Friday, August 11, 2017

Lưu mảnh lòng son chiếu sử xanh

Khi liệt kê các tác giả Trung Hoa có ảnh hưởng tới văn học Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến Văn Thiên Tường. Nguyễn Công Trứ từng đưa hai câu thơ của Văn Thiên Tường vào bài hát nói “Chí làm trai” của ông:
                                    Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
                                    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Bài “Hà thành chính khí ca,” được sáng tác sau khi thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai năm Nhâm Ngọ 1882 khiến Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử, đã được cảm hứng từ bài “Chính khí ca” của Văn Thiên Tường. Sáu câu đầu trong bài “Hà thành chính khí ca” của Nguyễn Văn Giai chính là lược dịch từ những câu mở đầu bài “Chính khí ca”:

                                    Một vầng chính khí lưu hình
                                    Rộng trong trời đất, nhật tinh, sơn hà
                                    Hạo nhiên ở tại lòng ta
                                    Tấc vuông son sắt hiện ra khi cùng
                                    Nên thua theo vận truân phong
                                    Nghìn thu rạng tiếng anh hùng sử xanh …

Bài “Chính khí ca” đã được nhà ái quốc Phan Bội Châu dịch đưa vào Khổng học đăng, học giả Nguyễn Hiến Lê dịch đưa vào Đại cương văn học sử Trung Quốc, giáo sư Trần Trọng San dịch đưa vào quyển Thơ Tống.

Văn Thiên Tường (1236-1283) là một trong ba “Tống vong tam kiệt” (ba hào kiệt khi nhà Tống mất nước). Ông đậu Trạng nguyên năm 1255 khi mới 19 tuổi, nhưng thân phụ mất, phải về quê chịu tang. Bốn năm sau (1259) được bổ làm một chức quan coi việc hình án, rồi đổi qua vài chức khác nhau tại địa phương. Năm 1275, quân Mông Cổ xâm lăng, ông hưởng ứng chiếu Cần vương, mộ quân chống giặc, được phong Hữu Thừa tướng, nhưng không cản được thế giặc quá mạnh. Năm 1276 quân Mông Cổ vào được kinh đô Lâm An, bắt Tống Cung Đế và Thái hậu đưa lên miền Bắc. Ông cùng Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt lập Đoan Tông lên ngôi, tiếp tục kháng chiến. Sau khi Đoan Tông mất, lại lập em là Quảng vương lên thay, sử gọi là Đế Bính. Năm 1278, quân Mông Cổ bắt được Văn Thiên Tường, đưa lên Yên Kinh. Trong thời gian bị giam, ông làm bài “Chính khí ca” ở trong ngục. Sau bốn năm giam giữ nhưng không dụ được ông hàng, Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt sai đưa ông ra chém.

Sau khi Văn Thiên Tường chết, lục tìm trong mình ông người ta được những hàng di bút phía sau:

"Chức vụ tôi là Tể tướng mà không cứu được xã tắc, ổn định thiên hạ, quân bại nước nhục, tội đáng chết từ lâu. Từ ngày bị bắt đến nay, không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thế này, xin hướng về phương Nam lạy trăm lạy. Khổng Tử nói phải hoàn thành điều nhân. Mạnh Tử nói phải giữ điều nghĩa. Giữ trọn tình nghĩa, sẽ được chữ “nhân.” Đọc sách thánh hiền học được điều gì? Cốt để khỏi hổ thẹn với người nay và người sau. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút."

Cùng với “Chính khí ca,” bài thơ “Quá Linh Đinh dương” (qua biển Linh Đinh) phía sau được kể vào hàng những tác phẩm quan trọng nhất của ông.

Năm 1278, sau khi bị bắt và trước khi phải đưa lên Yên Kinh, Văn Thiên Tường bị đưa theo đoàn thuyền quân Nguyên đang đuổi theo vua Tống ở ngoài khơi Quảng Đông. Nguyên soái đạo quân Nguyên ấy là Trương Hoằng Phạm (người Hán nhưng theo quân Nguyên) ép ông viết thư khuyên tướng Tống là Trương Thế Kiệt ra hàng. Ông làm bài này. Đọc đến câu kết, Trương Hoằng Phạm tự biết là không thể ép ông được nữa.

Trong bài có một vài địa danh cần được ghi chú:

Linh Đinh dương: nay ở gần cửa sông Châu Giang, ngoài khơi tỉnh Quảng Đông.

Hoàng Khủng: tên một thác nước lớn ở huyện Vạn An, tỉnh Giang Tây, chỗ hợp lưu của sông Chương và sông Cống. Năm 1277, Văn Thiên Tường thua một trận lớn ở Giang Tây, phải băng qua thác Hoàng Khủng trên đường rút quân.

    Trần Từ Mai
http://tranhuybich.blogspot.com/

Wednesday, June 28, 2017

Tưởng niệm nữ sĩ MINH ĐỨC HOÀI TRINH (1930--2017)

 
  
Thư sinh yêu Thơ quê hương
Bâng khuâng Trà thất bên hàng Niệm thư
Thiên nga Biển nghiệp mây mờ
Lang thang nẻo trước, Bơ vơ dặm về
Não lòng Bên ni bên tê
Bức thành biên giới chẳng nề gió sương
Quyết lòng Chiếm lại quê hương
Gốc cây, Ngõ trúc, biên cương Thuở đầu.
Kiếp nào ta có yêu nhau
Mong ai Đừng bỏ em lâu một mình
Nam nhi Bất đáo trường thành
Giữa nơi Tử địa tung hoành Hắn Mơ
Bài thơ cho ai năm xưa
Nhắc câu Sám hối, Đàn bà đàn ông
Dòng mưa trích lịch mênh mông
Đàn ngưng, bút lạnh, bóng hồng vút cao. 


“Lá thu, sao sớm” nao nao
Phong tư, chính khí … chìm vào TINH ANH.





                 Tháng 6-2017                           
Trần Từ Mai

Ghi chú:

1) Tên tác phẩm của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh dùng chữ đậm, màu xanh.
       Chữ nghiêng, màu đen là những chữ chuyển mạch hoặc nói lên tình cảm của người tưởng nhớ.
        2)   Trong câu 4, xin mượn chữ của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương:

                   Lang thang từ độ luân hồi
                  U minh nẻo trước, xa xôi dặm về.
3)   Trong câu 17 (áp chót), xin mượn ý của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi:
“Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu.”
4)   Trong câu chót, xin mượn chữ của thi hào dân tộc Nguyễn Du:

“Thác là thể phách, còn là tinh anh.

Khi nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh còn tại thế, Phạm Xuân Đài đã cùng Trần Từ Mai và Thanh Thanh Tử Bội viết tặng bà một cặp câu đối. Được biết bà đã đọc và rất vui. Nay chúng tôi cũng xin phổ biến lại cặp câu đối ấy:








Monday, June 12, 2017

“Con trâu rừng cuối cùng trên đảo” - Một vài cảm nghĩ sau khi đọc tuyển tập bút ký của Nguyễn Công Khanh.


Ở thời của chúng ta, nếu sống trong một xã hội tân tiến, số người vượt quá tuổi 80 không phải là hiếm. Nhưng trên 80 mà vẫn minh mẫn, nhớ lại khá rõ dĩ vãng của mình để có thể thuật lại một cách tường tận, vừa để chia sẻ với mọi người, vừa để đưa ra những suy tư đáng được lắng nghe về quê hương, đất nước, xã hội, thân phận con người … thì hiếm hoi hơn. 

Sunday, May 21, 2017

Thử tìm hiểu ý tưởng của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong bài "Đọc lại người xưa: TRẦN ĐÀO”



 Để giới thiệu 12 bài thơ “Đọc lại người xưa” thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm trong năm 1976, trong thời gian bị giam ở khám Chí Hòa và ít ngày sau khi từ Chí Hòa về, người viết những dòng này đã trình bày một cách khái quát trên tạp chí điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ cuối tháng 10-2016:

Thursday, March 30, 2017

Một bài thơ chứa đầy tâm sự của Chu Văn An



Theo nhà biên khảo Phan Huy Chú trong thiên “Văn tịch chí” của bộ Lịch triều Hiến chương Loại chí, thì bên cạnh bài “Thất trảm sớ” danh tiếng, nhà giáo dục Chu Văn An còn để lại nhiều tác phẩm giá trị  khác:

            --Một bộ sách biên khảo  :  Tứ thư thuyết ước (gồm 10 quyển)
            --Một tập thơ chữ Hán     :  Tiều ẩn thi tập
            --Một tập thơ chữ Nôm    :  Tiều ẩn quốc ngữ thi tập.

Sunday, February 19, 2017

VŨ HUY NGỌC: Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học in sai thơ BÙI KHÁNH ĐẢN













Kho tàng thi ca Việt Nam chất đầy những châu ngọc. Tiếc thay trong bao nhiêu châu ngọc quý giá ấy một số bị bụi thời gian vùi lấp, một số bị thiêu đốt trong cơn lửa đỏ, một số bị thất tán theo những cánh buồm đi muôn phương. Rất nhiều hoàn cảnh éo le đã khiến người xưa bị quên lãng và người sau phải ngậm ngùi. 

Saturday, January 28, 2017

Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ


BÀI THƠ QUAN TRỌNG, ĐANG BỊ PHỔ BIẾN VỚI NHIỀU SAI LẦM

Trước đây ít hôm, người viết những dòng này nhận được một điện thư từ một người bạn ở Bắc California:

“Nhân Tết sắp đến, tôi tìm trên Net xem có bài thơ xuân nào hay và có ý nghĩa. Gặp bài thơ sau đây, thấy nói là của thi sĩ Đông Hồ. Tuy đề bài là “Mùa xuân Mậu Tuất 1958” nhưng lời thơ không có vẻ là thơ xuân. Có những câu tối nghĩa, không biết tác giả muốn nói gì. Có một chữ sai chính tả, tôi thử đoán nhưng không chắc đoán đúng. Nhờ anh giải thích hộ.”  Kèm theo điện thư là bài thơ:

Thursday, January 19, 2017