư, nhiều sách báo, tạp chí của miền Nam trước biến cố 1975 như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Sáng Tạo, Khởi Hành, Văn Hóa Nguyệt San ..., các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận, Chính Luận, Tiền Tuyến, Hòa Bình, Tiếng Chuông, Sống, Sóng Thần ... dần dần được phục hồi, giúp tôi có cái nhìn tạm đầy đủ về lịch sử và xã hội miền Nam trong những năm ấy, nên mới dám khởi sự viết. Tuy tôi được mấy người bạn tận tâm giúp đỡ, công việc của một nhóm 4, 5 người khó có thể toàn hảo. Ước mong khi đọc sách, các bậc thức giả thấy có chỗ nào thiếu sót hay chưa hoàn toàn chính xác, xin vui lòng chỉ cho biết để khi tái bản, sách được hoàn chỉnh hơn, chúng tôi xin thành thật cảm ơn trước.

 

Ngoài bìa sách có ghi tên Gs Phạm Thị Lệ-Hương, một người bạn chúng tôi, nguyên là giáo sư và Quản thủ thư viện tại Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Ở bìa sau cũng in lời của Gs Lệ Hương về việc biên soạn một Thư tịch chú giải thật đầy đủ về Vũ Hoàng Chương, một tài liệu sẽ rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu lớp sau, nhưng trong tập sách phát hành hôm nay chưa có bản Thư tịch ấy. Lý do là gần tới ngày đưa sách đi in,  bản Thư tịch vẫn có chỗ cần được bổ túc. Trước cuối năm nay, chúng tôi sẽ in tập 2 của bộ sách với bản Thư tịch với những lời chú giải ấy. Trong tập 2 cũng sẽ có một số bài về bà Vũ Hoàng Chương, (cũng là chị ruột của nhà thơ Đinh Hùng), một nhân vật rất quan trọng đối với thi nghiệp của Vũ Hoàng Chương mà theo nhận xét của họa sĩ Tạ Tỵ, “Đó là một người có tình thương yêu vô lượng, có sức chịu đựng phi thường,” và, “Sự nghiệp của Vũ Hoàng Chương được thành quả, một phần cũng bởi lòng hy sinh cao cả và ý chí sắt son của tâm hồn khả kính ấy.” Chúng tôi cũng sẽ cho in trong tập 2 một số thơ tưởng niệm Vũ Hoàng Chương rất đặc sắc nhưng phát hiện được trễ, sau khi đưa tập 1 đi in.

 

Cám ơn Quý vị đã đồng cảm với ý nghĩ “nên có một hình thức tưởng niệm dành cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương” hôm nay:

--Một nhà thơ có chân tài,

--Một tâm hồn nhân hậu,

--Một tư cách khảng khái,

--Một vị thầy được học sinh kính ngưỡng,

--Một người cầm bút với nhiều từng trải, rất quan tâm tới tập thể cùng tới thế hệ sau.

 

Xin cám ơn sự lưu tâm lắng nghe của toàn thể Quý vị.

 

Trần Huy Bích

 



         Hình bàn sách: 
Quầy sách tại chương trình Năm Mươi Năm 
Ngày Giỗ  thi sĩ Vũ Hoàng Chương: 
Thúy Hằng, Quyên Trần và Janine Trang Nguyễn. (Ảnh: Thanh Huy.)


Sunday, September 20, 2026

TRỊNH Y THƯ : Bài phát biểu nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG


Kính thưa quý vị và các bạn, 

Hôm nay, chúng ta cùng nhau họp mặt trong không gian trang trọng này để tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một trong những tiếng thơ độc đáo và rực sáng nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh lửa từ thơ ông vẫn còn cháy, âm thầm mà mãnh liệt, trong tâm tư những người yêu thơ, yêu văn chương.

Vũ Hoàng Chương là thi sĩ của men say và lửa cháy, của đam mê và cô độc, của cõi thế và tâm linh, của một tâm hồn luôn kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối giữa những biến động khốc liệt của đất nước mà thế hệ, thời đại ông gánh chịu. Ông bước vào thi đàn với phong thái riêng: cổ điển mà phóng túng, u hoài mà rực rỡ, như một người đứng giữa giao lộ của truyền thống và hiện đại, mang theo tiếng thở dài của phương Đông và nỗi khắc khoải hoài nghi của kiếp nhân sinh.

Thơ ông không chỉ là những câu chữ hoặc vần điệu; đó là một khí chất, một cách sống, một cuộc đối thoại với định mệnh. Khi đọc Vũ Hoàng Chương, tai ta như nghe được tiếng vọng của trăng tàn, tiếng nấc của cuộc rượu, tiếng gọi của tự do, thứ tự do mà ông nâng niu đến tận cuối đời; mắt ta thấu thị từng góc cạnh ngõ ngách của nỗi đau kiếp người. Dù cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh nghiệt ngã, thơ ông vẫn giữ được sự thanh sạch của một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện, và sự thật.

Năm mươi năm sau ngày ông rời cõi thế, chúng ta không chỉ tưởng nhớ một thi sĩ. Chúng ta tưởng nhớ một nhân cách nghệ sĩ, một người đã sống trọn vẹn với thơ, với nghệ thuật, với nỗi đau và niềm kiêu hãnh của dân tộc. Di sản của ông không nằm trong những trang sách cũ, mà trong cách chúng ta tiếp tục đọc, tiếp tục lắng nghe, tiếp tục để thơ ông soi sáng những vùng sâu thẳm của tâm hồn.

Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Vũ Hoàng Chương không phải là một dấu chấm hết. Nó là dịp để chúng ta cùng nhìn lại trang sử bi thương của dân tộc, và qua đó, biết đâu chúng ta học được bài học lịch sử một cách thấu đáo, trọn vẹn hơn.

Nhìn từ chiều sâu văn hóa và lịch sử Việt Nam, số phận của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau năm 1975, ta không chỉ thấy một trường hợp cá nhân bị đàn áp, mà còn thấy đó là một nhát chém lên lịch sử-văn hóa Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi tăm tối đầy chấn động. Như chúng ta được biết, ông bị bắt giam vào khám Chí Hòa trong những điều kiện sức khỏe suy sụp trầm trọng, bị bắt không hẳn chỉ vì vài câu thơ châm biếm thời cuộc, mà vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam vượt lên trên ý thức hệ, điều mà bối cảnh chính trị lúc đó không thể dung nạp.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đại diện cho một dòng chảy văn hóa độc lập, ông thuộc thế hệ thi sĩ tiền chiến – thế hệ đã đưa thơ Việt bước vào thời hiện đại bằng tinh thần tự do khai phóng đầy cá tính, và sự kết hợp hài hòa tuyệt hảo giữa truyền thống thâm thúy Đông phương và cảm thức lãng mạn Tây phương. Trong văn hóa Việt Nam, thế hệ này được xem như những người gìn giữ phẩm giá tinh thần, đặt nghệ thuật lên trên mọi mục tiêu chính trị.

 Sau 1975, chính quyền mới muốn thiết lập một hệ chuẩn văn hóa duy nhất: văn nghệ phải phục vụ cách mạng, phục vụ tuyên truyền chính trị. Trong bối cảnh ấy, một thi sĩ như Vũ Hoàng Chương – người chủ trương “thơ là tiếng nói của tự do nội tâm” – trở thành biểu tượng của một truyền thống văn hóa không nằm trong hệ thống cai trị độc tài toàn trị.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam bước vào giai đoạn tái cấu trúc toàn diện. Điều này dẫn đến sự đứt đoạn lớn trong đời sống văn hóa: những giá trị, phong cách, và tiếng nói từng tồn tại ở miền Nam bị xem là “tàn dư” cần loại bỏ. Thậm chí, nhà nước Cộng sản còn phát động những chiến dịch đốt sách! Đốt sách là một hành vi cực kỳ man rợ, con người đã sớm nhận thức ra điều đó. Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, từ Đông sang Tây, người ta có thể liên miên chém giết nhau tàn bạo, không gớm tay, nhưng đốt sách thì xảy ra chỉ vài ba lần, lần Tần Thủy Hoàng giết Nho gia, đốt sách xảy ra cách nay trên hai nghìn năm, và lần Đức Quốc xã đốt sách hồi Thế chiến Thứ Hai. Đau buồn thay! Chuyện đốt sách không ngờ lại xảy ra ở Việt Nam ngay giữa thời đại của chúng ta, đó là vết ô nhục muôn đời không thể nào tẩy xóa được.

Những nhà văn, nhà thơ như Vũ Hoàng Chương thường bị nhà nước nhìn bằng con mắt nghi kỵ. Ông không hoạt động chính trị, nhưng trong lịch sử Cộng sản Việt Nam, trí thức độc lập thường bị xem là nguy hiểm hơn những người chống đối công khai, vì họ có ảnh hưởng tinh thần sâu rộng.

Lịch sử Việt Nam cho thấy: mỗi khi xã hội biến động, văn chương trở thành nơi lưu giữ ký ức và lương tri. Thời Lê-Nguyễn, nhiều nhà Nho bị lưu đày vì dám viết những điều trái ý triều đình phong kiến. Thời Pháp thuộc, văn chương trở thành nơi nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Sau 1975, văn chương lại đứng trước yêu cầu phải phục vụ một hệ tư tưởng mới. Trong dòng chảy ấy, Vũ Hoàng Chương là kẻ đứng ngoài nắng, không phải trong bóng mát: một thi sĩ trung thành với tự do tinh thần, và vì thế ông bị cuốn vào vòng xoáy của lịch sử, bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

Nhìn từ góc độ truyền thống Việt Nam, câu hỏi được đặt ra là, vì sao các chế độ toàn trị thường đàn áp văn nghệ sĩ? Câu trả lời xem ra giản dị lắm, bởi Văn chương là nơi bảo tồn ký ức dân tộc.

Trong văn hóa Việt Nam, nhà văn-nhà thơ không chỉ là người sáng tác, mà còn là người giữ gìn lịch sử tinh thần và ký ức dân tộc. Một chế độ muốn kiểm soát xã hội phải kiểm soát ký ức, và vì thế phải kiểm soát người viết.

Văn chương tạo ra tinh thần đạo lý ngoài tầm kiểm soát. Từ thời phong kiến dưới ảnh hưởng của Nho giáo, văn chương luôn gắn với đạo lý. Nhà thơ có quyền nói lên điều đúng-sai theo lương tâm. Đối với một hệ thống quyền lực muốn giành độc quyền chân lý, thì đạo lý độc lập là mối đe dọa lớn.

Văn chương Việt Nam vốn đề cao tự do nội tâm. Dù trải qua nhiều triều đại, văn hóa Việt Nam luôn coi trọng “tự do trong tâm tưởng”. Một chế độ toàn trị không thể chấp nhận điều này, vì tự do nội tâm dẫn đến tự do tư tưởng, mà họ quy chụp là phản động.

 Đó là lý do vì sao, sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, nhà nước Cộng sản đã bắt bớ, giam cầm, tù đày, hành hạ hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo thuộc chế độ cũ. Nhiều người chết trong tù. Có người chỉ được thả về trong cơn hấp hối, về đến nhà thì tắt thở.

Nhà văn Nhã Ca, trong một chương trình phỏng vấn, đã cho chúng ta biết như sau về số phận của cả một tập thể trí thức văn nghệ sĩ Miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó:

 “Trong chiến dịch tiêu diệt văn hóa, văn nghệ sĩ miền Nam tháng Tư năm 1976, Vũ Hoàng Chương, vị thi hào Việt Nam thế kỷ thứ 20, là người đầu tiên bị giết. Chiến dịch tàn khốc này đã kéo dài cả chục năm.  Hàng trăm văn nghệ sĩ bị bắt đi tù đầy, nhiều người không bao giờ trở về […] như học giả Hồ Hữu Tường, các nhà văn, nhà báo Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường...”

Số phận của Vũ Hoàng Chương không hẳn chỉ là bi kịch của một thi sĩ, mà là bi kịch của một giai đoạn văn hóa Việt Nam bị đột ngột chém đứt ngang. Ông bị bắt vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam lâu đời: tôn trọng tự do tinh thần, giữ gìn đạo lý, và dùng ngôn ngữ để soi sáng nhân tâm.

Trong lịch sử Việt Nam, những giá trị ấy luôn tồn tại – dù có lúc bị chèn ép, có lúc bị lãng quên. Nhắc đến Vũ Hoàng Chương hôm nay là nhắc lại một phần của bản sắc văn hóa dân tộc: văn chương Việt Nam không bao giờ hoàn toàn khuất phục trước quyền lực.

Tại sao chúng ta không nên lãng quên cái chết của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và những người cầm bút Việt Nam khác, những người có cái chết tương tự như ông?

Nhớ đến cái chết của ông, trước hết, là nhớ đến một thời kỳ mà văn chương bị buộc phải im tiếng, và những giá trị tinh thần bị đẩy vào bóng tối.

Thứ hai, số phận của ông phản ánh bi kịch của trí thức Việt Nam trong thế kỷ XX. Thế kỷ XX của Việt Nam là thế kỷ của chiến tranh, chia cắt và những biến động chính trị tác động mạnh lên dòng sinh mệnh dân tộc. Trong những biến động ấy, giới trí thức – đặc biệt là những người giữ tinh thần độc lập – thường trở thành nạn nhân của lịch sử. Cái chết của Vũ Hoàng Chương nhắc nhở chúng ta rằng trí thức Việt Nam đã phải trả giá rất đắt cho việc giữ gìn phẩm giá tinh thần, và rằng tự do tư tưởng chưa bao giờ là điều hiển nhiên có sẵn cho chúng ta hưởng thụ.

Thứ ba, ông đại diện cho truyền thống “văn dĩ tải đạo” – tiếng nói lương tri của người Việt. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đến Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà,văn chương Việt Nam luôn gắn với đạo lý, với tiếng nói của lương tri. Vũ Hoàng Chương tiếp nối truyền thống ấy: thơ ông không chỉ đẹp mà còn chất chứa nỗi đau, sự khắc khoải và những suy tư về thân phận con người. Cái chết của ông là lời nhắc nhở rằng khi tiếng nói đạo lý bị bóp nghẹt, văn hóa dân tộc cũng bị tổn thương.

Thứ tư, cái chết của ông là minh chứng cho việc văn chương có thể bị bức hại, nhưng không thể bị tiêu diệt. Dù nhà thơ bị giam giữ, dù bị xem là “phản động”, thơ Vũ Hoàng Chương vẫn sống. Nó sống trong trí nhớ của người đọc, trong những câu thơ truyền miệng, trong sự kính trọng của giới văn nghệ sĩ và mọi người dân khác. Nhắc đến cái chết của ông là khẳng định rằng bạo quyền có thể cầm tù, bức tử một thi sĩ, nhưng không thể xóa bỏ linh hồn của thơ. Câu thơ “Thi thư dù lửa bạo Tần có thiêu” có thể xem là lời tiên tri của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Nhắc đến Vũ Hoàng Chương là nhắc nhở rằng văn chương, khi chân thật và đẹp đẽ, có thể vượt qua thời gian. Và hôm nay, khi chúng ta nhắc lại tên ông, đọc lại những câu thơ ông để lại, chúng ta đang tiếp tục hành trình mà ông đã khởi đầu, hành trình đi tìm cái đẹp trong một thế giới tàn bạo vô nhân tính.

Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Xin tri ân những gì ông đã để lại cho văn học Việt Nam. Và xin giữ cho ngọn lửa thơ ông tiếp tục cháy trong lòng mỗi chúng ta.

 Xin trân trọng cảm ơn quý vị.

 TRỊNH Y THƯ

PHÁT HÌNH TRỰC TIẾP on SBTN, VIỆT BÁO youtube, Facebook

Chủ Nhật ngày 20 tháng 09, lúc 01 giờ 30 chiều:

https://www.youtube.com/live/38Y0x65Vnlc?si=OXzx-u2IR0RoN495

https://m.facebook.com/events/1619886479494008/?mibextid=ZbWKwL




Sunday, September 13, 2026

TRẦN NGỌC KHÔI: ĐÂY BÌNH LƯU CỐT (phỏng dịch thơ Adelaide Crapsey)

 






V.N.: CUNG TÍCH BIỀN Một Người Anh, Một Người Viết


    

Nhà văn Cung Tích Biền  (1936-2026)

Có những người ta biết từ lâu mà vẫn tưởng như còn có thể gặp lại vào một sáng Chúa nhật nào đó. Vẫn là quán cà phê quen thuộc, vẫn những khuôn mặt quen thuộc, vẫn những câu chuyện văn chương không đầu không cuối. Người ấy có thể hôm nay vắng mặt vì bận việc, vì đau chân, vì đi chơi xa, hay chỉ vì ngại ra đường. Ta không nghĩ rằng đó là lần cuối cùng.

Đó là anh Cung Tích Biền của tôi.

Theo thông tin của gia đình, anh sinh năm Bính Tý 1936, cùng tuổi với giáo sư Trần Huy Bích. Tuy nhiên trong những buổi họp mặt, có khi anh khai sinh năm 1938 bằng anh Phạm Phú Minh, hay thậm chí 1940. Có lẽ anh không muốn làm ra vẻ mình cao tuổi nhất trong bàn. Hai người đều là những bậc đàn anh mà tôi kính trọng, nhưng mỗi người một vẻ. Nếu anh Bích là người của chữ nghĩa Hán học, của thư tịch, của khảo cứu và những cuộc chuyện trò có thể kéo dài từ một chữ trong câu thơ đến cả một thời đại văn học, thì Cung Tích Biền lại là người của văn chương trải qua nhiều dâu bể của thời cuộc, một nhà văn đã sống, đã viết, đã im lặng, rồi lại viết, và sau cùng vẫn đứng đó như một chứng nhân của một thời đại nhiều biến động.

Anh đã có một vị trí riêng trong văn đàn Việt Nam từ trước năm 1975. Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện từ năm 1966 trên tuần báo Nghệ Thuật, rồi những truyện của anh lần lượt xuất hiện trên nhiều báo và tạp chí văn học ở miền Nam. Sau những năm dài gần như gác bút, anh trở lại với văn chương, và tiếp tục viết trong nhiều thập niên. Người đọc ở trong nước cũng như ở hải ngoại đều biết đến tên tuổi anh.

Nhưng đối với tôi, Cung Tích Biền trước hết không phải là một cái tên trong lịch sử văn học. Anh là một người anh. Và có lẽ vì vậy mà tin anh ra đi đến với tôi trong một hoàn cảnh lạ lùng đến nỗi tôi cứ thấy lòng mình ngẩn ngơ.

 

… Một ngày “trùng cửu”

Ngày 9 tháng 9 vừa rồi, chúng tôi vẫn đùa nhau gọi là ngày “trùng cửu”. Cũng là ngày sinh nhật nhà thơ Thành Tôn. Anh em văn nghệ chúng tôi làm một cuộc họp mặt nho nhỏ tại Phở Gà Dakao vào buổi trưa, vừa ăn vừa chúc mừng sinh nhật anh Thành Tôn, rồi lại như thường lệ, nói đủ chuyện trên trời dưới đất: sách vở, văn chương, những người quen cũ, những chuyện ngày xưa mà nói mãi vẫn chưa hết.

Theo lịch trình, hôm ấy anh Cung Tích Biền và chị Hoàng Kim đang đi cruise nên chúng tôi không mời. Chẳng ai nghĩ gì khác. Người đang đi chơi thì cứ để người ta đi chơi. Anh em gặp nhau hôm nào chẳng được.

Nào ngờ, trong lúc chúng tôi đang vui vẻ tán gẫu thì anh đã ra đi, vào lúc 12 giờ 25 phút. Chỉ cách chúng tôi một khoảng thời gian ngắn, mà bỗng nhiên xa nhau cả một đời.

Tôi không biết phải gọi đó là sự trùng hợp, hay một thứ nghịch lý nào của đời người. Chúng tôi ngồi bên nhau, nói cười giữa một buổi trưa bình thường. Còn một người anh thân tình thì lặng lẽ đi qua một cánh cửa mà không ai trong chúng tôi hay biết.

Nếu biết trước, có lẽ tôi đã mời anh. Nếu biết trước, có lẽ tôi đã nói với anh vài câu. Nhưng đời sống không bao giờ cho người ta biết trước những cuộc chia tay.

Bởi vậy, điều còn lại không phải là những lời chưa kịp nói, mà là những câu chuyện đã nói từ lâu, những buổi sáng đã qua, những bữa cơm đã ăn, những lần gặp gỡ tưởng như rất bình thường mà nay bỗng trở thành kỷ niệm.

 

… Những sáng Chúa nhật ở Coffee Factory

Tôi vẫn nhớ những buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory.

Ngày ấy anh em văn nghệ tụ họp khá đông. Có khi bàn này nối sang bàn khác, người đến trước ngồi chờ người đến sau, cà phê hết ly này đến ly khác mà câu chuyện thì chẳng bao giờ hết.

Anh Cung Tích Biền thường ngồi đó, hòa nhã, từ tốn. Anh không phải kiểu người nói chuyện ồn ào để mọi người phải nghe mình. Anh nói với người này dăm ba câu, với người kia vài câu. Có khi một câu chuyện tưởng đã xong rồi, anh lại góp thêm một ý nhỏ, nghe tưởng như vu vơ mà ngẫm lại mới thấy có cái gì đáng nhớ.

Biết tôi thích cổ văn và Hán Nôm, anh thỉnh thoảng lại kéo tôi vào một câu chuyện chữ nghĩa.

Anh có cái thú của người đọc nhiều: gặp một điển tích cũ thì nhắc lại, gặp một thành ngữ nhiều người hiểu sai thì sửa lại cho vui. Không phải lúc nào anh cũng giảng giải dài dòng. Nhiều khi chỉ một câu nói tếu mà làm cho người nghe nhớ cả đời.

Có lần anh nói về thành ngữ “loan phụng hòa minh”. Anh giải thích chữ minh 鳴 ở đây là tiếng hót, tiếng gáy của chim; “loan” và “phụng” cùng cất tiếng hòa nhau, chứ không phải chữ minh 明 là sáng. Rồi anh lại pha một câu đùa rằng có người còn hiểu thành chữ 冥, thế là từ “minh” thành ra... dốt!

Anh nói tỉnh bơ, làm tôi bật cười.

Những câu chuyện như thế có thể không phải là những điều lớn lao. Nhưng đời sống của một người đôi khi lại được làm nên bởi chính những điều nhỏ bé như vậy. Một câu chuyện bên ly cà phê, một chữ Hán được giải thích, một tiếng cười giữa những người cùng yêu chữ nghĩa — rồi đến một ngày, người kể câu chuyện ấy không còn ngồi ở chiếc bàn quen thuộc nữa.

Ta mới hiểu mình đã mất đi một điều gì.

 

… Cái chủ quan đáng yêu của một bậc trưởng thượng

Anh là người hòa nhã, nhưng dĩ nhiên, như mọi bậc đàn anh, anh cũng có cái chủ quan của... bậc trưởng thượng.

Tôi nhớ một lần trong buổi ra mắt sách của anh Bùi Vĩnh Phúc. Tôi chỉ cho anh xem bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và bản dịch tiếng Anh trong sách. Bản dịch mà anh Bùi Vĩnh Phúc đưa ra trong sách khá ngô nghê, và cái ngô nghê ấy lại được anh ghi nhận một cách hóm hỉnh. Tôi bật cười.

Anh Cung Tích Biền liền nói đại ý: “Bài ấy đã có bản dịch rất hay của Witter Bynner rồi. Dịch lại làm chi.”

Tôi không tiện phản đối một bậc đàn anh. Nhưng trong bụng tôi nghĩ: chuyện văn chương đâu phải lúc nào cũng đơn giản như thế.

Một bài thơ hay không phải chỉ có một bản dịch hay. Ngay trong tiếng Việt, riêng bài Hoàng Hạc Lâu đã có biết bao bản dịch của Ngô Tất Tố, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Khương Hữu Dụng, Bùi Khánh Đản, Vũ Hoàng Chương... rồi không biết bao nhiêu bản khác nữa, kể cả những bản phiếm dịch, ngẫu dịch, dịch chơi cho vui.

Vậy thì tại sao người ta lại dịch lại?

Bởi vì người dịch không chỉ dịch bài thơ. Nhiều khi người ta dịch chính mình.

Một bài thơ đọc ở tuổi hai mươi không giống bài thơ ấy đọc ở tuổi năm mươi. Một câu thơ khi còn trẻ có thể chỉ là câu thơ; đến lúc tóc đã bạc, nó bỗng có thêm một tầng nghĩa của chia lìa, của thời gian, của những người đã mất.

Ngay chính tôi, thỉnh thoảng cũng dịch lại, hoặc viết phiếm luận về Hoàng Hạc Lâu. Tôi nghĩ anh cũng hiểu điều đó. Người ta viết lại một bài thơ cũ đôi khi không phải để người khác đọc. Mà để nhìn lại mình.

Có lẽ vì thế mà những bài thơ nổi tiếng nhất của nhân loại vẫn tiếp tục được dịch, được đọc, được giảng, được viết lại. Mỗi thế hệ có một cách nhìn; mỗi tuổi đời có một cách hiểu.

Và mỗi người đọc, sau cùng, lại tìm thấy mình trong một câu thơ của người xưa.

 

… Một câu chuyện rất đời

Tôi cũng nhớ những bữa cơm gia đình khi anh chị ghé nhà tôi cùng một số thân hữu.

Chị Hoàng Kim kể chuyện quá trình học ở Cal State Fullerton. Anh ngồi bên cạnh, có lúc ghé tai tôi nói nhỏ:

“Hồi ở Việt Nam, chị mày lấy xe gắn máy chở tao đi uống cà phê.”

Tôi bật cười.

Chẳng phải chuyện văn chương gì cả.

Chỉ là một mẩu chuyện của đời sống.

Nhưng nó làm hiện ra cả một quãng đời khác: Việt Nam ngày trước, những con đường cũ, chiếc xe gắn máy, những quán cà phê, những người hàng xóm, những bạn bè văn nghệ. Khi ấy anh chị là hàng xóm của chị Ý Nhi.

Có những người cả đời viết hàng ngàn trang sách, nhưng đôi khi một câu nói rất ngắn về chiếc xe gắn máy năm nào lại khiến người nghe hình dung được cả một thời.

Có lẽ đó cũng là cái duyên của một người viết: sống qua những chuyện rất bình thường, nhưng trong trí nhớ lại giữ được cái bóng của một thời đã mất.

 

… Những cuốn sách chưa số hóa

Khoảng năm 2010, anh có lần ngỏ ý nhờ tôi giúp số hóa sách vở của anh ngày xưa.

Thời ấy các chương trình OCR còn rất sơ khai. Những bản sách in typo cũ, giấy xấu, chữ nhòe, scan lại có độ phân giải thấp — máy đọc chữ gần như chịu thua. Muốn làm cho ra hồn thì phải sửa từng trang, từng chữ.

Tôi lúc ấy còn bận chuyện mưu sinh. Mà công việc thì quả thật... khó quá. Đành phải từ chối anh.

Tôi đề nghị anh nhờ anh bác sĩ Hoàng Hưng hoặc nhờ bạn bè bên Việt Nam đánh máy lại. Tôi nghĩ cách ấy vừa nhanh hơn vừa đỡ tốn kém. Anh nghe lời và anh đã làm. Rồi từ đó, hết cuốn này đến cuốn khác, những tác phẩm cũ của anh được đánh máy, sửa chữa, tái bản. Một đời viết tưởng như nằm yên trong những chồng sách cũ lại được đưa trở về với người đọc.

Mỗi khi tái bản được dăm ba đầu sách, anh chị lại tổ chức một buổi ra mắt ở Coffee Factory.

Tôi nhớ những buổi như thế.

Anh ký tặng sách cho thân hữu. Người ta đến không chỉ để mua sách, mà còn để gặp anh, gặp bạn bè và nghe chuyện văn chương. Chị Hoàng Kim lại trổ tài nấu nướng, thế là một buổi ra mắt sách nhiều khi trở thành một buổi họp mặt gia đình lớn.

Có người mua một cuốn. Có người mua vài cuốn. Có người mua để đọc, có người mua để làm kỷ niệm. Nhưng tôi nghĩ sâu xa hơn, người ta mua sách của anh vì muốn giữ lại một phần đời văn chương ấy trong tủ sách gia đình.

Sách, trong trường hợp này, không chỉ là sách.

Nó là ký ức.

 

… Một đời đứng giữa những biến động

Cung Tích Biền là một trường hợp đặc biệt trong văn học Việt Nam hiện đại.

Ông trưởng thành trong chiến tranh, từng sống ở những phía khác nhau của lịch sử, từng khoác áo lính, từng mang lon đại úy trước khi giải ngũ năm 1973, từng giảng dạy, từng viết văn trong một thời kỳ mà văn chương miền Nam phát triển mạnh mẽ. Sau năm 1975, ông ở lại Việt Nam, có một thời gian dài gần như gác bút, rồi trở lại với văn chương vào những năm sau đó…

Những năm tháng ấy không phải chỉ là những mốc trong tiểu sử. Chúng là những năm tháng đã đi vào văn chương của ông.

Bởi vậy, đọc Cung Tích Biền không thể chỉ đọc câu chữ. Phải đọc cả cái bóng của lịch sử đứng phía sau câu chữ.

Có những nhà văn được thời đại nâng lên. Có những nhà văn bị thời đại vùi xuống. Có những người may mắn được lịch sử đối xử nhẹ tay. Và cũng có những người phải sống rất lâu với những câu hỏi mà thời đại để lại.

Cung Tích Biền thuộc về thế hệ đã đi qua một trong những đoạn lịch sử khốc liệt nhất của đất nước. Nhưng điều đáng kể là sau tất cả những biến động ấy, ông vẫn còn giữ được một thứ mà người viết cần nhất: tiếng nói riêng của mình.

Ông không chỉ viết để kể chuyện. Ông viết để đối thoại với đời sống. Và đôi khi, để đối thoại với chính mình. Có lẽ vì thế mà văn chương của Cung Tích Biền vẫn còn người đọc sau nhiều chục năm. Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với một nhân vật, một ý tưởng, một cách nhìn của ông. Nhưng khó thể phủ nhận rằng đó là tiếng nói của một người đã sống rất sâu trong thời đại mình.

 

… Một người anh vừa đi xa

Tôi vẫn nghĩ về buổi trưa ngày 9 tháng 9. Chúng tôi ngồi ở Phở Gà Dakao, chúc mừng sinh nhật Thành Tôn, nói cười và tán gẫu. Nếu lúc ấy có ai nói với tôi rằng chỉ ít phút sau anh Cung Tích Biền sẽ ra đi, chắc tôi không thể tin được.

Con người ta thường tưởng rằng những người mình quen biết vẫn còn đó. Anh Cung Tích Biền vẫn còn đó trong ký ức tôi: một buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory; một câu chuyện về chữ 鳴; một câu nói tếu về chữ “minh”; một cuộc tranh luận về chuyện dịch Hoàng Hạc Lâu; một bữa cơm gia đình; một lần anh nhờ số hóa sách; những buổi ra mắt sách ở Coffee Factory; những cuốn sách được chuyền tay nhau; và giọng nói từ tốn của một người anh.

Có những người để lại cho đời một thư mục tác phẩm. Có những người để lại một thư mục ký ức.

Cung Tích Biền để lại cả hai.

Và đối với tôi, có lẽ thư mục ký ức ấy mới là điều khó mở ra nhất, bởi mỗi lần mở lại, tôi lại thấy một người anh đang ngồi đâu đó, bình thản nói chuyện với người này vài câu, người kia vài câu; rồi bất chợt quay sang tôi, nhắc một chữ Hán, một điển tích, một thành ngữ mà thiên hạ vẫn hiểu lầm.

Tôi sẽ còn nhớ câu chuyện về “loan phụng hòa minh”. Bởi từ nay, chữ 鳴 ấy đối với tôi không chỉ còn là tiếng chim hót. Nó còn là tiếng nói của một người anh. Một tiếng nói đã từng vang lên giữa những buổi sáng cà phê, giữa những cuộc chuyện trò văn chương, giữa một cộng đồng những người cầm bút xa quê.

Rồi một ngày, tiếng nói ấy bỗng im. Nhưng văn chương thì không im. Những trang sách vẫn còn đó. Những cuốn sách anh đã nhọc công cho tái bản vẫn còn đó. Những câu chuyện anh kể vẫn còn đó. Và những người từng ngồi bên anh, như tôi, sẽ còn kể lại. Để một người viết không chỉ được nhớ vì những gì anh đã viết, mà còn được nhớ vì anh đã từng sống giữa chúng ta như thế nào.

Anh Cung Tích Biền đã đi rồi.

Nhưng trong một buổi sáng Chúa nhật nào đó, nếu tôi lại ngồi ở Coffee Factory, tôi biết mình vẫn sẽ vô thức nhìn sang chiếc ghế quen thuộc, như chờ một người anh đến trễ.

Và có lẽ trong một lúc nào đó, giữa câu chuyện của bạn bè, tôi sẽ lại nghe như có tiếng anh từ đâu đó:

“Chữ ấy là 鳴, không phải 明 đâu!”

Rồi tôi sẽ cười.

Và nhớ anh.

V.N.