Tuesday, November 21, 2017

Tuesday, November 7, 2017

Thursday, September 21, 2017

Nên viết “xử dụng” hay “sử dụng” ?

Trong cuốn Ngữ vựng tiếng Việt đầu tiên (Westminster, CA, 2017), nơi trang 6, Giáo sư Trần Ngọc Ninh cho biết theo nhận xét của ông, “trong số các nhà văn nhà báo,  có chừng 50 phần trăm viết ‘sử dụng’ và áng 50 phần trăm viết ‘xử dụng’.” Nhân thấy hai phía “tương đương,” Gs. Ninh không tỏ ra thiên về phía nào. Ông dẫn lời một nhà làm tự điển, “thói quen là vua trong ngôn ngữ” (sách đã dẫn, cùng trang). 

Khi cho học sinh viết chính tả, một cô giáo dạy Việt ngữ không được nhiều tự do như thế mà cần có một ý niệm rõ rệt, dứt khoát hơn. Giữa hai cách viết “xử dụng” và “sử dụng,” nên hướng dẫn học sinh chọn cách nào, và tại sao lại nên chọn như thế ? Bài này được viết theo đề nghị của hai người bạn. Một người bạn trẻ, dạy tiếng Việt ở một Trung tâm Việt ngữ. Người bạn thứ hai lớn tuổi hơn, một bác sĩ y khoa quan tâm tới đất nước và những vấn đề mang tính cách văn hóa, nêu câu hỏi sau khi đọc xong cuốn sách vừa kể của bác sĩ Trần Ngọc Ninh.

Trước hết, “xử” (viết với X) là một từ khá thông dụng trong tiếng Việt. Chúng ta nói “phân xử, xét xử, khu xử, xử trí, xử thế…” Xử cũng chỉ lối sống của một kẻ sĩ ở ẩn, không chịu ra làm việc đời (Xử sĩ, Xưa nay xuất xử thường hai lối—Nguyễn Công Trứ). “Xử nữ” cũng đồng nghĩa với “trinh nữ.” Trong khoa chiêm tinh Tây phương, cung Virgo trong Zodiac được dịch sang tiếng Pháp là Vierge và tiếng Việt là Xử nữ. Nhân từ “xử nữ,” có thêm từ Hán Việt “xử nữ mạc” (màng trinh). Vì sự thông dụng của từ “xử,” khi cần diễn ý “xử dụng/sử dụng” với nghĩa “sai khiến, dùng vào một việc gì,” nhiều người đã viết “xử dụng” (với X)  một cách tự nhiên. Đó cũng là lựa chọn của người viết những dòng này trong suốt thời gian ở Trung học, nghĩ rằng mình đã viết đúng.

Hai chữ “xử” và “sử” đều là từ Hán Việt, có gốc chữ Hán. Nếu từ “xử” trong “phân xử, xử thế, xuất xử” có gốc chữ Hán là (cũng được đọc là “xứ” như trong “xứ sở, xuất xứ”), thì từ “sử” với nghĩa “sai khiến” có gốc từ chữ 使. Trong Hán văn, để  diễn  ý “sai khiến, dùng vào một việc gì,” người ta viết  使 hay 使用 (“sử” hay “sử dụng”).
Trong các tự điển Khang HiTừ Hải (biển các từ), chữ 使 được cho biết là 从音史“tòng âm sử” (theo âm “sử,” phát âm như chữ "sử" với nghĩa lịch sử). Trong The Pinyin Chinese-English Dictionary do Gs. Wu Jingrong (吳景榮 = Ngô Cảnh Vinh) thuộc Viện Ngoại ngữ Bắc Kinh làm chủ biên, thì chữ 使 có âm là “shĭ” (“shi,” phát âm theo thượng thanh).
Trong các tự điển Hán-Việt, chữ ấy được ghi âm là “sử” (viết với S, giống chữ “sử” trong “lịch sử”):
Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: trang 21;
Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: trang 213;
Hán Việt tự điển của Trần Trọng San: trang 20;
Từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh: trang 152;
Từ lâm Hán Việt tự điển của Vĩnh Cao và Nguyễn Phố:  trang 62.

Trong các tự điển Việt ngữ được coi là “có thẩm quyền,” hai chữ “sử dụng” cũng được viết với S:
Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức: trang 499;
Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ: trang 1321, quyển Hạ;
Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của: trang 313, quyển 2.

Để làm thí dụ, xin được trình bày phóng ảnh những đoạn về cách viết chữ ấy trong các tự điển:

--Của Trần Trọng San:


 --Của Vĩnh Cao & Nguyễn Phố:


--Của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ:


Nhà biên soạn tự điển Trần Văn Chánh còn dùng từ “sử dụng” trong lời văn của chính ông:


“Sử” với nghĩa “sai khiến” là một từ khá thông dụng trong cổ văn. Trong Luận ngữ, Khổng tử từng trả lời một câu hỏi của Lỗ Định công về liên hệ vua tôi như sau: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (vua sai khiến bề tôi với lễ, bề tôi phụng sự vua với lòng trung) :


(Luận ngữ, Thiên “Bát dật,” tiết 19).

Ở một đoạn khác trong Luận ngữ, Khổng tử khuyên những người trị nước muốn dùng sức dân (bắt dân làm những việc tạp dịch) phải “sử dân dĩ thời” (sai khiến dân đúng thời, ngụ ý tránh những lúc dân đang bận vì các việc cấy gặt, đồng áng):


(Luận ngữ, thiên “Học nhi,” tiết 5).

Trong một bài Đường thi khá được phổ biến (bài “Thục tướng,” vịnh Thừa tướng nhà Thục Hán), Đỗ Phủ bày tỏ niềm thương tiếc Khổng Minh bằng hai câu:

出師未捷身先死
長使英雄淚滿襟

Xuất sư vị tiệp thân tiên tử
Trường sử anh hùng lệ mãn khâm
(Ra quân chưa thắng thân đã thác
Khiến cho khách anh hùng nước mắt đầy vạt áo)

Tất cả các nhà dịch thơ chúng ta biết đều viết chữ “sử” ấy với S:

Trần Trọng Kim:


Trần Trọng San:


Khi phổ biến bài "Thục tướng" trên Net, tất cả các trang mạng được nhiều người biết tới cũng dùng S để viết chữ “sử”:

Trên thivien.net:


Trên hoasontrang.us:

Trên saimonthidan.com:


Chữ “sử” 使 trong “quân sử thần dĩ lễ,” “sử dân dĩ thời,” “trường sử anh hùng …”  chính là chữ “sử” 使 trong động từ “sử dụng” 使用. Theo các tự điển, chữ ấy cùng âm với chữ “sử” trong lịch sử, sử ký... Khi ta dùng S để viết “lịch sử, sử ký, Quốc sử quán, sử quan, sử gia …,” đương nhiên ta cũng nên dùng S để viết chữ “sử” trong “sử dụng.”

Trong Việt ngữ, khi dùng làm động từ, ch ấy được đọc là “sử,” nhưng khi dùng làm danh từ, sẽ được đọc là “sứ.” Chúng ta có từ “sứ giả” (người được sai đi). Từ đó có thêm những từ “đi sứ, sứ thần, sứ quán, ông Đại sứ …” Vì cùng một gốc chữ Hán 使, cách đọc những chữ ấy phải giống nhau. Không lẽ chúng ta viết “sứ giả, sứ thần” với chữ S nhưng lại đổi dùng X để viết “sử dụng” thành “xử dụng”?

Hiện nay số người viết “sử dụng” có vẻ mỗi ngày một nhiều hơn. Đó là lối viết được ghi trong các tự điển.


                                                                  http://tranhuybich.blogspot.com

Friday, September 8, 2017

MỘT BỘ TỰ ĐIỂN HIẾM QUÝ từ cuối thế kỷ 19 được đưa lên HATHI TRUST Digital Library cũng viết “dòng nước, dòng dõi …”


Một thân hữu từ nhiều năm, Gs. Huỳnh Chiếu Đẳng, chủ nhân của nhà kho "Quán Ven Đường," người vẫn sốt sắng gửi ra những hướng dẫn hữu ích và quý báu về an toàn thực phẩm cũng như về kỹ thuật và đời sống (máy ảnh, máy điện toán, tablet, cell phone ..,), đồng thời cũng giới thiệu một kho audio book và và một kho sách xưa, vừa mách người viết những dòng này rằng chữ “dòng” cũng được viết với D trong một bộ tự điển Việt-Pháp in ở Paris năm 1899. Nói rõ hơn, đó là bộ Dictionnaire Annamite-Français của Jean Bonet, in ở Paris trong các năm 1899 và 1900.

Bộ tự điển này gồm hai cuốn. Cuốn 1 từ vần A tới vần M, được in năm 1899. Cuốn 2 từ vần N tới vần X, được in năm sau, 1900. Phía sau là các trang nhan đề của hai cuốn ấy:


 


                
Hàng chữ Hán phía trên nhan đề bằng chữ Pháp là: Đại Nam quốc âm tự vị hợp giải Đại Pháp quốc âm.

Jean Bonet có tên đầy đủ là Jean Pierre Joseph Bonet, sinh năm 1844, mất năm 1907. Ông sang Việt Nam năm 1867 trong nhiệm vụ một thông dịch viên. Sau hơn 20 năm ở Việt Nam, khi về Pháp ông được mời dạy tiếng Việt ở trường Ngôn ngữ Đông phương (École des langues orientales, Paris) từ năm 1888. Trường ấy sau được đổi tên thành École nationale des langues orientales vivantes (Quốc gia học đường về các sinh ngữ Đông phương). Bộ tự điển này được hoàn tất trong thời gian ông dạy học ở đó. Ông mất 7 năm sau khi cuốn 2 được in ra.

Đây là một trong những bộ tự điển Việt-Pháp đầu tiên, do một người Pháp nghiên cứu về tiếng Việt trong hơn 20 năm, thông thạo chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ, và cho tới khi in bộ tự điển, đã dạy tiếng Việt tại trường Ngôn ngữ Đông phương trên 10 năm. Các chữ Việt (viết ra bằng chữ quốc ngữ, xếp theo thứ tự ABC) có chua chữ Hán hoặc chữ Nôm bên cạnh, rồi được giảng sang tiếng Pháp một cách rõ ràng. Đúng như Gs. Huỳnh Chiếu Đẳng cho biết, chữ “dòng” được viết với D, bên cạnh có chữ Nôm 𣳔




























Theo bộ tự điển của Jean Bonet, chữ “dòng” có 4 nghĩa:
--Dòng nước, dòng sông;
--Dòng dõi, dòng họ;
--Buộc dây để kéo theo trên mặt nước, như dòng tàu, dòng thuyền, dây dòng;
--Một ngành tu Thiên Chúa giáo: ông thầy dòng.

Với cả 4 nghĩa ấy, Jean Bonet đều dùng chữ “dòng” viết với D. Trong bộ tự điển này không có chữ “giòng” viết với GI. Ở trang 227 cuốn 1 có những chữ “gióng” (trong  gióng trống), “giọng” (trong giọng nói), nhưng không có chỗ cho chữ “giòng.”

Đây là một bộ tự điển rất đáng được chú ý và tham khảo. Các chữ Hán và chữ Nôm tương đối dễ đọc. Được in năm 1899-1900, bộ tự điển phản ảnh tiếng Việt cuối thế kỷ 19. Có những tiếng nay đã trở nên cổ, chẳng hạn tiếng “dòm.” Tuy ngày nay chúng ta dùng tiếng “nhòm” nhưng trong bộ tự điển này, tác giả liệt kê những chữ “dòm lén,” “ống dòm” … Ngôn ngữ vẫn thay đổi theo thời gian:


Được in bên Pháp trên 100 năm trước, bộ tự điển này đã trở nên một tài liệu hiếm. Tại Hoa Kỳ chỉ có ở Thư viện Quốc hội và một số Đại học lớn: Harvard-Yenching, Yale, Princeton, Cornell, Columbia, Univ. of Indiana, Univ. of Minnesota, Univ. of Wisconsin—Madison… Tại California, chỉ có ở UC Berkeley và UCLA.

Cũng may, hai Đại học Indiana và Wisconsin—Madison đã gia nhập hệ thống thư viện kỹ thuật số HathiTrust, và được Google Books hỗ trợ trong việc đưa cả bộ tự điển vào kho tài liệu dùng kỹ thuật số của hệ thống này. Nhờ thế công chúng có thể truy tìm và đọc miễn phí toàn bộ tự điển tại các trạm nối sau đây:

Trong tổng kê các danh mục của hệ thống thư viện kỹ thuật số HathiTrust:


Cuốn 1:

Bản của thư viện Đại học Indiana (bản này có chữ ký của tác giả, tặng viện Giám đốc trường Thuộc địa của Pháp):


Bản của thư viện Đại học Wisconsin--Madison:


Cuốn 2:

Bản của thư viện Đại học Indiana:


Bản của thư viện Đại học Wisconsin--Madison:


Cho tới nay, hệ thống thư viện kỹ thuật số HathiTrust đã có trên 120 đơn vị cộng tác, gồm các thư viện nghiên cứu ở Mỹ (chủ yếu), Canada, Âu châu, và Úc. Theo bản thống kê được cập nhật tháng 7-2017, hệ thống này đã số hóa được trên 7,770,000 nhan sách, gồm trên 15,822,000 cuốn sách:

Hi vọng trong tương lai, tất cả những sách báo hiếm quý hay tuyệt bản sẽ dần dần được số hóa và đưa vào hệ thống này, để công chúng cùng những nhà nghiên cứu có thể tìm đọc hay tham khảo.

 http://tranhuybich.blogspot.com

Friday, August 11, 2017

Lưu mảnh lòng son chiếu sử xanh

Khi liệt kê các tác giả Trung Hoa có ảnh hưởng tới văn học Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến Văn Thiên Tường. Nguyễn Công Trứ từng đưa hai câu thơ của Văn Thiên Tường vào bài hát nói “Chí làm trai” của ông:
                                    Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
                                    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Bài “Hà thành chính khí ca,” được sáng tác sau khi thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai năm Nhâm Ngọ 1882 khiến Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử, đã được cảm hứng từ bài “Chính khí ca” của Văn Thiên Tường. Sáu câu đầu trong bài “Hà thành chính khí ca” của Nguyễn Văn Giai chính là lược dịch từ những câu mở đầu bài “Chính khí ca”:

                                    Một vầng chính khí lưu hình
                                    Rộng trong trời đất, nhật tinh, sơn hà
                                    Hạo nhiên ở tại lòng ta
                                    Tấc vuông son sắt hiện ra khi cùng
                                    Nên thua theo vận truân phong
                                    Nghìn thu rạng tiếng anh hùng sử xanh …

Bài “Chính khí ca” đã được nhà ái quốc Phan Bội Châu dịch đưa vào Khổng học đăng, học giả Nguyễn Hiến Lê dịch đưa vào Đại cương văn học sử Trung Quốc, giáo sư Trần Trọng San dịch đưa vào quyển Thơ Tống.

Văn Thiên Tường (1236-1283) là một trong ba “Tống vong tam kiệt” (ba hào kiệt khi nhà Tống mất nước). Ông đậu Trạng nguyên năm 1255 khi mới 19 tuổi, nhưng thân phụ mất, phải về quê chịu tang. Bốn năm sau (1259) được bổ làm một chức quan coi việc hình án, rồi đổi qua vài chức khác nhau tại địa phương. Năm 1275, quân Mông Cổ xâm lăng, ông hưởng ứng chiếu Cần vương, mộ quân chống giặc, được phong Hữu Thừa tướng, nhưng không cản được thế giặc quá mạnh. Năm 1276 quân Mông Cổ vào được kinh đô Lâm An, bắt Tống Cung Đế và Thái hậu đưa lên miền Bắc. Ông cùng Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt lập Đoan Tông lên ngôi, tiếp tục kháng chiến. Sau khi Đoan Tông mất, lại lập em là Quảng vương lên thay, sử gọi là Đế Bính. Năm 1278, quân Mông Cổ bắt được Văn Thiên Tường, đưa lên Yên Kinh. Trong thời gian bị giam, ông làm bài “Chính khí ca” ở trong ngục. Sau bốn năm giam giữ nhưng không dụ được ông hàng, Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt sai đưa ông ra chém.

Sau khi Văn Thiên Tường chết, lục tìm trong mình ông người ta được những hàng di bút phía sau:

"Chức vụ tôi là Tể tướng mà không cứu được xã tắc, ổn định thiên hạ, quân bại nước nhục, tội đáng chết từ lâu. Từ ngày bị bắt đến nay, không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thế này, xin hướng về phương Nam lạy trăm lạy. Khổng Tử nói phải hoàn thành điều nhân. Mạnh Tử nói phải giữ điều nghĩa. Giữ trọn tình nghĩa, sẽ được chữ “nhân.” Đọc sách thánh hiền học được điều gì? Cốt để khỏi hổ thẹn với người nay và người sau. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút."

Cùng với “Chính khí ca,” bài thơ “Quá Linh Đinh dương” (qua biển Linh Đinh) phía sau được kể vào hàng những tác phẩm quan trọng nhất của ông.

Năm 1278, sau khi bị bắt và trước khi phải đưa lên Yên Kinh, Văn Thiên Tường bị đưa theo đoàn thuyền quân Nguyên đang đuổi theo vua Tống ở ngoài khơi Quảng Đông. Nguyên soái đạo quân Nguyên ấy là Trương Hoằng Phạm (người Hán nhưng theo quân Nguyên) ép ông viết thư khuyên tướng Tống là Trương Thế Kiệt ra hàng. Ông làm bài này. Đọc đến câu kết, Trương Hoằng Phạm tự biết là không thể ép ông được nữa.

Trong bài có một vài địa danh cần được ghi chú:

Linh Đinh dương: nay ở gần cửa sông Châu Giang, ngoài khơi tỉnh Quảng Đông.

Hoàng Khủng: tên một thác nước lớn ở huyện Vạn An, tỉnh Giang Tây, chỗ hợp lưu của sông Chương và sông Cống. Năm 1277, Văn Thiên Tường thua một trận lớn ở Giang Tây, phải băng qua thác Hoàng Khủng trên đường rút quân.

    
http://tranhuybich.blogspot.com

Wednesday, June 28, 2017

Tưởng niệm nữ sĩ MINH ĐỨC HOÀI TRINH (1930--2017)

 
  
Thư sinh yêu Thơ quê hương
Bâng khuâng Trà thất bên hàng Niệm thư
Thiên nga Biển nghiệp mây mờ
Lang thang nẻo trước, Bơ vơ dặm về
Não lòng Bên ni bên tê
Bức thành biên giới chẳng nề gió sương
Quyết lòng Chiếm lại quê hương
Gốc cây, Ngõ trúc, biên cương Thuở đầu.
Kiếp nào ta có yêu nhau
Mong ai Đừng bỏ em lâu một mình
Nam nhi Bất đáo trường thành
Giữa nơi Tử địa tung hoành Hắn Mơ
Bài thơ cho ai năm xưa
Nhắc câu Sám hối, Đàn bà đàn ông
Dòng mưa trích lịch mênh mông
Đàn ngưng, bút lạnh, bóng hồng vút cao. 


“Lá thu, sao sớm” nao nao
Phong tư, chính khí … chìm vào TINH ANH.





                 Tháng 6-2017                           
Trần Từ Mai

Ghi chú:

1) Tên tác phẩm của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh dùng chữ đậm, màu xanh.
       Chữ nghiêng, màu đen là những chữ chuyển mạch hoặc nói lên tình cảm của người tưởng nhớ.
        2)   Trong câu 4, xin mượn chữ của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương:

                   Lang thang từ độ luân hồi
                  U minh nẻo trước, xa xôi dặm về.
3)   Trong câu 17 (áp chót), xin mượn ý của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi:
“Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu.”
4)   Trong câu chót, xin mượn chữ của thi hào dân tộc Nguyễn Du:

“Thác là thể phách, còn là tinh anh.

Khi nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh còn tại thế, Phạm Xuân Đài đã cùng Trần Từ Mai và Thanh Thanh Tử Bội viết tặng bà một cặp câu đối. Được biết bà đã đọc và rất vui. Nay chúng tôi cũng xin phổ biến lại cặp câu đối ấy: