Tuesday, April 28, 2026

Nguyễn thị Khánh Minh: 8. Chữ S Cong Cong

 8. CHỮ S CONG CONG

 

Sáng lóa lên chữ đêm

Sắc nhọn đi chữ mềm

Vía ma quỷ. Ám cong hoài chữ S

Bướu tôi đòi trĩu mãi lưng cong

 

Cháy lên hạt chữ

Ngọn gió rồng xua bóng tà ma

Chảy đi hạt chữ

Mặn cho bằng hạt máu

Tan cùng nỗi đau

 

Mọc cánh đi chữ tù

Mở mắt đi chữ mù

Ải Bắc vọng phu

Mũi Cà Mau cắm sào mòn đợi

Chiều đã chiều rồi

Mẹ về chợ

Quang gánh S cong

Đầu đuôi. Cắm cúi

 

Chữ S nằm dài

Dòng sông khốn khó

Đầu đuôi ngóng ngược ngóng xuôi

Chữ S đau

Ai bẻ mà cong

Chữ S ngã 

Vặn mình hoài không thay được lốt

 

Mẹ nằm chiếu lạnh

Nghe đàn con chơi đùa ngoài ngõ

Rồng rồng rắn rắn

Chữ S cong cong

… Những xương cùng xẩu

… Những máu cùng me

... Một khúc đuôi… (dôi xa khơi)

… Tha hồ mà đuổi

 

Mẹ nằm ngủ gió tre rào

Mơ mơ S cong báo mộng

Một chốn dung thân

Câu thơ chiếc võng

Duy ngã Đại Việt chi quốc*

 

Mẹ nằm thức mơ gió biển

S cong ác mộng

… Sơn hà cương vực đã chia*

Mà non không thể lên, biển chẳng mở về

Trăm trứng kia thà rằng đừng nở

Xăm mình muôn hình muôn sắc mà đi

Cho giống con cá dưới nước

Cho giống con chim trên trời

Cho giống con ma trên đất

Cho giống cái chi không phải con người

 

S cong đêm

Mẹ nằm lạnh thềm trăng úp mặt

... Tiệt nhiên định phận tại thiên thư**…

 

4.2014

 

* Câu trong bài Bình Ngô Đại Cáo, một thiên cổ hùng văn, Nguyễn Trãi viết vào năm 1427, được xem là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập thứ hai của nước taDuy ngã Đại Việt chi quốc. Thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên chi phong vực ký thù…, Trần Trọng Kim dịch: Như nước Việt từ trước. Vốn xưng văn-hiến đã lâu. Sơn-hà cương-vực đã chia… (Wikipedia)

** Câu trong Nam Quốc Sơn Hà, bài thơ được cho là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên của nước ta, Lê Hoàn đã dùng bài thơ này trong cuộc chiến với quân Tống năm 981, sau đó cũng được Lý Thường Kiệt dùng trong cuộc chiến chống quân Tống năm 1077, với mục đích uy hiếp tinh thần giặc cùng kích thích hào khí quân sĩ.

Monday, April 27, 2026

Thiệp mời Ra mắt sách: Bùi Vĩnh Phúc, Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương

 


Trịnh Y Thư: Bùi Vĩnh Phúc: Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu

 

 
 

1. Nhà Phê bình Văn học, anh là ai?

 Làm thế nào để viết về một nhà phê bình văn học? Đó là câu hỏi lởn vởn, thậm chí quay quắt, trong trí óc tôi từ lúc được tin tạp chí Ngôn Ngữ, một tạp chí chuyên đề văn học có uy tín lớn xuất bản và lưu hành ở hải ngoại, dự định thực hiện một ấn bản đặc biệt về nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc, và tôi có ý định tham gia, đóng góp cái gì đó cho số báo ấy. Tham gia vì giữa tôi và Bùi Vĩnh Phúc chẳng xa lạ gì nhau. Sự thật là chúng tôi đã có mối giao tình văn chương từ rất lâu khi cùng sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật từ những năm đầu thập kỷ ’80 thế kỷ trước. Lúc đó anh là cây bút chủ lực của tờ tạp chí Văn Học do nhà văn Nguyễn Mộng Giác biên tập và điều hành. Thoạt đầu anh được biết đến với những bài tùy bút và thơ, nhưng dần dà, không rõ do một cơ duyên nào, anh bước sang lãnh vực Phê bình Văn học, và từ đó cho đến nay, không thể hoài nghi hay chối cãi được, anh nghiễm nhiên được xem là một trong số rất ít, rất hiếm hoi các cây bút phê bình đúng nghĩa và sắc bén nhất của văn học Việt Nam hải ngoại.

 Trong buổi Ra Mắt Sách cuốn 9 Khuôn Mặt . 9 Phong Khí Văn Chương của Bùi Vĩnh Phúc tại Quận Cam, California đầu năm 2024, trong phần phát biểu, tôi có hỏi cử tọa một câu rằng, “Để trở thành nhà phê bình văn học, có khó không?”

 Câu hỏi đưa ra chỉ là một thách thức, nhưng xem ra khá thừa thãi và không thuận lý cho lắm, bởi như chúng ta đều biết, để trở thành một nhà phê bình văn học, không chỉ đơn thuần là đi theo con đường cố định cũ mòn, khen chiếu lệ hoặc chê bai qua loa một tác phẩm nào đó theo cảm tính thiên kiến hoặc quan hệ cá nhân, mà là xây dựng kỹ năng, bản lĩnh và uy tín theo thời gian, một thời gian rất dài, lắm khi dài cả đời người.

 Nhà phê bình chẳng những phải trải qua một quá trình đọc sách sâu rộng bao phủ các thời kỳ khác nhau – cổ điển, hiện đại, đương đại – mà còn phải am hiểu tường tận các loại hình văn bản của các thể loại văn học như thơ, truyện, tiểu thuyết, ký (văn học), tùy bút, tản văn, kịch, tiểu luận, v.v. Rồi các nền văn hóa và truyền thống, bạn cũng cần phải có một số vốn kiến thức tối thiểu. Bạn không chỉ đọc để giải trí mà để nhận biết cách thức hoạt động của các tác phẩm và mối liên hệ giữa chúng với các tác phẩm khác. Phải có một tư duy phân tích sắc bén, nhà phê bình đặt ra những câu hỏi như: Tác phẩm này đang khám phá những chủ đề hay ý tưởng nào? Ngôn ngữ, cấu trúc và phong cách tạo nên ý nghĩa như thế nào? Tác phẩm đưa ra những giả định nào về xã hội, bản sắc, quyền lực hay đạo đức? Cái nhìn về Lịch sử trong tác phẩm là gì, chủ đích của tác giả chỉ là miêu thuật Lịch sử hay Lịch sử là cái cớ để tác giả nói về những suy nghiệm khác? Điều này có nghĩa là phải chứng minh quan điểm dựa trên cơ sở và nội dung của văn bản trong một bối cảnh toàn diện, chứ không chỉ dựa vào sở thích hay thiên kiến cá nhân.

 Kiến thức về Triết học, về lý thuyết và bối cảnh văn học là cần thiết. Hầu hết các nhà phê bình đều sử dụng ít nhất một số lý thuyết, chẳng hạn như Chủ nghĩa Hình thức (thao tác nội tại của văn bản); Phê bình Lịch sử hoặc Văn hóa; các phương pháp tiếp cận Nữ quyền luận, Cấu trúc luận, Giải Cấu trúc luận, Hậu Thuộc địa luận, hoặc Mác-xít luận, v.v.

 Đọc những tiểu luận hoặc chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc trong suốt bao năm qua trên sách báo, mà thể hiện rõ ràng và thuyết phục nhất là bộ sách đồ sộ 9 Khuôn Mặt . 9 Phong Khí Văn Chương của anh được Văn Học Press xuất bản năm 2024, không nghi ngờ, cũng không nghi ngại, tôi có thể nói tất cả những điều trên đều có mặt trong cái viết của Bùi Vĩnh Phúc trong tư cách một nhà phê bình văn học.

 Định nghĩa thế nào là Phê bình Văn học, Bùi Vĩnh Phúc có đưa ra một nhận định thú vị và độc sáng. Trong bài tiểu luận đặc sắc “Về Tính Vũ Đoán trong Viết, Đọc, và Thẩm Thức Văn Chương”, anh bảo đọc sách là một sự vũ đoán, chấp định. Anh viết, “Và chính là từ sự chấp định này, ký hiệu (ngôn ngữ) nói chung và văn bản văn học nói riêng, mang tính đa nghĩa, mơ hồ và nhập nhằng trong cái nghĩa tích cực của nó.

 Theo anh, đây chính là cơ sở cốt lõi làm nên tính cách Phê bình Văn học đúng nghĩa. Anh viết:

 “Mở một trang sách, bước vào thế giới của chữ nghĩa, con người đã đẩy cửa để bước vào một thế giới khác, cũng đầy ắp những ký hiệu. Những ký hiệu trong sách cũng đòi hỏi phải được giải mã, lột vỏ. Có thế, chúng mới có thể dâng hiến cho người đọc cái tinh chất của chúng, cái chất ngọt, cay, đắng, chát, mặn mà, thơm tho, nồng đượm, hay cái cảm giác thô ráp, mềm mại, sắc lẻm, xù xì… của cuộc đời.”

 Đối với Bùi Vĩnh Phúc, một tác phẩm văn học là một thế giới “mở”, nó cho phép người đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa, ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thể thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của người đọc ấy.

 Tôi không thể không đồng ý với anh về luận điểm này.

 Khi đọc cuốn tiểu thuyết Jane Eyre của nữ sĩ Charlotte Brontë, nhà phê bình Mác-xít đánh giá tác phẩm dựa trên những quan hệ tương tác kinh tế để từ đó đề xuất những luận đề xã hội. Nhưng đọc cùng cuốn sách, nhà phê bình Nữ quyền luận sẽ nhìn khác, hắn tập trung vào tình huống và tâm lý ứng xử giữa các nhân vật khác giới tính để luận giải những mâu thuẫn nam nữ trong một bối cảnh xã hội nào đó.

 Sự thú vị khi đọc những tác phẩm văn học là chỗ đó.

 Bùi Vĩnh Phúc không dừng lại ở ý nghĩa vũ đoán, chấp định của việc đọc, anh tiến sâu vào trọng tâm vai trò người phê bình. Anh viết, “Văn bản là cái được nói ra, nhưng trong cái được nói ra đó có hàm chứa những cái không được nói ra. Cái nói ra dựa vào cái không được nói ra. Có một sự chồng lên nhau giữa cái được nói ra và cái ẩn kín bên trong, cái lùi khuất khỏi tiền trường sân khấu. Đó là cái không được phát ngôn, tức sự im lặng. Văn bản là một không gian, một hiện trường được tổ chức theo các quy luật ngôn ngữ. Nó che đậy ở bên dưới nó những cái vắng mặt, những kho tàng được chôn giấu, ẩn kín. Bởi vậy, đọc hay phê bình văn học là đi tìm cái bị che giấu kia, đi tìm cái vắng mặt, cái không hề hiện diện tại hiện trường.”

 Đọc một tác phẩm văn học là đọc giữa những hàng chữ, là nắm bắt một vài từ hay nhóm từ hay ý tưởng làm điểm nhấn để từ đó thăng hoa lên các suy nghiệm sâu sắc hơn. Có nghĩa là độc giả phải sáng tạo cùng với tác giả.

 Một tác phẩm tiêu biểu đòi hỏi độc giả phải “đồng sáng tạo” với tác giả là cuốn Dubliners của nhà văn James Joyce. Khi viết cuốn sách này, Joyce mới ngoài 20 tuổi, nhưng tác phẩm ấy của ông đã được xem là lời kêu gọi dân tộc Ireland hãy tỉnh thức, hãy thoát ra khỏi cõi u mê, thoát ra tình cảnh trì trệ, bảo thủ đi ngược lại mọi tiến bộ về mặt dân sinh lẫn tư tưởng, để kiến tạo đất nước. Tuy nhiên, trong suốt 15 truyện ngắn, ta không hề thấy một từ, một ý nào Joyce viết cho thấy ông đang kêu gọi ai đó đứng lên làm cách mạng cả. Sự tinh tế và nhất là nghệ thuật văn chương cao độ hiếm thấy của Joyce, may mắn thay, đã không biến tác phẩm của ông thành một văn bản tuyên truyền chính trị thấp kém và rẻ tiền. Nhờ vậy, dù ra đời từ cả trăm năm trước, tác phẩm vẫn có sức thu hút người đọc, bởi, như Bùi Vĩnh Phúc nói, “… đọc hay phê bình văn học là đi tìm cái bị che giấu kia, đi tìm cái vắng mặt, cái không hề hiện diện tại hiện trường.” Chính “cái bị che giấu” đã khiến tác phẩm có sức mạnh trường tồn bền bỉ, mà người đọc, người phê bình, có trách nhiệm tìm ra, chỉ ra cho mọi người cùng thấy.

 Cái bị che giấu, cái vắng mặt”, đối với thơ ca, là tất cả, bởi chủ ý của thơ ca là tiếp lực khả năng gợi cảm của ngôn từ hầu biểu hiện những cảm xúc, cảm quan, cảm thức nằm ngoài đường biên của ý thức hằng ngày. Mỗi bài thơ là một thực thể độc lập được ngôn ngữ dàn xếp, hòa giải một cách phức hợp, có nghĩa là, bài thơ có thể ám chỉ cái gì có thật, hoặc nó chẳng ám chỉ điều gì, nó chỉ hiện hữu ở hình thức mà chính nó được trình bày. Nói cách khác, ngôn ngữ thơ kiến tạo một không gian thơ và bất cứ thứ gì phi-thơ (biện biệt cho một ý đồ, một ý thức hệ, chẳng hạn) nhảy vào thế chỗ đều trở thành vô nghĩa một cách ngớ ngẩn, đáng buồn cười. Một bài thơ thường có những khoảng trống, giống như một khúc nhạc thường có những dấu lặng, nhưng chính những khoảng trống đó giúp ta có một lối thẩm thức độc lập và độc đáo cho chính ta. Đó chính là sự thú vị khi đọc thơ.

 Khởi đi từ ý niệm “cái vắng mặt” của Bùi Vĩnh Phúc, tôi có một suy nghĩ như vậy về thơ ca, nói riêng, và văn học, nói chung. Kỳ thực, đọc hay thưởng thức bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào khác, như hội họa, âm nhạc, ta đều bị chi phối dưới hình thức thẩm thức, lý giải rất chủ quan, mang tính vũ đoán của mỗi chủ thể người thưởng ngoạn, và nhờ vậy tác phẩm biến thành một thế giới với vô số chiều kích lý thú.

 

2. Phê bình Văn học và Triết học

 

Triết học có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến Phê bình Văn học, nó định hình tính cách nhà phê bình hiểu văn học, diễn giải văn bản và đánh giá giá trị của chúng. Triết học cung cấp những câu hỏi cơ bản mà Phê bình Văn học đặt ra: Ý nghĩa là gì? Chân lý được thể hiện trong nghệ thuật như thế nào? Ngôn ngữ có thể phản ánh chính xác thực tại không? Ví dụ, Plato và Aristotle đã đặt nền móng Triết học ban đầu – Plato xác lập những vấn nạn thơ ca với sự hoài nghi vì cho rằng đó là sự bắt chước, trong khi Aristotle bảo vệ nó như một hình thức tri thức có ý nghĩa. Những ý tưởng này vẫn còn vang vọng trong các cuộc tranh luận về Chủ nghĩa Hiện thực, sự mô phỏng và mục đích của văn học. 

Nhiều trường phái Phê bình Văn học lớn có nguồn gốc trực tiếp từ tư tưởng Triết học: Phê bình Mác-xít phát triển từ Triết học của Karl Marx, tập trung vào giai cấp, quyền lực và hệ tư tưởng trong các văn bản. Phê bình Phân tâm học dựa trên những ý tưởng Triết học của Freud về vô thức và hành vi con người. Phê bình Hiện sinh dựa trên các triết gia Hiện sinh như Sartre và Camus, nhấn mạnh đến sự tự do, sự lựa chọn và sự tha hóa. Cấu trúc luận và Hậu Cấu trúc luận dựa trên các ý tưởng Ngôn ngữ học và Triết học từ các tư tưởng gia như Saussure, Derrida và Foucault, đặt câu hỏi về ý nghĩa ổn định và ý định của tác giả. Vân vân. 

Triết học ảnh hưởng đến tính cách các nhà phê bình nhìn nhận mối quan hệ giữa tác giả, văn bản và người đọc. Ví dụ, Hiện tượng học (Heidegger, Gadamer) nhấn mạnh vai trò của người đọc trong việc tạo ra ý nghĩa, trong khi Triết học Hậu Hiện đại thách thức ý tưởng về một cách diễn giải duy nhất, cố định. 

Nói chung, Triết học cung cấp cho Phê bình Văn học xương sống trí tuệ. Nó cung cấp các lý thuyết, khái niệm và phương pháp mà các nhà phê bình sử dụng để phân tích văn bản, biến Phê bình Văn học thành một cuộc khảo sát có kỷ luật, quy tắc chứ không chỉ đơn thuần là ý kiến, thiên kiến ​​cá nhân. Nếu không có Triết học, Phê bình Văn học sẽ thiếu hẳn chiều sâu, sự mạch lạc và tính nghiêm túc.

 Bùi Vĩnh Phúc là nhà phê bình luôn có ý thức về Triết học khi viết về thơ văn của một tác giả nào đó. Trong một chuyên luận dài hơi (và có lẽ đầy đủ nhất) về thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, anh viết: “… Nhìn một cách nào đó, Thanh Tâm Tuyền là một hữu thể bị ‘giam giữ’ trong đời sống. Nhưng, nói như thế là một nghịch ngôn, một oxymoron, vì sống là sống cùng và sống với. Con người là một hữu-thể-tại-thế, một hữu-thể-ở-đó (Dasein), nói như Heidegger. Vì thế, bảo rằng nhà thơ bị ‘giam giữ’ trong đời sống thì chỉ là một cách nói. Có ‘giam giữ’ thì mới có ý thức ‘vượt thoát’, muốn chặt đứt ‘xích xiềng.’”

 Xuyên suốt tập chuyên luận 9 Khuôn Mặt . 9 Phong Khí Văn Chương, ngoài Thanh Tâm Tuyền, ta thấy Bùi Vĩnh Phúc đã sử dụng thấu đáo Triết học ngôn ngữ làm cơ sở lý luận để nói về thơ văn của các tác giả nổi tiếng Miền Nam Việt Nam một thời, như Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên. Ảnh hưởng của Triết học đến Phê bình Văn học hiển thị rõ rệt trên mặt bằng ngôn ngữ. Các nhà tư tưởng như Wittgenstein và Derrida đã ảnh hưởng đến ngòi bút phê bình của anh trong việc xem xét sự mơ hồ, phép ẩn dụ và sự bất ổn của ngôn ngữ, dẫn đến phân tích văn bản chi tiết và sự hoài nghi về ý nghĩa tuyệt đối.

 Với tôi, tập chuyên luận nói trên của Bùi Vĩnh Phúc là một tác phẩm cột mốc trong quá trình đọc và viết, chẳng riêng gì ở hải ngoại, mà phải xếp chung vào dòng chảy liên lỉ của văn học Việt Nam.

 

3. Phê bình như là một thao tác sáng tạo

 

Viết phê bình, bạn phải sở hữu một kỹ năng viết xuất sắc. Một nhà phê bình giỏi thường viết rõ ràng và thuyết phục, phải cân bằng giữa sự sâu sắc và dễ hiểu, hầu có thể giải thích những ý tưởng phức tạp mà không mơ hồ hay khoa trương. Phê bình là một hình thức văn học phi hư cấu, đồng thời hàm chứa một ý thức sáng tạo trong đó, và chính bởi thế, phong cách trở nên rất quan trọng.

 Bùi Vĩnh Phúc có một phong cách rất riêng khi viết tiểu luận, Phê bình Văn học, và đó là phong cách thơ. Rất thơ.

 Nhan đề bài chuyên luận về thi sĩ Thanh Tâm Tuyền: “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, Cái Tôi ẩn mật và Dương bản Thiên nhiên ngày vây hãm trong ‘Thơ ở đâu xa’ của Thanh Tâm Tuyền.”

 Hay vài câu điển hình trong bài viết về thi sĩ Phạm Công Thiện: “… Một ly rượu nho màu đỏ bordeaux có mùi vị say sưa mềm mại của nắng thơm màu hổ phách, có mùi gió biển ngất ngây của những hải ngạn xa xôi, có những đêm sâu ủ mùi nguyệt bạch. Tịch mịch hồng. Và có mặt trời (nếu mặt trời có thực) quay lông lốc theo vòng thiên địa. Ực một hớp rượu ấy vào người, nếu người ta đang yêu đời, đang yêu những cây trái trần gian, người ta sẽ thấy là đời có thêm vị ngọt.”

 Đó là những câu chữ trong một bài thơ hay một bài tản mạn, chứ không phải phê bình.

 Nhưng không phải vì thế mà văn phê bình của anh thiếu tính hàn lâm. Kỳ thực, nó rất uyên áo và luôn để lại trong tâm trí người đọc những suy nghiệm thâm trầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Kết hợp hai thuộc tính gần như bất khả hòa nhập ấy – hàn lâm và thơ mộng – lại là cái gì rất đỗi tự nhiên, rất đỗi đẹp đẽ, rất đỗi hài hòa, rất đỗi sáng tạo trong văn phê bình Bùi Vĩnh Phúc.

 Phải chăng ngoài tài viết phê bình, anh còn là một nhà thơ và người viết tùy bút, tản văn xuất sắc?

 (Phạm vi bài viết này chỉ đóng khung trong lãnh vực phê bình của Bùi Vĩnh Phúc, nên đành chịu sự thiếu sót không nhắc đến Bùi Vĩnh Phúc trong tư cách nhà thơ, người viết văn xuôi hay nhà Ngôn ngữ học.)

 

4. Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu

 

Một nền văn học không có phê bình là một nền văn học kém may mắn.” Nhà văn Võ Phiến đã từng ngậm ngùi chua xót thốt câu nói ấy về nền văn học Miền Nam thời kỳ 1954-1975. Ở đây xin hiểu thêm cho ông Võ. Ông bảo, “Trên báo chí vẫn có những bài điểm sách, giới thiệu, phê bình; nhưng hầu hết là những bài của giới sáng tác nhận xét lẫn nhau…” Đoạn ông nói thêm, “… nhà phê bình lấy việc phát huy được cái hay cái đẹp của người khác làm sự thành công của mình, xem những bất công, lầm lẫn, thiếu sót trong sự nhận xét người khác như sự thất bại của chính mình…”

 Ta có thể đem định nghĩa trên của ông Võ áp dụng vào bản thân Bùi Vĩnh Phúc được chăng?

 Nói cho cùng, Phê bình Văn học là nghệ thuật lắng nghe một tác phẩm văn học một cách chăm chú cho đến khi nó bắt đầu “lên tiếng.” Đó không phải sự phân tích lạnh lùng mà là sự quan sát tỉ mỉ, giống như áp vỏ sò vào tai và nghe thấy tiếng đại dương mà bạn không bao giờ ngờ tới. Nhà phê bình đồng hành cùng bài thơ, cuốn tiểu thuyết, thiên truyện ngắn, vở kịch – không chỉ hỏi điều gì xảy ra, cái gì được miêu thuật trong tác phẩm, mà còn hỏi tại sao điều đó lại quan trọng, tại sao nó làm đẹp cho cuộc nhân sinh, và nó “thở” như thế nào. Ý nghĩa lung linh giữa các dòng chữ, trong những khoảng lặng, trong những mô-típ âm thanh và hình ảnh, chờ đợi một người đủ kiên nhẫn để nhận ra. Người đó chính là nhà phê bình.

 Ở bình diện cao đẹp, nhân bản nhất, Phê bình Văn học là một hành động của tình yêu. Nó xem câu chữ, văn bản như những sinh vật “sống”, được định hình bởi lịch sử, văn hóa và khát vọng của con người, khát vọng được sống như một con người. Một ẩn dụ trở thành một cánh cửa cho ta bước vào ngôi nhà tráng lệ của sáng tạo và nghệ thuật; sự lựa chọn của nhân vật trở thành một tấm gương cho ta thấy tất cả những cái tốt lành-xấu xa, hạnh phúc-khổ đau trong cuộc nhân sinh. Nhà phê bình không tuyên bố chân lý cuối cùng mà đưa ra một cách nhìn, một ngọn đèn được chiếu rọi ở một góc độ nhất định để những bóng tối mới xuất hiện. Sự bất đồng không phải là thất bại ở đây – nó là bằng chứng cho thấy tác phẩm vẫn sống động và có khả năng mang nhiều ý nghĩa khác nhau, rất xứng đáng cho ta mở cuộc dò thám, truy tìm vào đáy sâu của bản ngã.

 Bởi thế, phê bình trở thành một loại thơ ca riêng. Nó mượn âm nhạc của tác phẩm mà nó nghiên cứu, đáp lại bằng suy nghĩ thay vì vần điệu, bằng sự thấu hiểu, đồng cảm thay vì cốt truyện. Trong khi sáng tác văn học hỏi “nếu như”, thì Phê bình Văn học hỏi “điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta?” Giữa hai câu hỏi này, văn học tiếp tục tồn tại – được diễn giải không ngừng, được đổi mới không ngừng.

 Con đường Bùi Vĩnh Phúc chọn đi không dễ dàng chút nào, nó đầy chông gai trắc trở là đằng khác. Nhưng tôi biết chắc anh rất tự tin vào con đường anh chọn lựa cho chính mình. Đối với anh, Phê bình Văn học là một hành động của tình yêu. Bên trong nhân dáng con người thư sinh, mặt mũi hiền lành, nhân hậu, miệng luôn sẵn một nụ cười ấy là một tâm hồn sôi động yêu chữ nghĩa, quý văn chương. Anh xuýt xoát tuổi tôi, tức là đã “thất thập cổ lai hy”, nhưng tôi đồ tình yêu ấy vẫn nóng bỏng chảy rát trong huyết quản anh. Và, để kết thúc bài viết khiêm tốn, sơ sài này cho ấn bản đặc biệt của Ngôn Ngữ về anh, tôi xin trích một câu văn nữa của anh mà tôi xem nó chính là tâm nguyện của anh khi chọn ngòi bút Phê bình Văn học:

 Tôi mong người đọc có thể thấy hay cảm nhận được cái sức sống đẹp tươi và đầy màu sắc của một vùng trời đất hoa cỏ quê hương, nói riêng, và của cõi sống văn chương con người, nói chung. Cái cõi sống ấy, người viết và người đọc, ở nơi nào và thời nào, tôi tin, cũng đều muốn hướng đến. Trong đó, tất cả – người viết và người đọc, cái viết và cái đọc, cái được viết và cái được đọc – đều hạnh phúc quây quần và ca hát hạnh ngộ cùng nhau.”

 

– Trịnh Y Thư

(Tháng Giêng, 2026)

Friday, April 17, 2026

Nguyễn thị Khánh Minh: MÕ PHỐ

 

MÕ PHỐ

 

Mõ phố rao buồn

Ngọng nghịu hồi chuông

Ù con gió chướng

Áy cỏ tai ương

 

Buồn rao mõ phố

Dựng mồ khói sương

Người ma nhí nhố

Cám cảnh âm dương

 

Vọng rao hồn phố

Tai nghe rất rõ

Nước mắt đang tan

Cười ran như vỡ

 

Chân người thấp cao

Rừng sâu hút bóng

Tượng đá chờ nhau

Buồn rao mõ vọng

 

Vọng phố lưu vong

Mất tên mất tuổi

Nhớ biển lưu thân

Hạt sông ngậm muối


Hạt buồn rao mưa

Phố kim phố cổ…

Chuyện kể. Đời xưa

Sài Gòn nức nở…



NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

4.2014

 

Sunday, April 12, 2026

Nguyễn Duy Chính: Bán Giày (Phóng tác)

BÁN GIÀY

(Phóng tác theo “What I Learned in the Shoe Store của William M. Hendryx)



Khi ba tôi được thuyên chuyển từ Ðà Lạt về Saigon, gia đình tôi cũng phải theo.  Cái hạnh phúc của việc từ một tỉnh lẻ được trở về nơi phố chợ không bù cho tôi những mất mát. Năm ấy tôi mới học lớp 10, vừa nghỉ hè nên cha tôi định hết bãi trường sẽ ghi tên cho tôi vào một trung học tư.

Khu phố tôi ở rất đông trẻ cỡ choai choai nhưng xem ra chúng khôn lanh hơn tôi nhiều. Trẻ con ở tỉnh làm sao sánh được với dân Saigon. Thành thử, tôi trở thành một đối tượng để trêu chọc và ăn hiếp. Cha tôi cũng e tôi theo đám thanh niên lêu lổng, đua đòi nên tìm cho tôi một việc tạp dịch tại một tiệm bách hóa, vừa giữ chân tôi, vừa kiếm thêm ít tiền phụ việc học. Tôi chán lắm nhưng chẳng biết sao hơn. Công việc cũng nhàn, ngoài việc dọn dẹp, sắp xếp hàng hóa, tôi còn đặc trách việc bưng hàng cho những người khách ra xe, rồi ràng buộc kỹ càng cho họ.

*

*   *

Một buổi chiều, khi đang xếp đồ cho khách ở ngoài bãi đậu xe, nhìn ngay xéo bên kia đường tôi chợt nhận ra có một tiệm giày bề thế, chỉ cách chỗ tôi làm chưa đầy 50 thước.  Mặt ngoài tiệm đánh đá mài màu xám đậm và bên trong cửa kính, những đôi giày bóng lộn xếp ngay ngắn thành nhiều dãy. Tôi tự nhủ, làm việc trong một căn phòng mát rượi, máy lạnh chạy vù vù, thơm mùi da mới hẳn hấp dẫn hơn cái cảnh mồ hôi mồ kê chất hàng. Nghĩ vậy, tôi định bụng khi có dịp sẽ sang xem thử như thế nào.

Mấy hôm sau, tôi diện bộ đồ “kẻng” nhất, còn thẳng nếp thơm mùi băng phiến vốn chỉ dám mặc trong ngày tết. Ngập ngừng mãi tôi mới thu hết can đảm đi thẳng vào trong tiệm giày. Một người đàn ông trọng tuổi, dáng cao gầy, mảnh dẻ đón tôi bằng một nụ cười tủm tỉm. Mái tóc hoa râm chải lật về phía sau để lộ vầng trán cao và đôi mắt tinh anh. Ông ta đeo kính trắng gọng vàng, mặc com lê màu xanh đậm và thắt cà vạt lụa điểm những bông hoa nhỏ. Bộ đồ may cắt khéo, tuy kiểu chững chạc nhưng vẫn có vẻ dân sành sỏi. Tôi cảm thấy mình “lên đồ” không đến nỗi uổng công.

- Cậu muốn xin việc phải không?

- Dạ.

Tôi trả lời mà không hiểu tại sao ông ta lại biết. Vẫn từ tốn, ông ta đưa tay bắt:

- Tôi thấy cậu không đi xem những mặt hàng nên tôi biết cậu không phải vào đây để mua giày.

Nở thêm một nụ cười ông tự giới thiệu :

- Tôi là Hiệp, Trần văn Hiệp, quản lý tiệm này. Tôi đang cần thêm người đây. Thế nhưng cậu có thích giao tiếp không ?

Câu hỏi làm tôi hơi sựng lại. Từ thuở dọn về đây đã gần một tháng, tôi đã có đứa bạn nào đâu. Trẻ con ở vùng này có vẻ ngỗ nghịch và phe đảng. Ðã nhiều lần tôi nhủ thầm “Ông đếch thèm chơi với chúng mày” mỗi khi bị chúng nó trêu chọc. Tôi di di mũi giày, cúi đầu nói lí nhí trong miệng:

- Dạ, cháu cũng thích chứ ạ!

Tuy nói thế nhưng trong bụng tôi không lấy gì làm chắc những gì mình vừa trả lời. Ông Hiệp để tay lên vai tôi:

- Xem ra cậu không tự tin lắm. Này em ! Bán hàng được hay không, quá nửa là làm sao cho khách thấy thoải mái. Nếu người ta thấy mình thực tâm muốn giúp người ta, người ta sẽ đáp lại. Lúc đó, nếu không mua hàng, người ta sẽ thấy như phụ lòng mình. Còn như nếu khách hàng thấy mình có vẻ miễn cưỡng, chỉ mong cho xong chuyện, thì chả cần đuổi họ cũng ra khỏi tiệm ngay.

Ông ta đặt vấn đề thật giản dị. Tôi có linh cảm là tôi sẽ học được nhiều điều hay từ một người xem ra thân thiện được với bất cứ ai như ông già này.

*

*   *

 Ông Hiệp bằng lòng nhận tôi vào làm ngay chiều hôm đó. Suốt một tuần, ngoài việc học tên, học giá các mặt hàng, tôi còn được chỉ dẫn tường tận những điều nên làm, những điều không nên làm. Ông chỉ tay ra ngoài đường phố đang dập dìu người qua lại:

- Mình không giống như các tiệm giày khác. Người ta chịu mất công đi đến tận đây thì mình cũng phải đền bù cái gì cho người ta chứ. Cậu có làm được không ?

Tôi lộ vẻ ngờ vực:

- Thế nhưng mình không có cái người ta muốn thì sao ?

Tôi hỏi xong chợt thấy mình bạo gan quá. Nhìn lên ông Hiệp, tôi thấy ánh mắt ông có vẻ gì không bằng lòng. Ông gằn giọng:

- Không bao giờ, không bao giờ bảo với khách là mình không có ! Mà phải cho khách coi những gì mình , hiểu chưa ?

- Thế nhưng, nếu như ...

Không để tôi nói dứt câu, ông Hiệp ngắt lời:

- Ðừng nói gì cả, chỉ đưa cho khách xem mặt hàng. Không phải lúc nào mình cũng có hàng mà người ta muốn, nhưng lúc nào mình cũng có thể đề nghị cho người ta một cái gì. Họ nhận hay không là quyền của họ. Còn như mình ra tay không, tất nhiên là mình phủ nhận cái cơ hội đó, và người ta sẽ đi nơi khác. Phải nhớ kỹ rằng luôn luôn lúc nào mình cũng có một cái gì khiến khách hàng phải quan tâm. Có điều là mình phải tìm cho ra món ấy là món nào.

Ông Hiệp dẫn tôi đi một vòng quanh tiệm và giải thích về cách trả lương tại đây. Lương căn bản tính theo giờ cộng thêm huê hồng hàng bán được. Huê hồng cao nhất là các loại kem đánh giày, kế đến là các bóp đầm xách tay và các loại phụ tùng. Sau đó, tôi phải đóng vai một khách hàng mới đến để ông chỉ cho các “ngón nghề”.

Khi tôi bước chân vào cửa, ông Hiệp tiến ra cúi đầu mỉm cười đưa tay bắt:

- Chào ông đến thăm bổn tiệm !

Ông cầm tay tôi rồi tiện thể dẫn đến ngồi trên ghế. Tôi còn hoang mang thì ông đã nhẹ nhàng cởi ngay đôi giày tôi đang đi, kéo chiếc bàn đo lại:

- Mời ông đứng lên đây !

Và ông khéo léo đo cả hai chân cho tôi. Khi ngồi xuống, tôi hỏi:

- Ủa sao bác không hỏi cháu cần mua gì ?

Ông Hiệp cười một cách hóm hỉnh:

- Có chứ, nhưng lúc này tôi là người làm chủ tình thế. Cậu thấy chưa, cậu đang ngồi trong một chiếc ghế êm ái, giày cởi ra rồi. Chẳng lẽ cậu đứng dậy cậu đi ra à. Ðến lúc này mới là lúc tôi hỏi xem cậu cần gì, nghe chưa ?

- Thế sao bác không hỏi cỡ chân của cháu có tiện không, việc gì phải đo cho mất công ?

Ông Hiệp xua một ngón tay, chậm rãi nhưng đanh thép :

- Không, không bao giờ hỏi cỡ chân ai cả ! Lý do tôi đo chân người ta là cốt để tạo cho người khách một ấn tượng là tôi thành thạo, chuyên môn. Có thế lúc mình đề nghị này nọ người ta mới tín nhiệm mình chứ.

Tín nhiệm. Tự tin. Xem ra cả hai món này tôi đều kém. Thế nhưng ông Hiệp thì có vẻ chắc như đinh đóng cột và tôi cũng muốn xem lòng tự tin của ông làm được gì trong việc tiếp khách hàng. Tôi theo ông như hình với bóng. Tôi để ý đến việc ông pha trò với những người khách mặt khó đăm đăm. Thường là ông tự diễu cợt cái nhân dáng gầy như que tăm của chính mình. Ông tự vỗ vào lưng:

- Lòng khòng như tôi mà không chịu khó kiêng khem thì ngồi gẫy ghế mất !

Một hôm, tôi xem ông tiếp hai bà khách cùng đi mua hàng. Ông đem ra cho họ không chỉ một đôi giày họ đòi thử, mà đến bốn năm đôi mỗi thứ một kiểu. Trong khi hai người đứng ngắm nghía soi bóng mình trong gương, ông đưa thêm cho mỗi bà một cái ví xách tay.

- Ðể xem các bà cầm tay có hợp không nào !

Ông Hiệp nói một cách ân cần. Ông xếp những đôi giày thành hình bán nguyệt trước ghế của khách ngồi, cạnh mỗi đôi lại để một kiểu ví đầm. Không biết hai bà khách khi ra khỏi tiệm nghĩ sao, nhưng mặt người nào cũng tươi rói, tay cầm một bọc trong đựng hai ba đôi giày, hai ba chiếc bóp. Lúc vắng người, ông bảo tôi:

- Nếu như mình chỉ bán cho người ta những thứ người ta định tới để mua thì tức là mình không bán được gì cả. Phải bán cho họ ngoài những thứ người ta muốn còn thêm những thứ khác nữa. Có thế thì hàng trong kho của mình mới vơi đi, mà tiền huê hồng của mình cũng gấp bội. Lại có ích cho bản thân mình nữa. Bán hàng khiến cho mình thêm tự tin, và một khi  mình đã tự tin rồi thì nó là cái vốn mình xài suốt đời. Ðức tính đó mình dùng vào đủ thứ việc, vì ở trên đời này cái gì cũng là một hình thức mua bán, trao đổi cả.

Vài hôm sau, khi phải tiếp người khách đầu tiên trong nghề, tôi thấy đánh lô tô trong bụng. Ông Hiệp kéo tôi sang một bên trấn an:

- Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Mình muốn người ta đối với mình thế nào thì cũng xử với người ta như thế. Mọi việc tự nó sẽ êm xuôi.

Sau khi tôi mời bà khách và cô con gái ngồi, tôi đo chân rồi cho họ thử mỗi người một đôi dép da thật tiệp với quần áo. Tôi cũng đề nghị họ dùng thêm loại thuốc xịt chống thấm nước và bàn chải để bảo trì. Bà khách mua tất cả không đắn đo. Không biết ai là người sung sướng hơn - tôi hay ông Hiệp.

Lẽ dĩ nhiên đâu phải chỉ ngày một ngày hai mà tôi đủ lông đủ cánh nhưng từ một đứa trẻ rụt rè, thầm lặng tôi đã trở nên một người bán hàng khéo léo, nhanh nhẹn, hoạt bát. Ðó cũng là nhờ noi gương ông Hiệp. Không mấy ngày tôi không học ở ông một vài cách thức mới trong việc phục vụ khách hàng.

Một lần, tôi thấy ông đưa ra cho một bà khách to béo đôi giày cỡ số chín mà ông khăng khăng là cỡ số sáu theo ý bà ta muốn xem. Nở một nụ cười hơi bí hiểm, ông xoay đôi giày lại chỉ cho thân chủ:

- Bà xem, thợ cẩu thả đóng số ngược đây mà !

Bà khách xem chừng hoan hỉ lắm, mua ngay đôi giày và còn hẹn sẽ giới thiệu cho bạn bè lại nữa.

Mấy tháng hè qua thật nhanh. Ông Hiệp không phải là ông chủ mà giống như một ông chú, ông bác thân tình. Hầu như ông chỉ vẽ cho tôi mọi điều trong đời chứ không cứ gì chuyện mua bán. Một buổi chiều vắng khách tôi đã cảm động nói với ông:

- Cháu ước gì bố mẹ cháu cũng được như bác !

Ông Hiệp hơi khựng lại, đăm đăm nhìn tôi dò hỏi, đôi kính để trễ trên sống mũi. Trông ông như một giáo sư già giờ điểm danh trong lớp. Ông đã gặp bố mẹ tôi vài lần và vẫn thường khen ngợi gia đình tôi.

- Cháu nói thế là sao ?

- Dạ, bác cháu mình nói về đủ mọi vấn đề mà bác không bao giờ bực mình với cháu. Còn bố mẹ cháu thì lại khác.

Ông Hiệp nhìn ra cửa một hồi lâu. Sau cùng ông quay lại chậm rãi :

- Này cháu, vừa là bố mẹ lại vừa là bạn không phải dễ dàng gì. Cháu đừng khó khăn với cha mẹ quá. Bố mẹ cháu là người biết điều.

Ông Hiệp nói đúng. Tuy học ở ông nhiều điều hay nhưng tôi đã làm gì được cho cha mẹ đâu. Có lẽ tôi phải tỏ ra mình người lớn một chút, bố mẹ tôi mới coi tôi như đã trưởng thành. Tôi không bao giờ quên được ánh mắt ngạc nhiên của hai ông bà khi tôi tình nguyện ở nhà trông em cho bố mẹ đi công chuyện.

*

*        *

Sau khi nhập trường, tôi vẫn còn làm việc ở tiệm giày vào buổi chiều. Khi lên lớp 12, bố mẹ tôi bắt phải nghỉ để chuyên tâm vào việc đèn sách. Tôi báo tin cho ông Hiệp mà lòng buồn rười rượi. Tối hôm đó, khi mọi người làm đã về hết, tôi ngập ngừng đến trước mặt ông :

- Cháu không biết nói gì để cảm ơn bác. Bác dạy cho cháu nhiều điều thật bổ ích.

Ông Hiệp nhìn tôi, đôi mắt ông cũng long lanh, mặt ông ửng hồng:

- Bác chả dạy cháu gì cả. Những cái đó là tự cháu làm đấy chứ.

Tôi đáp lại:

- Thế nhưng bác chỉ cho cháu cách làm.

- Ai cũng phải làm như thế - dù là bố mẹ cháu, thầy cô cháu, hay các bậc trưởng thượng của cháu. Quan trọng là khi bước chân vào đây, cháu đã sẵn sàng nghe lời và học hỏi. Những cái đó nằm sẵn trong con người của cháu chỉ chờ dịp là nảy nở thôi.

Tôi lặng thinh suy nghĩ những điều ông nói. Từ khi làm ở đây, tôi bỏ được tính nhút nhát. Tôi đã dám nhận lời đóng vai tráng sĩ núi Lam trong vở kịch nhà trường, lại tham gia vào ban tổ chức hội Xuân. Tôi có thêm nhiều bạn mới ở học đường cũng như ở ngoài đời. Ðối với ai tôi cũng chí tình, cởi mở như với người thân. Và chính thế mà ai cũng chân thành đáp lại.

Có tự tin thì người khác mới tin mình. Nói ít mà làm nhiều. Muốn người ta đối xử với mình ra sao thì phải đối xử với người ta như thế. Chỉ nghĩ đến cho hơn là đến nhận. Những qui luật đơn giản đó đã trở thành thiên tính thứ hai của tôi và tôi áp dụng vào mọi nơi, mọi chốn, từ công việc đến nhà trường, ngoài xã hội.

Ông Hiệp không chỉ dạy tôi nghề bán giày mà còn chỉ cho tôi một triết lý nhân sinh. Không phải lúc nào mình cũng có những gì người khác mong mỏi. Nhưng không phải vì thế mà mình không có một cái gì để đáp lại. Không có giày hay một hộp kem, thì ít nhất cũng có bản thân, tư cách, và lời ăn tiếng nói của mình.

 NGUYỄN DUY CHÍNH