1- Tình yêu thoát xác từ
chiến tranh.
Tình yêu không thể độc lập với thực tại. Nó bám víu
vào cuộc đời trước khi, trong nhiều trường hợp, trở thành chỗ nương tựa cho
chính cuộc sống. Trạng thái gọi là độc lập như thế sẽ không còn ý nghĩa nếu
hiểu như nó đứng biệt lập với cuộc đời. Chiến tranh đã không còn là cơn mộng dữ
mà là thực tế lâu dài, buộc con người phải từ bỏ ước mơ hay ít ra thay đổi dạng
thức của những giá trị mà họ còn gìn giữ. Thời gian mười năm kể từ cuộc phân
cách, 1954-1965, trước khi cuộc xung đột tiếp diễn, nay chỉ còn ý nghĩa của một
giai đoạn hoãn xung vì trong lòng người, hiểm họa máu lửa vẫn chưa dứt. Chiến
tranh đe doạ triệt hủy nhiều giá trị của cuộc sống không chỉ tình yêu, nhưng
dường như chỉ có tình yêu tìm được thế cách thượng tồn để giữ nguyên bản vị và
trong nhiều trường hợp, cấu thành bản ngã của kẻ sống sót
đốt lửa hâm đời sống
tiễn một ngày đã qua
hơ bàn tay thật nóng
ta chà sát tim ta (1)
Nếu như cùng quan niệm xem tình yêu là một vị trí nhìn
xuống cuộc đời để khám phá cuộc đời trong mối tương quan với ngoại giới (2),
thì chiến tranh là hoàn cảnh bất thường làm thay đổi vị thế quan sát chưa kể
con người không thể cầm lòng đứng yên ở một vị trí. Nói trong tình thế sôi bỏng
này, tình yêu đã thoát xác từ chiến tranh nghĩa là nghĩ đến nỗi đau đớn của
việc trút bỏ hình hài và tác động của hoàn cảnh cay nghiệt của thời thế. Trên
diện mạo mới của giá trị này còn ghi dấu đau khổ đã qua và có thể cả ước vọng
đặt để vào. Cũng trên nét mặt mới của tình yêu, hạnh phúc không còn là tất yếu
vì trong thời chiến, nó vẫn giữ nguyên là điều nghi hoặc. Sự phân lập giữa tình
yêu và hạnh phúc trong chiến thời không chỉ là nội dung của tình yêu trong giai
đoạn này mà còn phản chiếu nét tâm hồn của người trong cuộc bi thương.
(1) Trần Duyên Tưởng, Ðời Nào Ta Biết Ðược, Văn, giai phẩm, 27.11.1972, tr. 112.
(2) Ðặng Tiến, Thơ Nguyên Sa Ðịa Lý Của
Ngôn Ngữ, Văn, số 52, 15.2.1966, tr. 107.
Diện mạo mới của tình yêu trong thời chiến.
Không thể không thấy trên khuôn mặt này dấu tích của
những đau khổ dày vò, những lo âu trước hiểm họa và trạng thái của kẻ vượt
thoát trong tâm tưởng. Tình yêu như thế, chỉ chứng tỏ một bước đi tới của tâm
hồn người lâm nạn trước thực tại bất hạnh vẫn còn nguyên vẹn. Không thể tìm lại
được tiếng cười của những tâm hồn pha lê, của những ước mong tuyệt đối dễ đạt
nơi con người của thập niên trước
chiều ra sông rửa mặt
thấy rõ tiền thân em
là bóng trăng héo hắt
đang chìm dưới sông đêm (3)
Trước hết, con người đã hoài nghi. Không ngờ vực tình yêu
nhưng nghi ngờ khả năng con người nhận lãnh nó. Thực tại làm khô cằn mọi ước mơ
vốn là sinh khí của tình yêu. Nhân vật của Hoàng Ngọc Tuấn khi sa lưới tình
cùng lúc cảm thấy nỗi khó khăn của sự đồng cảm. “ Chúng tôi đều đã thay
đổi nhiều. Năm tháng, nhất là sự đau đớn, làm người ta chóng già cỗi.” (4)
Trong chiến thời, sự thay đổi diện mạo tâm hồn đã thay đổi dung mạo của tình
yêu khiến nó không còn là điều dễ yêu dễ đạt. Quan niệm xem tình yêu là tất
yếu, “ tình yêu khởi đầu cho tất cả mọi sự, nuôi dưỡng được tất cả mọi
sự ” (5) càng chứng tỏ nỗi truân chuyên của con người ôm ấp điều hằng
nghĩ.
Tôn vinh tình yêu như Hoàng Ngọc Tuấn, “ tình
yêu, niềm tuyệt vời và bí ẩn ấy tôi không biết và cũng không muốn biết đến hai
lần “ (6), dưới một khía cạnh, là một cách đương đầu quyết liệt với
thực tại vốn luôn luôn đối nghịch với giá trị hằng tin cậy. Sống và
tin như thế, những người như Hoàng lâm vào thế mâu thuẫn thường xuyên với cuộc
đời, với thực tại. Trường hợp của Hoàng cũng là hoàn cảnh của tình yêu trong
tình thế đương thời khiến cả hai – tình yêu và thực tại – đều tiến tới trạng
thái cực đoan. Hạnh phúc khó đạt được trong tình trạng như thế cho nên cái
tưởng-như-hạnh-phúc cũng là điều được tin cậy
cửa ngó chết, nỗi mù dằng dặc
hoa trông vời khép niềm riêng nghi hoặc
đừng ngoái nhìn. Ðừng ngoái nhìn. Chàng ơi
trăng ngỡ sáng. Trăng ngậm sương trầm mặc
mùa ngã độc. Nhà nín hơi lẩn lút
đồi sượng sần. Cây lìa cành. Lá trút
đừng ngoái nhìn. Phơ phất khói sương thu
đừng ngoái nhìn. Trăng khoả thân xanh mướt (7)
(3) thơ Trần Duyên Tưởng, bđd, tr. 112.
(4) Hoàng Ngọc Tuấn, Giao Thừa Sao Quên, Văn,
giai phẩm, 26.10.1972, tr. 50.
(5) Hoàng Ngọc Tuấn, Giao Thừa Sao Quên, sđd, tr. 48.
(6) Hoàng Ngọc Tuấn, Giao Thừa Sao Quên, sđd, tr. 49-50.
(7) Thanh Tâm Tuyền, Ngôi Nhà Ðỏ, Trăng Hồng, Văn,
giai phẩm, 27.11.1972, tr. 24. Bài thơ khai dẫn từ tứ thơ trong
truyện Kiều, đoạn Kim Trọng trở về vườn Thúy tìm Kiều. Nhân vật trong bài thơ
hành động như lời căn dặn Orphée là không được quay lại nhìn phía sau nếu muốn
người yêu còn sống.
Tình yêu là một thách thức đã đành, mà hạnh phúc
thốt nhiên trở thành một ẩn số khó tìm. Lúc trước, công việc đòi hỏi nhiều lắm
là tấm lòng tín mộ của người đi tìm như lòng của kẻ trở về vườn Thúy. Nhưng,
giữa lúc chiến tranh, điều họ muốn tìm đã trở nên bất định, lênh đênh như hồn
gã du tử tìm về nơi ước hẹn nghĩa là cả con người lẫn ngoại giới đều nằm trong
biến động chung
ngôi nhà đỏ đồi trăng hồng đuối nhớ
thở hơi sương run rẩy. Ngã trong
trời
nhoà gió bấc, ngựa mây dồn gấp vó
tiếng nhạn đen. Thả bổng quạnh
hiu rơi
đồi bập bềnh trôi trên lũng biển
trắng
mái nhà ôm, nhô nóc hú gào người
người gắng gượng rõi dáng hình
lãng đãng
đêm như hồn lóng cóng. Cắn môi (8)
Tình yêu đem đến nhiều nghi-hoặc nên vạn vật được phóng chiếu qua đó cũng trở nên
ít nhiều giả định. Con người vẫn không rời ý muốn của kẻ đi tìm nhưng mối tha
thiết về hạnh phúc đạt được đã bảng lảng, phôi pha. Nếu như họ vẫn xem tình yêu
là phương tiện để khám phá những tương quan, giá trị trong cuộc đời thì sự tìm
tòi ấy không mấy hiệu quả vì thực tại luôn đối lập với ước vọng của kẻ tình si.
Trong trạng huống đương thời, dưới mắt Thanh Tâm Tuyền, tình yêu đã xa rời ý
thức sôi nổi trong liên đới của năm nào, không bao giờ chúng tôi dừng
lại / chúng tôi chẳng yêu một mình (9) để lui về ranh giới tình cảm
của kẻ thất bại, biết rằng khó đạt nhưng vẫn không buông tay níu giữ
đèn vẫn thắp. Cửa sổ kia vẫn mở
loé sáng mù như một đốm sao
đêm dần lụn. Bướm đêm vờn nghiêng
ngả
đâu người ngồi nhập kiếp chiêm
bao ?
trăng lợt lạt. Nhà im. Ðồi rét
mướt
tiếng sáo khuya rong ruổi u hoài
đường trơn dốc đẩy chân trì níu
nhà lênh đênh theo trận lũ rã rời (10)
Trước thử thách dường ấy trong đó thực tại ngày một
thêm bức bách người trong cuộc, hạnh phúc có thật chỉ là điều lừa dối ? Dường
như người ta không đủ can đảm để nhận chân điều này và vì tình yêu giúp họ hành
động như kẻ sống sót
hãy đắm đuối. Chàng Orphée si dại
đừng ngoái nhìn. Ðừng ngoái nhìn. Bờ bụi
tủa gai, vườn hoang phế. Bóng ảnh nàng
trôi tan tác trong hành lang thẳm tối (11)
(8) Thanh Tâm Tuyền, Ngôi Nhà Ðỏ, Trăng Hồng, sđd, tr. 19-20.
(9) Thanh Tâm Tuyền, Người Yêu, Tôi Không Còn Cô
Ðộc, Người Việt, Sàigòn, 1956.
(10) Thanh Tâm Tuyền, Ngôi Nhà Ðỏ, Trăng Hồng, sđd, tr.
17.
(11) Thanh Tâm Tuyền, Ngôi Nhà Ðỏ, Trăng Hồng, sđd, tr.
23.
Tình yêu ở vai trò cứu sinh.
Không còn tìm thấy nơi tình yêu mệnh giá toàn vẹn như
xưa, người thời chiến lui về ẩn nhẫn với giới hạn mà tình yêu cho phép thủ đắc.
Người không còn tự tin, có hạnh phúc của kẻ, năm ngón tay có bốn mùa trái
đất (12) mà đã mang suy nghĩ của người hiểu được hạnh phúc là giá trị
hạn hữu
thời quỷ quyệt nên nhiều mây quái
thổi hắt hiu hương khói muộn màng
thổi hiu hắt một đời thế mãi
nên cầm bằng chết giữa mùa tan (13)
Một trong những phương chước mà Bửu Ý có lần đề ra là hãy
rời bỏ vị trí đã khiến mình chìm sâu vào sự chờ đợi vô vọng, như “
không còn đứng ở cửa sổ nhìn ra mà (…) đứng ở ngoài nhìn tới, và cũng không còn
chờ đợi nữa.” (14) Bởi vì, trước thực tại đương thời, “ cuộc
đợi chờ của người sống có kéo dài đến bao lâu đi nữa vẫn hoàn toàn là đợi chờ
vô vị, chỉ khiến người sống thấy mình càng đi sâu vào cô đơn.” (15)
Rời bỏ vị trí không có nghĩa là xa rời tình yêu mà là tìm
thấy nơi tình yêu một giá trị mới từ vị trí mới. Từ cái nhìn trên, có thể nghĩ
rằng, Phạm Thiên Thư, Joseph Huỳnh Văn, Hoàng Ngọc Tuấn… là trường hợp những
người sớm tìm đến vị trí của kẻ không phải mang nỗi khổ tâm của kẻ đợi chờ một
giá trị đã phôi pha. Tình yêu cứu thoát họ khỏi trầm luân nhưng không đem đến
cho họ mọi điều mong ước kể cả việc thay thế một thế giới giả định mà họ viện
cầu
trên đỉnh núi của ngàn năm cô độc
hồn ta xanh trong thế đứng chênh vênh
ta có cả một thiên đường tuyệt vọng
thiếu vầng trăng để soi rõ bóng mình (16)
Ở vị trí mới, người trong cuộc có thể thoát khỏi nỗi đau
đớn hay ám ảnh bi thương của tuyệt vọng. Tình yêu đã cứu họ khỏi cô đơn và cũng
không dìm họ trong bất hạnh
sao ngày không vui mà ngày buồn
ngày cõng phố già đi lang thang
đêm thả giới nghiêm rào giấc mộng
nửa ơ hờ đứt gánh yêu em (17)
(12) Nguyên Sa, Bây Giờ trong Thơ
Nguyên Sa, 1959.
(13) Trịnh Phú Vang, Hồ Thủy, Văn, giai phẩm,
27.11.1972, tr. 78.
(14) Bửu Ý, Cửa Sổ, Văn, giai phẩm,
26.10.1972, tr. 61.
(15) Bửu Ý, Cửa Sổ, sđd, tr. 60.
(16) Hạc Thành Hoa, Chỗ Ðứng, Văn, số 180,
15.5.1971, tr. 74.
(17) Hoàng Xuân Sơn, Ngày Buồn, Văn, số 180,
15.5.1971, tr. 94.
Ở một trường hợp khác, tình yêu hay ý thức về tình
yêu vẫn nhen nhúm, tái sinh nơi người xem việc tham dự cuộc binh đao như một
việc tự hủy. “ Khi ném đời sống mình vào cái trò chơi này phải cần thản
nhiên để sống. Nếu không thản nhiên được thì phải tự tử. Và tôi, tôi chưa chết
và cũng chưa muốn tự tử để có thể rút mình ra khỏi cuộc chơi hay những ngõ máu
do đó tôi phải thản nhiên để tiếp tục cuộc chơi …” (18) Những người
sống dưới hầm của Nguyễn Ngọc Thuận xem thực tại mà họ phải đối mặt mỗi ngày
không chỉ là trò chơi nhàm chán mà còn là một đời sống thảm hại hơn tên
tù vì có cái chết dọa dẫm rình rập. (19) Với họ, chiến tranh không chỉ
là điều bất hạnh đối với nạn nhân của nó. Ở hậu phương, kẻ khắc khoải trông chờ
là lưu ảnh của “ những thây ma người sống ôm mùa đông khóc thầm mộ phần
mình lạc dấu.” (20) Còn những người bị buộc phải tham dự cuộc sát phạt
lâm vào tâm trạng của kẻ không tìm được lối thoát, phải tự trốn tránh mình và
tự hành hạ mình như hành hạ kẻ thù ghê gớm nhất. (21) Như thế,
những người cầm súng của Nguyễn Ngọc Thuận, thực sự đã phải sống trong thứ hầm
kép. Lớp ngoài để đem lại an toàn cho thân xác và lớp hầm trong do chính họ tạo
nên và dường như kiên cố hơn, phong toả họ trong triền miên lo âu, xao
xuyến. (22)
Họ cảm thấy chịu sự giành giật giữa cái chết và tình yêu
mà phần thắng có lúc nghiêng về cái chết, đúng hơn là nỗi ám ảnh của cái chết
lảng vảng bên mình. “ Ðau khổ nhất là phải tra vấn mình với nỗi
chết.” (23) Trong hiện trạng đó, nếu như tình yêu
không có hy vọng cứu vãn được tình thế tương tự “ niềm hy vọng nào nhú
lên từ trên nền đất cỗi “ (24) thì ít ra cũng giúp giải quyết trạng
thái tâm hồn của người trong cuộc. Cái chết, nếu không thể tránh được do
tình cờ của chiến tranh, sẽ không hẳn vô nghĩa nếu là kết thúc của một tâm hồn
ý thức về giá trị của tình yêu. Cái chết không làm tan biến hay huỷ diệt được
tình yêu dù có lần đã thắng thế trước con người.
Cùng sống trong nấm sinh phần của đời mình, những người
phải trực diện với cuộc chiến có lúc tìm được sinh khí của đời mình trong hơi
ấm tình yêu. Họ là những người đối đầu thường xuyên với cái chết
nhưng vượt qua được tâm trạng kẻ bị bóng tối vây quanh.(25) Vượt
qua được sự ám ảnh hung bạo của cái chết tuy cái chết vẫn còn thường xuyên
trước mặt, những người trong cuộc sinh sát nắm được tình yêu như có được liều
thuốc an thần hiệu quả. Họ không chịu sự dằn vặt của cuộc tranh đấu mất còn
giữa cái chết và tình yêu như thể trong cuộc tương tranh tình yêu luôn đứng về
bên họ, rạng rỡ như tín hiệu mang đến từ cánh chim. “ Em nghĩ, cha mẹ
đặt tên một loài chim cho em thế mà em lại không mang được nỗi mong ước ấy. Em
chỉ cầu mong, mỗi lần anh gặp một cánh chim nào đó, em sẽ nghĩ rằng,
tất cả tâm hồn em, tình yêu em, tiếng hát của em, sẽ gởi vào anh đó…. “(26)
(18) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, Văn, số 176, 15.4.1971, tr. 67.
(19) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, Văn,
sđd, tr. 68.
(20) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, Văn,
sđd, tr. 72.
(21) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, Văn,
sđd, tr. 69.
(22) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, sđd, tr. 68.
(23) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, sđd, tr. 73.
(24) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, sđd, tr. 72.
(25) tên truyện ngắn kể trên của Nguyễn Ngọc Thuận được
lấy làm nhan đề cho nội dung số Văn 176, 15.4.1971.
(26) Trần Hoài Thư, Một Loài Chim Thiên Di, Văn,
giai phẩm, 26.10.1972, tr. 66.
Cánh chim báo nguy luôn xuất hiện trước đầu chiếc quân xa trong một lộ trình chuyển quân được mượn làm biểu tượng cho sức chống trả của tình yêu trước thực tại hăm dọa tiêu diệt nó. Tình yêu hoá thân đã thắng thế vì nó có mặt bên người giữa tình thế gai góc nhất. Trong trường hợp này, tình yêu mang trọn nghĩa cứu sinh và không chỉ cầm giữ được một sinh mạng mà còn cưu mang được một tâm hồn. Tình yêu đã được định vị không chỉ bằng hướng bay của cánh chim mà còn bằng phản ứng của con người lâm nạn trước hoàn cảnh. Dường như sức chống trả lại chiến tranh và sự đe doạ của nó như thế hiếm thấy trong văn chương nhưng có thể con người đã bỏ lỡ những cơ hội để hợp lực với tình yêu, có được tình yêu như chiếc áo giáp của chinh nhân vào những năm đầu của buổi lên đường. Giật mìn ngay những vùng trời riêng rẽ / ta chui xuống hố cá nhân / ôm ngày mai vào lồng ngực / tình yêu làm giáp sắt.(27)
Thực tại đau khổ, mất mát, suy đồi đã nhanh chóng khiến
cuộc chiến bị giải huyền. Người trong cuộc nhìn lại những thiệt thòi bản thân
và mất mát chung quanh để gắt gao chất vấn thực tại. Cái nhìn nhân bản đã thay
thế cái nhìn được hướng dẫn bởi lý luận và lý trí. Trái tim vẫn thổn thức theo
nhịp riêng và không màng đến những phấn khích mà thời thế mong vực dậy. “
Nhiều lúc anh có cảm tưởng đất này của một giống vật hung dữ, dã man nào chuyên
chém giết, làm thịt lẫn nhau. Trong rừng sâu hai con thú khi đánh nhau chúng
còn gầm thét hung bạo. Tụi anh thì không. Bắn giết nhau trong im lặng, thản
nhiên. Ðây không phải là nơi ngự trị của những xúc cảm lý luận của những con
người trong một thế giới văn minh. Ở đây chỉ có một định luật duy nhất là giết
hay bị giết.” (28) Trong hiện trạng ấy, tình yêu là sự có mặt khó khăn
mặc dầu người tự thú tình yêu thường cám dỗ như một trái cấm. (29)
Trước thực tế phức tạp dường ấy, có lúc tâm hồn người đang yêu giản lược hết
mọi bất lợi, khó khăn như kẻ lữ hành giữa biển cát tin vào ảo ảnh một ốc
đảo. Hãy tự tin dầu chẳng còn gì để tin tưởng. (30) Họ không lạc
quan nhưng tình yêu giúp thời gian tồn tại còn lại của họ có ý nghĩa.
(27) Thanh Tâm Tuyền, Mắt Biếc, in lần đầu trong tạp chí
Người Việt, Sàigòn, số 3, 01.10.1955, in lại trong Tôi Không Còn Cô Ðộc,
Người Việt xuất bản, 1956.
(28) Phạm Văn Bình, Trên Ðỉnh Xuân Buồn, Bách
Khoa, số 313&314 (xuân Canh Tuất), 15.01-01.2.1970, tr. 119.
(29) Phạm Văn Bình, Trên Ðỉnh Xuân Buồn, sđd, tr. 118.
(30) Phạm Văn Bình, Trên Ðỉnh Xuân Buồn, sđd, tr. 119.
Tình yêu đưa người rời cuộc chiến.
Tình yêu không phải là pháo đài, tự cô lập và gây ngờ vực
thực tại nhất là thực tại ngày một tỏ ra mâu thuẫn và đối lập với nó. Người ta
tìm cách tách rời hai thực trạng này – tình yêu và cuộc chiến – trong cố gắng
tự xoa dịu như thể nỗ lực làm giảm thiểu sự căng thẳng do tranh chấp. Trong cố
gắng mới này, họ xa được, dù chỉ nhất thời, việc phải tra vấn mình với
cái chết khi cuộc chiến bủa vây (31)
Về một phương diện, đây cũng là phương thức xem cuộc
chiến là giả định để có thể không hoài nghi về những thành tựu đem lại từ tình
yêu
rời bỏ dòng sông lên núi cao
chiều nghiêng dốc lạnh ướt chiêm bao
nhỏ nhoi bản thượng trời mưa miết
thuốc rít mềm môi ấm nghẹn ngào
thôi nhé ! mưa về thương dưới đó
trưa tròn em ngủ giấc chim câu
ngàn xanh buồn đã cao như gió
con lộ đìu hiu lá trở màu (32)
Bầu khí của bạo lực, ngờ vực, hận thù đã bị đẩy ra thật
xa chỗ đứng của con người biên trấn này khi tình yêu lấy lại được vị trí cố
hữu. Cố gắng trên không cho thấy những khó khăn, truân chuyên phải trải qua mà
là nét bình thản trong tâm hồn của kẻ trông cậy mạnh mẽ vào tình yêu. Không
phải thực tại nghiệt ngã bị xoá nhòa mà là người ta đã cất đi được vai trò đối
trong nặng nề của nó trong tâm tư.
Hà Châu của Phạm Ngọc Lư
(33), dưới cái nhìn trên, có thể nghĩ, cũng là một trắc nghiệm của cố gắng
tái lập vị thế của tình yêu trong sự tương tranh quyết liệt với thời thế. Bóng
dáng hung hãn của cuộc chiến không còn lảng vảng nơi đây khi người ta chiều theo
sự mê hoặc của tình cảm. Cho dầu được xây dựng ban đầu trên một huyễn tượng,
tình yêu vẫn thành hình dù huyễn tượng kia sụp đổ. Cho dầu có lúc nghĩ
rằng, “ … trót dại khờ nuôi Mộng, mà Mộng và Thực đời nào trùng hợp
nhau ?” (34), tình yêu đã giúp họ xoá đi biên giới giữa thực và mộng
cùng lúc đưa người xa dần thực tại nghiệt ngã. Cuộc đương cự với chiến tranh, ở
đây, là âm bản của cuộc tranh đấu với lòng mình để gạt đi một huyễn tượng. Chấp
nhận cái thực không là sự nhượng bộ trong phiền muộn mà là
bước tiến trong tâm hồn để giải thoát khỏi ấn tượng hay định kiến tương tự
những người trong cuộc chiến tranh tự đánh tháo mình ra khỏi vũng lầy của dằn
vặt, đau khổ bằng chính giá trị và tiếng nói của trái tim mà họ gìn giữ.
Nhân vật của Nguyễn Ðình Toàn bề ngoài lại tỏ ra dửng
dưng với thực tại khốc liêt vây quanh khi họ tiếp tục nếp sống và yêu đương
trong thế giới riêng của họ. Nhưng liệu thái độ đó là biểu hiện của sự vô tình
hay chỉ là kết quả của việc vượt qua được chặng đường thử thách. Có thể nào họ vẫn
chôn chân trong thế giới được hỗ trợ bởi những đồng loã quen thuộc của thứ vỗ
về tinh thần được tạo tác trong thời chiến. “ … tiếng hát K. Ly từ các
máy khuếch đại âm thanh đặt trong các quán rời rã, buồn, những ngày tháng rỗng
không, những hy vọng và tàn trân đầu những bông hoa, thứ tình yêu mù loà, đần
độn, cháy như những thoi vàng bén lửa, những giọt rượu chế trên tro than, những
tiếng bom trút đâu đó làm những tấm kính rung lên từng chặp…” (35)
(31) Nguyễn Ngọc Thuận, Bóng Tối Vây Quanh, Văn,
176, 15.4.1971, tr. 73.
(32) Trần Nho Thảo, Mưa Tiền Ðồn, Văn, số 38,
15.7.1965, tr. 118.
(33) in trong giai phẩm Văn, ngày 27.11.1971.
(34) Phạm Ngọc Lư, Hà Châu, Văn, sđd, tr.
90.
(35) Nguyễn Ðình Toàn, Hành Lang, Tân Văn,
nguyệt san, số 14, tháng 6.1969, tr. 98.
Quả thật, họ đã xa rời được chiến tranh nhưng sự thay đổi trong tâm tư phần nào tương tự hậu quả nỗi chán chường, mệt nhọc xuất hiện trên gương mặt kẻ sống sót. Tình yêu vẫn đằm thắm nhưng “ cái nhìn thân yêu, xa lạ. Nụ cười ở trong mắt, nỗi buồn rầu (buồn chán) ở trên môi.” (36) Nhân vật của Nguyễn Ðình Toàn thoát ra ngoài cuộc chiến và di lưu tâm hồn thương tích của thời chiến. Tình yêu vẫn giữ vị trí trong họ nhưng điều họ thấy cần phải làm mới lại tình yêu bằng một hình thức khác (37) là biểu hiện lòng ngờ vực trước thực tại bất trắc. Cái đang có không còn giữ nguyên giá trị nếu còn tiếp tục tồn tại. “ Những tiếng nói bị lấn át bởi những tiếng nói khác. Bài hát buồn thảm nhai lại một thứ tình cảm cũ kỹ, tiếng vĩ cầm kéo dài thêm nỗi buồn thảm nhạt nhẽo đó.” (38) Tình yêu đã bước vào một ngã rẽ quan trọng ngay cả khi nó thoát được sự săn đuổi của bạo lực. Kẻ đào thoát với tình yêu mang theo được sẽ bước vào thử thách mới.
Trong Bầu Trời Ẩm Ðục (39), thử thách
nữa là tình yêu không chấp nhận tình trạng cực đoan. Bởi cực đoan sẽ làm trầm
trọng thêm khác biệt hay mâu thuẫn thường tiềm ẩn nơi mỗi người. “ …
đừng yêu em quá, nếu anh yêu em quá sẽ có ngày em bỏ anh.” (40) Suy
nghĩ như thế về tình yêu còn là kết quả suy nghiệm từ thực tại xã hội và cuộc chiến
đương thời mà nguyên uỷ là quan điểm chính trị không thể tương nhượng. Trong
hoàn cảnh đó, người trong cuộc đã ví hạnh phúc với thảm kịch chỉ vì chúng nằm
ngoài sự lựa chọn của mỗi người. “ Hạnh phúc có cùng khuôn mặt với thảm
kịch trong điều kiện dễ dàng và buồn thảm…” (41) Kết quả là người của
thế hệ đương thời chấp nhận hạnh phúc và bất hạnh sống chung với nhau. Ðến với
tình yêu, họ phải tập nâng niu đắng cay cũng như đã vuốt ve hạnh phúc. “
Sự đau lòng có nhiều khi chính là điều người ta muốn nuôi nấng. Nuôi nấng để
kéo dài cái dư vị đắng cay. Bởi vì đắng cay là khuôn mặt bất hạnh nhất của hạnh
phúc.” (42)
Nhân vật của Nguyễn Ðình Toàn đều hiểu rằng tình yêu
là điều tất yếu nhưng thực tại khiến nó không còn là một định thức như xưa.
Tình yêu hiện tại phải chịu một định mệnh truân chuyên tương tự như sống
là để cố tìm cách dàn xếp những cái trục trặc của đời mình. (43) Ðó là
lý do giải thích vì sao nhân vật của Nguyễn Ðình Toàn như muốn chìm đắm trong
thế giới riêng trong cố gắng không thành công trong việc tái lập niềm tin tuyệt
đối vào một giá trị đang chịu bao thử thách.
36) (37) Nguyễn Ðình Toàn, Hành Lang, sđd, tr. 100.
(38) Nguyễn Ðình Toàn, Hành Lang, sđd, tr. 102.
(39) truyện ngắn của Nguyễn Ðình Toàn in trong Văn,
số 135, 1.8.1969.
(40)(41) Nguyễn Ðình Toàn, Bầu Trời Ẩm Ðục, Văn,
sđd, tr. 11.
(42) Nguyễn Ðình Toàn, Bầu Trời Ẩm Ðục, Văn,
sđd, tr. 8.
(43) Nguyễn Ðình Toàn, Bầu Trời Ẩm Ðục, Văn,
sđd, tr. 12.
Nhân vật của Nguyễn Xuân Hoàng như thoát ra khỏi chiến tranh bằng chính tình yêu mà họ thủ đắc được trong thời chiến. Nàng là một goá phụ tử sĩ ở tuổi hai mươi ba và chàng thì còn ràng buộc bởi gia đình riêng nhưng cùng chung suy nghĩ của kẻ bơ vơ, bị thực tại ngăn trở một lối về, “ … mỗi người trong chúng ta đều mong ước có một nơi chốn để đến.” (44) Có thể thực tại đã khiến họ mang tâm trạng và hành động như những con hải âu mù, không cần biết hướng bay tới khi lòng khao khát một chốn để về. Người quả phụ trẻ lúc tự nhận thù ghét và ghê tởm chiến tranh, thù ghét và ghê tởm loài người (45) lại cho hình dung sức mạnh phản ứng của làn sóng ngầm trước thực tại nghiệt ngã. Ở trường hợp này, tình yêu có thể không là thực thể mơ hồ như họ nghĩ mà đã biến thể theo thời thế và hoàn cảnh đương thời và có ý nghĩa của sự cần thiết có nhau, một nhu cầu trong nhau của đời sống hiện tại.“ Trâm bỗng nép sát vào tôi như một chim nhỏ trốn mưa. Mái tóc mùa đông của Trâm là những sợi khói tơ chiều nâng niu niềm cô đơn của một khu rừng hoang xa nào.” (46)
Dưới một khía cạnh, những người thù ghét chiến tranh,
lại một lần, tìm thấy điều cần thiết và mong ước tương tự bắt gặp hy vọng giữa
tro tàn của đổ vỡ, hủy diệt. Nó không còn có ý nghĩa của sự hoà hợp
giữa hai tâm hồn (47) nơi những con người vô tư, bình yên. Tình yêu
mang sắc diện mới nơi người thù ghét chiến tranh nhưng đồng thời đem đến khó
khăn và thử thách.
Nơi Nguyễn Quang Hiện, tình yêu thời chiến là kết tập
và là điểm cuối một tiến trình trong đó có đòi hỏi sự phân biệt khắt khe những
giá trị hầu như đối lập nhau. Ðây cũng là sự lựa chọn vô cùng khó khăn của con
người giữa bất an và bất trắc. “ Tại sao vậy, giữa anh và tình yêu và
đời sống và cái chết có liên quan nào, sao em nhận ra không rõ khuôn mặt em và
khuôn mặt mình.” (48) Vấn đề đặt ra tương tự cuộc tự cật vấn gắt gao
trong tình trạng không hề có tiền lệ. Trước khi được tình yêu giải tỏa, thế hệ
trẻ đương thời đã ý thức được rằng hạnh phúc đến với họ như kết quả xung đột
giữa bi kịch nghĩa là từ đây thực tại không còn thuận lợi như ước mơ tìm thấy ở
những thế hệ trước
hãy cúi đầu
tôi đã xin trở lại
đôi gót chân lạnh cứng
nước mắt rơi vào bóng tối
nhưng trái tim anh thành khối
ngọc (49)
(44) Nguyễn Xuân Hoàng, Con Hải Âu Mù, Văn,
số 71, 1.12.1966, tr. 85.
(45) Nguyễn Xuân Hoàng, Con Hải Âu Mù, sđd, tr. 84.
(46) (47) Nguyễn Xuân Hoàng, Con Hải Âu Mù, sđd, tr.
88.
(48) Nguyễn Quang Hiện, Những Luống Cải Hoa
Vàng, Văn, số 82, 15.5.1967, tr. 30.
(49) Nguyễn Quang Hiện, Bài Hát Buổi Tối, Văn,
số 97, 1.1.1968, tr.99.
Với thế hệ đương thời, hạnh phúc không còn là thuộc
tính của tình yêu. Những người yêu nhau có quan niệm khác nhau về giá
trị căn bản của điều kiện hạnh phúc nghĩa là họ chấp nhận cái có
được với một giá trị tương đối. Chưa từng ở một giai đoạn nào trước đây, những
người trẻ thủ đắc tình yêu trong điều kiện nhìn nhận sự khác biệt, hay hơn thế,
mâu thuẫn của nhau. Phải chăng đây là di chứng hay hoá thân của tranh chấp,
xung đột trong xã hội và nơi trận tuyến mà những người cố vượt qua phải mang
theo dấu tích. “ Hay chúng ta cùng tự sát, hay có một cái gì giống
nhau, nhưng xung đột nhau đứng bên cạnh nhau, nhưng thế nào cũng hủy diệt nhau
như mầu đen với mầu đỏ.” (50) Có thể những người trẻ của Nguyễn Quang
Hiện vẫn bị tiếp tục ám ảnh bởi những băn khoăn siêu hình mà một phần thế hệ họ
đã được thực tại đánh thoát. Họ băn khoăn về sự gặp gỡ và đối đầu không nhân
nhượng giữa những giá trị khó chấp nhận nhau. “ Cũng như hai người đứng
đối diện nhau khoảng cách phía giữa là cái hố sâu là thượng đế, cái chết, hạnh
phúc, chúng tôi cùng tiến dần từng bước tới đó và sẽ gặp gỡ.” (51)
Tuy vậy, cái chết không phải điều ám ảnh của riêng thế
hệ đương thời nhất là giai đoạn mà chiến tranh gia tăng phạm vi và cường độ.
Giữa tiếng cười trong trẻo của thế hệ trước, chia ly hay cái chết được nhắc đến
như tác dụng diễm lệ của cung bậc trầm để nâng bổng thêm tiếng nhạc cao ngợi ca
hạnh phúc và tình yêu
ở trên ấy mây mùa thu có lạnh
anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời
em có ngồi mà nghe gió thu phai
và em có thắp hương bằng mắt sáng (52)
Với thế hệ Nguyễn Quang Hiện, chung cuộc ấy và nỗi ám
ảnh của nó không là sự lựa chọn mà là điều kiện để có được tình yêu. Tình thế
cực đoan đã khiến họ không dễ dàng rời bỏ. Cái chết là đối khoản của tình yêu.
Người thanh niên của thế hệ Nguyễn tâm tín như thế khi tìm gặp ước mong của
mình trong tuyến lửa
rượu ai mời suốt đêm hờ
nâng ly nước mắt cạn chờ súng xa
ngựa
về trăm cõi tha ma
ngày
muôn tiếng gọi người qua cửa trùng (53)
Nhưng,
họ không bi quan khi chấp nhận thực tại. Những
luống cải hoa vàng ẩn chứa một
tương lai, niềm tin tưởng vào kết quả của hy vọng tiềm tàng như màu mỡ được ký
thác vào thửa đất gieo trồng.
(50) (51) Nguyễn Quang Hiện, Những Luống Cải Hoa
Vàng, Văn, sđd, tr. 31.
(52) Nguyên Sa, Lúc
Chết, Thơ Nguyên Sa, 1958.
(53) Du Tử Lê, Bài Quy Nhơn,Văn, số 82,
15.5.1967, tr. 75.
Với Sơ Dạ Hương (54), người phải thâu lượm nhiều
kinh nghiệm thực tiễn từ bạo lực, thì chiến tranh có sức công phá nhiều hơn là
việc hủy diệt sự sống. Dưới một khía cạnh, chiến tranh còn là cơ hội để con
người còn lại trong ý nghĩa tái sinh khi họ được tình yêu nâng dậy, phù
trợ. “…nàng như một đền bù, tình yêu như một đền bù, một an ủi, một vỗ
về xoa dịu những đắng cay suốt đời đã phải chịu đựng.” (55) Kiếp
khác mà họ nhận được từ tay tình nhân có thể vẫn là một định mệnh
không may nhưng đau khổ được vuốt ve, cay đắng được chia xớt. Truyện ngắn mang
đầy tính tự sự, Kiếp Khác, gợi ra một giả định không
may nhưng không hoàn toàn vô ích để xác nhận khả năng và hiệu lực
của tình yêu đem đến cho con người trong hoàn cảnh bi thảm. Cả chiến tranh lẫn
tình yêu đều phát triển hiệu lực đến mức cao nhất đối với con người mà chúng
chiếu cố. Người thời chiến luôn tự xem mình lặng lẽ vây bọc bởi cô đơn và luôn
trông đợi, tìm kiếm điều kiện giải toả. “ Những đêm trực thui thủi một
mình ở sở một mình giữa đám máy móc câm nín, thường vẫn có cảm
giác vừa sung sướng vừa khổ sở của một kẻ bị đi đầy, bị bỏ quên ( bị
chiến tranh, đời sống bỏ quên) và tất cả những hành trình ( viết, suy nghĩ,
tưởng tượng, hoài niệm…) tất cả những toan tính, những lần mò tìm thấy lại
trong đời sống ( chiến tranh) tất cả những ám ảnh, thắc mắc đều liên quan đến
bóng dáng một người đàn bà (một thiếu nữ, một nữ sinh viên Văn Khoa)…” (56)
Cuộc chiến với thực tại của họ không chỉ là cuộc chiến
thầm lặng với cô đơn mà còn là sự chiến đấu với chính họ để tái lập hay duy trì
vị thế của tình yêu trong họ. “ … khi tai nạn (mối tình thảm hại) đã
trở nên vô phương cứu chữa, đã cố gắng thay vì trách người này, người nọ, bình
tĩnh tìm hiểu do đâu, tại sao, khi nào, như thế nào duyên cớ vì đâu, những đêm
trực một mình ở nơi đỉnh cồn đã tìm hết mọi cách để mở đầu trí nhớ, bắt đầu trở
lại mối tình bằng những tự hỏi, những hồi tưởng.” (57)
(54) Sơ Dạ Hương là bút hiệu của nhà văn Nguyễn Quốc Trụ,
người bị thương nặng trong một vụ khủng bố tại nhà hàng Mỹ Cảnh, Bến Bạch Ðằng
Sàigòn trong đêm 25.6.1965.
(55) Sơ Dạ Hương, Kiếp Khác, Văn, số 135,
1.8.1969, tr. 39.
(56) Sơ Dạ Hương, Kiếp Khác, Văn, sđd, tr.
36.
(57) Sơ Dạ Hương, Kiếp Khác, Văn, sdđ, tr.
37.
Có vẻ như Sơ Dạ Hương đặt hết tin cậy vào tình yêu
mà không ngờ đến nỗi ngờ vực của con người lẫn sự thiếu trắc ẩn của thời thế
đương thời. Lòng nhiệt thành như thế khiến tình yêu đã ít nhiều mang vẻ thánh
thiện, siêu nhiên của một giá trị cứu rỗi và như thế càng gia tăng thêm màu sắc
mâu thuẫn giữa một thực tế chỉ tồn tại bằng sự có mặt của những tác nhân xung
đột hoặc đối kháng.
Mặt khác, yếu tố kỹ thuật mà người viết theo đuổi không
làm phai nhạt vẻ nồng nàn của mối tin tưởng nơi tình yêu và nơi người được xem
là hiện thân của nó. Ở đây thực tại chiến tranh không bị vượt qua hay bỏ quên
trong ý nghĩa thắng thế của người trong cuộc. Ở đây những người đang yêu suy
nghĩ, hành động như người vận dụng được sức mạnh của một giá trị mà họ tìm đến.
Tình yêu đi theo hướng ngược chiều với chiến tranh và đã dừng lại để giúp người
tin cậy nó
dù cuộc đời bỏ đi chưa hái nhựa
và không gian theo xanh lơ nhả
lụa
nhớ trở về cho thơm mùa chim biền
biệt
người yêu ru giấc mạ lúa mướt tóc
mời (58)
Trong một ý nghĩa riêng, Lan Hương (59)
của Sơ Dạ Hương cũng là hiện thân của quê nhà mà người tìm thấy. Như thế, nhờ
tình yêu, kẻ thất tung với quê hương tìm lại được quê nhà đồng thời bằng cách
riêng, giúp họ đi ngược con đường mà chiến tranh buộc họ phải tới.
Khác biệt với cách hiểu và quan niệm của nhiều người
đứng trước mặt tình yêu
tất cả đều vô nghĩa
tổ quốc hay quê hương
chỉ thành hình, sau đó (60)
tình yêu của Sơ Dạ Hương nằm trong biên giới ý thức
của những người vượt khó. “ Tình yêu phải là một cánh cửa, một con
đường đưa chúng ta thoát nỗi cô đơn, chính nỗi cô đơn đã xua đuổi chúng ta ra
khỏi vườn địa đàng và cũng chính nỗi cô đơn đã ngăn chặn chúng ta trở về…” (61)
Chiến tranh đã tách con người khỏi đám đông, khỏi thế
giới quen thuộc, khiến họ chỉ có nỗi cô đơn làm bạn (62). Như
thế tình yêu là phương thức con người đối phó hữu hiệu với chiến tranh vì đưa
con người trở về với suối nguồn của tình cảm
có lối nào dẫn con người vào
cánh đồng cỏ non hay mầu ngói đỏ
em tin hạnh phúc cơn giông bão
anh gọi tên em lúc trở về (63)
(58) Cao Xuân Tứ, Mùa Thu Mơ Xứ, Văn, số 42, 15.9.1965, tr.77.
(59) tên một truyện ngắn và cũng là tên của nhân vật
được nhắc đến trong truyện, được in trong tập truyện Những Ngày Ở
Sàigòn, Nguyễn Quốc Trụ, Ðêm Trắng, 1970.
(60) Du Tử Lê, Khi Chưa Rời Ngã Bảy, Văn,
số 97, 1.1.1968, tr. 102.
(61) Nguyễn Quốc Trụ (Sơ Dạ Hương), Lan Hương, Những
Ngày Ở Sài gòn, Ðêm Trắng, 1970, bản in lại của Xuân Thu, Los Alamitos,
không ghi năm in, tr. 60.
(62) Nguyễn QuốcTrụ, Kiếp Khác, trong Những
Ngày Ở Sàigòn, sđd, tr. 113.
(63) Nguyễn Quang Hiện, Một Lối Ði Vào, Văn,
số 135, 1.8.1969, tr. 52.
Giữa chiến thời, mối tin yêu hiện thân nơi Lan Hương
có ý nghĩa của pho binh thư giúp người đối phó với thực tại không ngừng tìm
cách cô lập, khuất phục người bằng ngờ vực, đau khổ, mất mát.
Trong thế giới của Sơ Dạ Hương, ở một khía cạnh, chiến
tranh lại thúc đẩy con người đến gần nhau hơn. Chính thực tại đánh thức người
rời khỏi cơn mơ, khỏi ám ảnh của những nhức nhối siêu hình để con người có dịp
hiểu thấu tiếng dội và dư vang của nhịp đập trái tim, để đi những bước khải
hoàn của sức mạnh tình cảm. “ …tình yêu là dấu hiệu để phân định ranh
giới, chúng ta sẽ sống hoà hiếu với thế giới còn lại, chúng ta không còn cảm
thấy cô đơn và sợ hãi đời sống, không còn nhìn phần thế giới còn lại đó bằng
con mắt thán phục hoặc khiếp đảm, tình yêu xoá bỏ sự xa lạ giữa anh và em, giữa
chúng ta và những người còn lại, đập vỡ vỏ cô đơn, đồng thời cũng tạo nên một
đồn lũy để ngăn cấm những người khác không được xâm phạm đến phần đất riêng
biệt của chúng ta đó…” (64)
Riêng trường hợp Huỳnh Phan Anh, kỹ thuật của tiểu
thuyết mới không làm che khuất hết bóng dáng tâm hồn của một người sau lần chết
hụt trong một vụ khủng bố. Tâm trạng của người sống sót không muốn bị ràng buộc
vào bất cứ mô thức hay định chế nào như hạt muối chìm trong bát nước trong và
không cần định vị nơi nào đã tan loãng. Do đó, hãy thử nhìn tâm trạng người
thanh niên này qua lăng kính chiến tranh để nhận ra dấu vết hãi hùng của bạo
lực lưu lại dưới một hình thức nào đó trong dung mạo tâm hồn chàng.
Những người từng lâm nạn như người thanh niên
trong Thoáng Hiện Ðâu Ðây (65) cưu mang suy nghĩ khá tương
đồng sau khi đến giáp biên giới cái chết. Họ tỏ ra yêu mến đời sống hơn. Sơ Dạ
Hương xác nhận tình yêu với cung cách của người nhìn nhận nó như thứ linh vật
an ủy, phủ dụ người sau nỗi cô đơn đồng thời dứt bỏ được. Còn người thanh niên
của Huỳnh, đã mở rộng lòng hơn với ngoại giới, sống ung dung và độ
lượng hơn (66) mặc dù không rời được cái nhìn khinh bạc cố hữu khi
“ bắt gặp một niềm vui giả tạo đầy ngụy biện của một người còn được may mắn
nhìn lại cuộc sống, được sống lại đời mình.” (67)
(64) Nguyễn Quốc Trụ, Lan Hương, trong Những
Ngày Ở Sàigòn, sđd, tr. 62.
(65) truyện ngắn của Huỳnh Phan Anh in
trong Văn, số 135, 1.8.1969.
(66) Huỳnh Phan Anh, Thoáng Hiện Ðâu Ðây, Văn,
sđd, tr. 30.
(67) Huỳnh Phan Anh, Thoáng Hiện Ðâu Ðây, Văn,
sđd, tr. 21.
Người thanh niên của Huỳnh chưa có ngay một tình yêu
để tâm hồn vượt lên cõi thênh thang như bỏ lại được cuộc chiến dưới chân như
trường hợp Sơ Dạ Hương. Nhưng chàng đã có những rung động và khao khát bất ngờ
về một thế giới êm đềm, bất hoặc mà đứa bé gái chàng gặp trong công viên là
khởi đầu một biểu tượng, một nghi dung.Và, chàng như tiến xa hơn trong tâm
trạng của kẻ từng đến gần việc lâm nguy khi không còn nặng lòng với cả điều
mình ao ước. Với chàng, xem không còn gì tầm thường vô nghĩa hơn cái
chết (68) là cách để tôn vinh sự sống mà chàng vừa lấy lại nhưng dưới
con mắt của người nhận ra cuộc sống quanh mình là một cái gì không được
hoàn hảo, lý tưởng. (69)
Người thanh niên của Huỳnh không chấp nhận sự tầm
thường vô nghĩa như cái chết dù là cái chết trong thời chiến nghĩa là việc xảy
ra trong hoàn cảnh bất thường và có thể được biện giải là sự tình cờ, ngoại ý.
Sự chối từ thẳng thắn và dứt khoát trên dường như là thái độ mạnh mẽ duy nhất
tìm thấy nơi lớp thanh niên của Huỳnh, những người tỏ ra dè dặt hơn dù với điều
họ thực lòng mong đợi. Việc chàng thanh niên tìm đến ngôi nhà cô bé anh gặp gỡ
trong công viên mà không bày tỏ sự thất vọng hay vui mừng khi gặp lại hay không
gặp lại, trong một giới hạn nào đó, cũng thể hiện tâm trạng những người quay về
với mơ ước đơn sơ của họ giữa chiến tranh như một nhu cầu chống trả cô đơn hơn
là một thực tại cần thủ đắc
khuya nhau, ủ dột mái tình
sống trong nỗi chết, phận đành,
cam vui
thản nhiên, vờ, vẫn miệng cười
nhưng sâu đáy mắt lạnh rồi bóng
cây (70)
Về một phương diện, chiến tranh còn giúp tình yêu vượt
ra ngoài phạm trù của nó bằng việc đề cập và cổ võ công nhiên khả năng vượt
thoát khỏi ràng buộc và định chế. Giữa cơn bão lửa, đi những bước phóng túng
như thế, tình yêu tự biến thành một thách đố với xã hội hay không hay chỉ là
điều chứng tỏ có những khát vọng hay biến chuyển cõi lòng mà hoàn cảnh bình
thường không thể cưu mang hay tiên liệu nổi. Nguyễn Thị Hoàng khi nhắc đến việc
hôn phối giới hạn, chiết tỏa tình yêu đã nêu lên một thực trạng của tình cảm mà
chỉ giữa chiến thời người ta mới có hoàn cảnh và can đảm để lên tiếng. Dưới cái
nhìn như trên, tình yêu là một giá trị tuyệt đối nhân bản và việc xét định nó
ngoài phạm vi này chỉ khiến con người phải chịu sự lựa chọn khó khăn và đau đớn
vô ích. “ Nhưng anh không thể thương, không thể chìu, không thể chịu
đựng nổi giới hạn hẹp hòi của một hôn phối bình thường. Anh tới em và giữ em
bằng tình yêu. Anh nuôi em bằng tình yêu. Sống chết với tình yêu. Ðòi hỏi tận
cùng tột đỉnh cái không thể nhìn nhượng một sứt mẻ một tàn phá nhỏ nhoi nào của
thời gian, hoàn cảnh và ngoại vật.” (71)
Tình yêu đã đẩy nhân vật của Nguyễn Thị Hoàng đến
trạng thái cực đoan, một trạng thái mà thuộc một phạm vi khác - cuộc xung đột
đương thời - đã khiến họ cố gắng chối bỏ và tìm cách vượt thoát.
“ Anh sống và chết nơi em, đau và
khổ nơi em. Không cách nào lắng nghe một tiếng gọi xôn xao khác, và cũng không
bao giờ tỉnh một tích tắc đồng hồ để thoát ra khỏi vùng mờ ám của tình mình.” (72) Kẻ nguyện chôn chân trong cuộc tình đã lấy
việc “ im lặng kiên nhẫn chịu đựng tù đày và oan khổ của chính mình
trong lúc phóng thích đời sống những kẻ khác phóng thích đời sống của kẻ khác“ (73)
như hạnh nguyện của kẻ tân tòng nhiệt tín.
Khi chọn lựa thái độ như thế, nhân vật của Nguyễn Thị
Hoàng có vẻ như đi ngược hẳn với một xu thế đương thời khi họ nghĩ đến
việc “ phải làm mới lại tình yêu bằng một hình thức khác ” (74)
như một hình thức giảm căng thẳng với thực tại cuộc sống.
(68) Huỳnh Phan Anh, Thoáng Hiện Ðâu Ðây, Văn,
sđd, tr. 24.
(69) Huỳnh Phan Anh, Thoáng Hiện Ðâu Ðây, Văn,
sdđ, tr. 32.
(70) Du Tử Lê, Rồi Tưởng Tới Ngưới Ở Thông Tây Hội (
viết 19.5.69 ), Tân Văn, số 14, tháng 6.1969, tr.106.
(71) Nguyễn Thị Hoàng, Lời Ðá Gọi, Văn, số
155, 1.6.1970, tr. 36.
(72) Nguyễn Thị Hoàng, Lời Ðá Gọi, Văn,
sđd, tr. 41.
(73) Nguyễn Thị Hoàng, Lời Ðá Gọi, Văn,
sđd, tr. 43.
(74) Nguyễn Ðình Toàn, Hành Lang, Tân Văn,
nguyệt san, số 14, tháng 6.1969, tr. 100.
Thiết lập hay duy trì một trạng thái cực đoan như thế
giữa thực tại khắc nghiệt có là một hành động phiêu lưu khi con người hầu hết
đã tỏ ra mệt mỏi, chán chường.
Cũng có thể nghĩ rằng quan niệm tuyệt đối về tình yêu
của Nguyễn Thị Hoàng được đưa ra vào lúc bấy giờ mang ý nghĩa của phản ứng
quyết liệt bảo vệ một giá trị mà họ xót xa khi nghĩ đến việc không thể tránh
được ít nhiều phôi pha theo thời thế.
Những khuôn mặt trong thế giới đàn bà (75)
của Trùng Dương nhộn nhịp và năng động hơn như muốn giành lấy vị thế chủ động
trong một lãnh vực mà người phụ nữ thường nói đến một cách dè dặt. Họ đề cập
đến hôn nhân, tình yêu như sự bù đắp, thay thế sự khuyết lạc, một khoảng trống
vắng bất đắc dĩ. Có người trong bọn mới là quả phụ một tử sĩ không ngại ngần
nhận lời hứa hôn với một quân nhân, Người khác vừa chia tay chồng cũ nhưng vẫn
muốn được sống tự do trong tình trạng ngoài hôn nhân bên người mới. Họ hồn
nhiên thách đố với xã hội, với cuộc chiến ác liệt kề cận mà có người từng là
nạn nhân trực tiếp. “ - Còn cái này nữa, tao muốn cho mày biết luôn thể: tao
mới nhận được thư Bào ở quân trường gửi về chính thức xin cưới tao…Lâm ly lắm.
Mày nghĩ sao ?
- Tao đâu phải má mày mà nghĩ sao
? Sao hôm nọ mày kêu sợ… Trừ phi…
- Trừ phi làm sao?
- Mày muốn lãnh tiền tử tuất thêm
một phen nữa !” (76)
Thế giới đàn bà của Trùng Dương phải chăng chỉ là biểu
lộ một mong đợi cần được giải tỏa. Họ mang tâm trạng của kẻ bắt đắc dĩ bầu bạn
với cuộc chiến dằng dai nghĩa là đã qua giai đoạn kinh hoàng với những điều xảy
ra trước mắt. Như người “ lâu ngày chiến tranh với chúng ta thành quen
thuộc, cơ hồ khắng khít.” (77)
Ði xa hơn tìm kiếm cho mình một phương thức để tồn tại
có ý nghĩa trong binh lửa, những người đàn bà của Trùng Dương có vẻ như an
nhiên trong tâm trạng kẻ vượt thoát những nghiệt ngã của thời chiến. Có thể họ
không bị ràng buộc bởi quan niệm chặt chẽ về tình yêu hay cũng có
thể họ dễ dàng tìm được một định nghĩa về tình yêu, hạnh phúc thích hợp với
hoàn cảnh. Chiến tranh đã đẩy người này vào hố sâu của dằn vặt nhưng cũng đưa
người khác vào thế giới của người đãng trí (78) hoặc vô tư.
Quan niệm về tình yêu tiến thêm một bước trong hồn
nhiên nơi Trần Thị NgH. (79) Năm ba tuổi chênh lệnh trong thời chiến đủ để con
người mang sự cách biệt già dặn của một thế hệ an bình. Nhân vật của thời bão
lửa đang qua có thể thản nhiên nói về truyện lòng như một thực tại được nhìn nhận,
không thách thức và cũng chẳng e dè như thể trước tình thế đặc biệt khẩn trương
tình yêu cần là thứ tặng vật hào phóng.” Thử tưởng tượng một người đàn ông
đứng tuổi, đứng đắn. Một người đàn ông sắp sửa bốn mươi tuổi, có vợ, có địa vị
và tiền bạc. Không lý tưởng sao, tuyệt vời nữa. Một hôm chàng nói với tôi:
- Em dám bỏ trốn với anh không ?
Tôi nhìn chàng nghi ngờ:
Chưa có cuộc ngoại tình nào thành
công cả.” (80)
(75) nhan đề một truyện ngắn của Trùng Dương in trong Văn, số 155, 01.6.1970.
(76) Trùng Dương, Ðàn Bà, Văn, sđd, tr.
62.
(77) Võ Phiến, Vui Buồn Ðầu Năm, Bách Khoa,
số 313&314 ( Xuân Canh Tuất),15.1- 1.2.1970, tr.5.
(78) mượn chữ trong nhan đề một tập thơ của Ngô Kha và
với ý nghĩa của người không tự cam kết gắn bó với thực tại.
(79) Trần thị NgH. là bút hiệu của Trần Thị Nguyệt
Hồng, sinh ngày 18.4.1948 tại An Xuyên, Cà Mau. Từng theo học đại học Luật
khoa, Văn Khoa Huế. Tập truyện ngắn : Những Ngày Rất Thong
Thả được giới thiệu là tác phẩm đầu tay. Giai phẩm Văn đề ngày
06.11.1974 in chân dung Trần thị NgH. trên bìa như thường giới thiệu những
người cầm bút quen thuộc đương thời.
(80) Trần Thị NgH., Nhà Có Cửa Khóa Trái, được tuyển
đăng trong Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hưong Chúng Ta, Sóng,
Sàigòn, 1974, bản in lại tại Hoa Kỳ không ghi nhà xuất bản và năm in, quyển hạ,
tr. 627.
Nơi hầu hết những tác giả đương thời, dù bao thử
thách, tình yêu vẫn còn tồn tại như ở vị thế xưa trước nhiều giá trị đã đổi
thay. Nguyễn Quang Hiện trước sau vẫn xem tình yêu là hành lý đầy đủ cho cuộc
hành trình một đời người bất kể đến hướng đi
có lối nào dẫn con người vào
cánh đồng cỏ non hay mầu ngói đỏ
em tin hạnh phúc cơn giông bão
anh gọi tên em lúc trở về
gõ nhịp cho thời gian
bước đi
lối này đưa tới cuộc viễn du mù
mịt (81)
Nơi Nguyễn Ðình Toàn, tình yêu sâu nặng như một nghĩa
vụ nghĩa là buộc con người tự ràng buộc vào và khiến cho người trượt ra ngoài
quan hệ hôn nhân mang một mặc cảm tội lỗi, tự nhận mình là kẻ bệnh
hoạn, những kẻ vô danh với ước mong không bị khám phá. (82) Với Nguyễn
Xuân Hoàng, giữa nam nữ đã xuất hiện thứ tình-cảm-gần-như-là-tình-yêu thế
chỗ, “ chắc chắn không phải tên gọi đó là tình yêu “ (83)
nhưng đủ hấp lực để họ không rời xa nhau. Kẻ mang mối tình cảm ngoài hôn nhân
không mãn nguyện nhưng đã có thể bám víu lấy mối tình mình theo đuổi.
Ðến Trần Thị NgH. rõ rệt con người thời chiến đã chấp
nhận ( mà có khi họ không hay) điều mà Nguyễn Ðình Toàn chỉ mới hình dung là
một hình thức mới của tình yêu. Tính chất giai đoạn đã thâm nhập vào tình yêu
càng cho thấy tâm trạng của người đương thời về một thứ hạnh phúc mỏng
manh, bùi ngùi. (84)
Ðiều mà họ cùng chứng nghiệm về cố gắng tuyệt
vọng và thất bại của cuộc ngoại tình mà họ dính dấp vào chỉ là sự nhìn
nhận về tính chất ngắn ngủi, đoản mệnh của tình yêu một khi họ biết rằng
họ “ sống như thách thức với sự dị nghị, phân bua với mọi bất trắc khả
dĩ ” (85)
Những người trong cuộc dễ dàng đến với nhau, bất kể
hoàn cảnh, và cũng dễ dàng chia tay nhau như thanh thoả xong một món nợ. Sự bịn
rịn nếu có chỉ là biểu lộ của phản ứng trước sự gián đoạn một thói quen cũng
như họ đến với nhau như thể muốn thiết lập một thói quen mới.
Cuộc gặp gỡ giữa họ xảy ra trong một trường hợp đặc
biệt ( ngoại tình) đồng thời cũng nhắc nhở đến hoàn cảnh bất thường (chiến
tranh) mà họ đến với nhau. Ðiều có thể gọi tình yêu trong trường hợp này mang
tính chất của một nhu cầu nhất thời, một dạng thức mong manh nhưng người trong
cuộc vẫn chấp nhận nó với đam mê mạnh mẽ của kẻ tận hiến.
(81) Nguyễn Quang Hiện, Một Lối Ði Vào, Văn,
số 135, 01.8.1969, tr.52.
(82) Nguyễn Ðình Toàn, Hạ, Văn, số 71,
1.12.1966, tr. 80.
(83) Nguyễn Xuân Hoàng, Con Hải Âu Mù, Văn,
số 71, 1/12/1966, tr. 85.
(84) (85) Trần Thị NgH., Nhà Có Cửa Khoá Trái, Những
Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta, sđd, tr. 635.
Thơ, chiếc bóng của tình yêu trong thời chiến.
Kể từ giữa thập niên sáu mươi, sau chuỗi năm tháng bất
an, căng thẳng và bạo lực gia tăng, tình yêu trở về với thơ sau thời gian bị
xem dưới con mắt hoài nghi, hoặc coi là ảo tưởng. Sự trở về không phải là kết
quả tự nhiên sau thời gian lưu lạc nhưng mang nặng ý nghĩa khẩn thiết của điều
được viện cầu. Nguyễn Quang Hiện, một trong những người nồng nàn đón nhận sự
trở về, trong lời khánh chúc tình yêu đã thoáng thấy những dè dặt chưa từng bắt
gặp nơi trái tim hân hoan. “… em sẽ mang tới cho anh một giấc ngủ thinh
không và cuộc đời lại bắt đầu một buổi sớm mai trời se lạnh hay nắng rất non,
những chuyến xe ngựa mang đầy hoa mới hái về chợ bán – ô quên đi mà vì chúng ta
sẽ sống hôm nay ngày mai, chúng ta cứ tiếp tục sắm sửa mãi cho cuộc
đời phải không, bao giờ đến ngày hội?” (1)
Tâm sự của chiếc bóng. Tình yêu tái hiện cùng với ý nghĩa của sự trở về còn
đối với con người, thực tại khắc nghiệt đã khiến lòng hoài nghi trở thành thứ
bản ngã. “ Không ai tin rằng sự yên tĩnh đã trở lại vào đời sống loài
người mang những niềm tin yêu huyền thoại.” (2) Có thể bản chất tình
yêu không khác xưa nhưng thái độ và cái nhìn của con người không giống trước.
Tình yêu vẫn còn nét dịu dàng nhưng thói nghi kỵ đã xem nó là vật mong manh, dễ
vỡ. Thứ trước đây đòi hỏi nâng niu nhưng nay đã là sự chấp nhận nhau trong bao
dung, “ tôi đã làm lỡ đời tôi hay vì chúng ta sinh ra đều lầm lẫn, quên
quên đi mà quên đi mà, hãy xí xoá để làm lại hỡi những người anh hùng sống xung
quanh…” (3)
Cuộc tái hợp của tình yêu với con người không mấy gian
truân vì có thời thế vun vào. Nhìn dưới khía cạnh này, chiến tranh phô bày bộ
mặt lưỡng diện của nó, vừa là thực tại và hiểm họa phũ phàng, vừa là
động lực để tình yêu và con người trở về với nhau. Trở về để nhìn lại tân toan
đã trải và để cho cuộc đời kẻ sống sót có ý nghĩa. Trong cái nhìn này, thơ có
ưu thế nhiều hơn khi được thay thế lời tình tự cũng như khi cần ghi nhận những
rung động của thế hệ tái hợp với tình yêu như kẻ phong sương đón người tình lưu
lạc.
Trước hết, tình yêu làm sống lại những tân toan con
người đã nếm trải trong đó có sự thiếu vắng của chính nó. Niềm đau xót năm xưa
của thời gian ruồng rẫy, ngờ vực tình yêu, theo Lâm Chương, chính là mệnh giá
hôm nay của cuộc tình tái ngộ
từ em đi những tháng ngày xa lạ
những tháng ngày máu đỏ chẳng về
tim
tôi vẫn đứng trong khu vườn
thương nhớ
nghe mưa bay hiu hắt lạnh trong
hồn (4)
(1) Nguyễn Quang Hiện, Những Lúc Xa Cách,
thơ, Văn, số 40, 15.8.1965, tr. 50.
(2) Nguyễn Quang Hiện, Những Lúc Xa Nhau, thơ, sđd,
tr. 48.
(3) Nguyễn Quang Hiện, Những Lúc Xa Nhau, thơ, sđd,
tr. 49-50.
(4) Lâm Chương, Nhện Chờ Mối Ai, Văn, số
71, 1.12.1966, tr.96
Qua niềm tưởng tiếc, người ta có thể nghĩ rằng, dưới
mắt người, tình yêu vẫn còn giữ được dung mạo như xưa. Nhưng thật ra đó là nỗi
thương tiếc gửi về nghi dung mối tình xưa cũ theo thói quen của người nâng niu
với kỷ niệm. Kỷ vật càng quý sau thời gian thời cuộc tiếp tay với
con người hững hờ, ruồng rẫy
ngày tôi về không còn người ở đó
con đường xưa hoa vẫn nở trong
chiều
bóng tối động trên vài đôi mắt lạ
nắng ngủ dài vùng cuối dốc đìu
hiu
như loài chim thiên di tìm cõi ấm
cánh nhỏ buồn mang giá rét ra đi
sao tôi về đây sau mùa bão nắng
kiếm tìm ai trong phố chợ sa mù (5)
Cuộc tái ngộ với tình giữa chiến thời hiển nhiên đem theo
những bất trắc mà con người đều tiên tường. Dường như đây là mâu
thuẫn lớn nơi người đón nhận tình yêu. Chấp nhận sự có mặt cần thiết của nhau
và cả điều không may mà nó mang theo. Trong tình thế đó, thay vào niềm hân
hoan là thái độ của người nhẫn nại với thử thách
chúng ta sống cùng nhau
cho nhanh hơn tiếng khóc
em đã hứa chờ anh
lúc trở lại sau một hành trình chết (6)
Những chân diện hôm nay của chiếc bóng. Thực tại xung đột đã khiến những người lựa chọn tình yêu
là chấp nhận một hình thức đương đầu với những tác nhân ngăn trở nó. Ở trường
hợp này, người ta như phải đa mang những dằn vặt, ma chiết hơn là điều an ủy
nhận được nơi mà tâm hồn họ ký thác. Dưới một khía cạnh, tình yêu xuất hiện như
một hoàn cảnh đòi hỏi thêm tín lực nơi người thụ trái
tình người bờ đá trăm năm
sông tình tôi cuộn trên dòng nước xuôi
hang sâu chim ngủ phận người
trơ vơ cột khói thở trời mây đen
nẻo đời mai có còn em ?
nhìn cây rủ bóng, hồn im nắng tà (7)
(5) Ngụy Yên, Người Về, Văn, số 71,
1.12.1966, tr. 72.
(6) Viên Linh, Truyền Hình, Văn, số 71,
1.12.1966, tr. 34.
(7) Hạc Thành Hoa, Trên Bờ Ðá Tình Người, Văn,
số 135, 1.8.1969, tr. 60.
Trong trường hợp này, tình yêu được chấp nhận như sự thất
bại, hay đúng hơn sự thất thế đơn phương hay song phương của con người trước
tình thế. Sự thất thế được tiên liệu và ung dung chấp nhận hệt như con người
trước đây từng chịu khuất phục trước định mệnh
tôi dong cương xe ái tình
chẳng bao giờ mong chặng đỗ
điềm nhiên bỏ lại sau lưng
những mảnh đời xanh đỏ cũ (8)
Trong tình thế đó, có thể là may mắn khi người nhận ra
được tình yêu quán nghỉ chân (9) và với người khác, tình yêu
thực sự là cơ hội để con người tự đối chất với lòng về chặng đường vượt khó.
Dằn vặt, trói buộc trong đau khổ được phong tặng như chiến tích của cuộc đấu
tranh cầm giữ cho họ một giá trị vô cùng cần thiết
một chiều giông bão trí nhớ tôi
bị quật ngã trong hầm bóng tối
ngoài hơi đất lạnh kia
cuộc đời còn chi để nói
khung cửa ở trên đầu
hay tay mày trói quặt
trong tình yêu quờ quạng đêm thâu (10)
Tình yêu không thể nằm ngoài tác động của thời cuộc
đương thời vì mực độ tha thiết của con người với tình yêu mang theo sức phản
chiếu nỗi lo sợ về số phận bất trắc của nó. Ở một khía cạnh, tình yêu là thứ
phong vũ biểu của thời cuộc đối với những người không từ chối việc được bắt
mạch rung động của tâm hồn
hãy cúi đầu
tôi đã xin trở lại
mắt khẽ nhắm
hai tay chìa trước mặt
ngày mai anh sẽ đi nói cùng
Thượng đế
là anh đầy tội lỗi
bàn tay thư sinh rướm máu
núi hôm qua xanh lơ
hôm nay anh trở lại:
tìm
em (11)
Thời chiến đã khiến tình yêu thành cơ hội để con người
cả tin vào sự có mặt của ảo tưởng. Thái độ như thế là hậu quả tâm lý dự phòng
sự thất vọng tái diễn nơi con người hầu như kiệt quệ niềm tin và lòng tự trắc
ẩn
ở đấy con ngõ tối
tôi nghe động chung quanh
những trái hạnh phúc mềm
rung từ cây vọng tưởng (12)
(8) Mai Trung Tĩnh, Thám Hiểm, Văn, số 97, 1.1.1968, tr. 93.
(9) thơ Mai Trung Tĩnh, Quê Hương, Văn,
sđd, tr. 94.
(10) Viên Linh, Mới Thấy, Văn, số 97,
1.1.1968, tr. 95.
(11) Nguyễn Quang Hiện, Bài Hát Buổi Tối, Văn,
số 97, 1.1.1968, tr. 99.
(12) Du Tử Lê, Khi Chưa Rời Ngã Bảy, Văn,
số 97, 1.1.1968, tr. 103.
Dường như Cao Thoại Châu là tiếng nói sau cùng của một
thế hệ thời chiến, nhiều lúc, còn giữ sự cả tin vào một giá trị đã khiến họ
điêu linh. Kẻ mang thương tích đầy hồn (13) vẫn tự nguyện giam
mình trong hoài niệm và trìu mến vết thương như kẻ thủy chung với cả tai ương.
Ðây không phải chỉ là một phản ứng của tình cảm. Có thể vì sống chung lâu năm
với đau khổ nên người ta cảm thấy yêu mến đau khổ tự lúc nào
để thấy ta mang đầy kỷ niệm
như người mang thương tích trên
thân
và thấy em như bờ dốc đứng
ta chiếc xe đò nổ bánh bơ vơ (14)
Họ - chàng sinh viên xa xứ Nh. Tay Ngàn và người thanh
niên thời xung đột của Cao Thoại Châu – vẫn lưu giữ quan niệm về tình yêu như
kẻ chung tình của thế hệ trước. Họ nhập thể vào tình như ước nguyện sau cùng
của làn gió được tan lẫn trong không gian
nàng nhỏ xuống trí nhớ những giọt lệ xanh
mộng mị hoang vu tôi mọc dày nấm mốc
nàng thở trong tim những ngày
tháng ấm
rôi ôm nàng tay vắng hư không
cay đắng hiện lên như luồng gió
lạnh
tôi cuồng quay như trái bóng dưới
chân (15)
Còn người thanh niên trong xứ của thế hệ chiến tranh
chẳng dè dặt hơn, đã xử sự như một tín vật của thuở bình yên nghĩa là lúc con
người có thể dễ dàng vâng theo ước nguyện của họ
làm cách nào em thấy trong thơ
anh
thứ ngôn ngữ đánh lừa và bất lực
em là một người một người nào
khác
mang tuổi đến cho anh
anh dốc ngược đời mình
trên bờ môi em đó (16)
(13) “ em ơi, em, làm cách nào em giam
giữ hoài con chim giữa lồng ngực / anh bay ra thương tích đầy hồn.” thơ
của người sinh viên du học, Nh. Tay Ngàn, từ năm 1965 ( Mùa Thu Thành
Phố, Văn, số 28, 15.2.1965, tr.80.
(14) Cao Thoại Châu, Mời Em Uống Rượu, Văn,
số 125, 1.3.1969, tr. 23.
(15) Nh. Tay Ngàn, Ðêm Xứ Lạnh, Văn, số
125, 1.3.1865, tr. 81.
Nh. Tay Ngàn tên thật là Nguyễn Văn Nhĩ, sinh năm 1943
tại Vĩnh Bình. Du học tại Pháp ngành canh nông từ năm 1964.
(16) Cao Thoại Châu, Thư Cho Na Viết Từ KBC
4100, Văn, số 82, 15.5. 1967, tr. 42.
Sau này, vào một thời điểm, khi tình yêu ngày thêm viễn cách do tình thế, quan niệm về tình dường như đã chuyển mình. Không hẳn họ đã thoát ra khỏi quỹ đạo của tình yêu mà đúng hơn họ cùng với tình yêu có chung một đường bay mới. Con đường không buộc người đi theo phải chịu dựng truân chuyên, bất trắc như thực tại đã buộc họ phải gắn liền. Tình yêu như thế đã ít nhiều mang màu sắc của sự giải thoát khỏi những khắt khe, ràng buộc của thực tại đương thời. Nơi Ðặng Tấn Tới, chẳng hạn, người ta đã tìm thấy phong vị của dự cảm này nhưng mới là ý thức mà chưa là một kinh nghiệm mới thủ đắc
nàng đứng bên đường vén áo hoa
cánh như muốn nở cánh như mơ
đường hương hàng phượng rung rung
nụ
hiện nữ lang hiền hay dáng ma (17)
Hoặc có khi gợi nhớ lại cái nhìn thăng hoa về một giá
trị giàu chất tượng trưng như thể bày tỏ ước muốn sự miên viễn của tình sau bao
kinh nghiệm chẳng lành
các em đến chiều nay đông đủ
hát cùng tôi khúc nguyện ca đời
đời tặng riêng các em hơi thở
cùng chút son môi thắm tuyệt vời (18)
Trong những đường bay mới với tình yêu, con người hoặc
nhận ra vẻ cao điệu, huyễn diệu của tình như hình ảnh mới của đức tin vào khả
năng cứu rỗi, hoặc chiêm nghiệm tình như kẻ tỉnh giấc mộng dài và tìm về nhận
thức mới. Nơi cả hai đường bay, dấu vết của thực tại có phai nhạt nhưng càng
biểu lộ nỗi thiết tha của con người với giá trị họ bám víu. Trong quỹ đạo mới,
tình yêu và con người ràng buộc trong liên đới, không phải là trường hợp trói
mình trong đau khổ, mất mát. Tình yêu trước hết là sự chiêm nghiệm mới
đã nói gì trong ngọn cờ bay
nhớ qua tiếng guốc cuối ban ngày
và
em soi lại tình yêu cũ
chợt
thấy ngang lòng một dấu mây (19)
Trong
hướng đi trên, không ít người trong đó có Thục Khưu cùng nghĩ đến việc đặt gia
trị mà họ cưu mang trong cái hạn hữu của muôn loài vừa phát giác. Ít ra dưới cái
nhìn ấy, sự gắn bó với tình không còn ý nghĩa của một tài vật sở hữu. Không xem nhẹ nhưng biết được ý nghĩa đích thực của
việc gian díu với tình qua giới hạn của kiếp nhân sinh
chợt mới lớn một lần em bỡ ngỡ
màu hoa đưa màu tóc bạc trăng
vàng
kịp ngó thấy như vô cùng ở đó
đời buồn chi thoang thoảng áng
mây tàn (20)
(17) Ðặng Tấn Tới, Ðường Trưa Hiện Nữ Lang, Văn, số 135, 1.6.1969, tr.66.
(18) Trịnh Phú Vang, Hồ Thủy, Văn, giai
phẩm, ngày 27.11.1972, tr. 78.
(19) Lê Văn Ngăn, Bằng Tiếng Thoảng Qua, Tư Tưởng,
số 6, 30.8.1971, tr. 51.
(20) Thục Khưu, Chợt Mới Lớn, Tư Tưởng,
sđd, tr. 47.
Cái nhìn dưới ảnh hưởng của triết học tôn giáo như đã nói có lay chuyển được vị thế cố hữu của tình yêu hay một lần nữa chứng tỏ sự cần thiết chống trả sức công phá của mâu thuẫn và bạo lực.
Trong thực tế, có người tìm được hướng bay riêng với
tình yêu khi nâng cao vẻ huyễn diệu của tình trong ý hướng trông đợi sự vĩnh
cửu của nó. Cái hậu quả phiền muộn, bẽ bàng không trông đợi nơi tình yêu trong
thời tao loạn tưởng sẽ không có ý nghĩa gì khi tình yêu được thiết lập trên
huyền tích của ước vọng
nửa đêm bông trắng nở
nhả đầm hương tuyết trinh
nghe như lòng ta cũng
vừa trổ nụ không tên (21)
Khi đưa ra quan niệm về vĩnh cửu giữa tình thế hoàn
toàn bất lợi cho nó, Nguyễn Văn Ngọc đồng thời trình bày ý
niệm mới về hạnh phúc, không là đòi hỏi mà là hiến tặng và tình yêu sẽ vĩnh cửu
trong ý nghĩa này
em, thiếu nữ mười lăm
hạnh phúc xanh như lá
tôi làm kẻ bao dung
sợ một ngày gió cả (22)
Có vẻ như tình yêu được tái lập ở một vị thế vô nhiễm
như thể phản ứng trước bao đe doạ thường xuyên của thực tại. Tình dừng ở chặng
đường trước khi được siêu nhiên hoá trong thơ. Ðiều ấy có nghĩa là ở một giai
đoạn, người ta còn tin là có khả năng bảo vệ nó. Vì khi đưa tình vào cõi thánh
hoá, siêu nhiên tức là ở một khía cạnh, đã thú nhận mất đi quyền can thiệp vào
địa giới của tình. Ở đây, tình được chiêm ngưỡng mà chưa buộc người phải vâng
phục khi hiến cho người giấc mộng thanh tân
em là bông cúc vàng
nở vườn anh một đoá
em là bóng nguyệt rằm
soi lòng anh mấy thuở
đêm nay mộng yêu em
nguyệt, nhìn hoa rất lạ (23)
Ðiều cần ghi nhận là thế hệ Nguyễn đã quen thuộc với ý
niệm về hữu hạn. Suy nghĩ ấy đóng góp thêm vào việc con người không còn ràng
buộc tha thiết với tình như xưa. Cho nên nghĩ đến cái vĩnh cửu, trường tồn phải
chăng chỉ là phản ứng tâm lý nhất thời khi ngoại giới đã soi đường cho tâm thức
về cái mong manh của thực tại
bên hiên còn đọng nắng
ngọc lan rụng đầy sân
gió lồng trong nhà vắng
rêu xanh mờ dấu chân (24)
Do đó, nơi Nguyễn đã biểu lộ những dằng co, tranh chấp
giữa ước mơ thường hữu với tâm trạng thực trước thực trạng được phơi bày. Việc
chiêm nghiệm thực tại trở thành cuộc vấn tâm trước điều mơ ước dần phai nghĩa
là người đã buộc phải chuẩn bị một đường bay mới cho tình nếu vì nó mà người
không thể tách rời
sương khuya chìm nguyệt lạnh
lầu cao ta đứng nhìn
mới hay vầng trăng cũ
đã úa màu điêu linh (25)
(21) Nguyễn Văn Ngọc, Hoa Nhú Nơi Lòng Ta, Văn,
giai phẩm, 26.10.1972, tr. 92.
Tác giả Nguyễn Văn Ngọc sinh năm Mậu Tý ( 1948 ) tại
Vĩnh Long, cựu Thiếu sinh quân, tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia và là một sĩ
quan tác chiến thuộc Liên đoàn 81 / BCND. Cho đến năm 1975 chưa có tập thơ xuất
bản.
(22) Nguyễn Văn Ngọc, Vĩnh Cửu, Văn, sđd,
tr. 92.
(23) Nguyễn Văn Ngọc, Ðêm Mộng, in trong Lòng
Riêng Như Ðược, tác giả xuất bản, Connecticut, 2001, tr. 12.
(24) Nguyễn Ðức Nhân, Còn Chi, Văn, số
180, 15.5.1971, tr. 74.
(25) Nguyễn Văn Ngọc, Trăng Cũ trong Lòng
Riêng Như Ðược, sđd, tr. 8.
Thế hệ Nguyễn, ở mực độ khác nhau, đều tìm cách thăng hoa cho tình như phương thức làm mới lại tình yêu để tình ở lại bên người. Do đó, an trụ trong quan niệm vạn pháp là một cũng là cách để tình không rơi vào cõi chịu sự sinh diệt thường hằng
mai sau chờ nhau nhé
đầu thai vào loài hoa
chốn này mờ phiêu bạc
chờ đợi chim hát ca (26)
Dường như thể nhập vào tình mới là cách để tình không
thể rời xa cũng như khi thi nhân hoà nhập được vào ngoại giới để không còn phân
biệt chủ thể với đối tượng, không còn tìm kiếm tình yêu như một giá trị ngoại
tại
đầm đìa cơn gió lạ
thổi tạt hồn qua đây
đứng yên nhìn cây cỏ
đứng yên nhìn sương rụng
đứng yên chờ rạng đông (27)
Sự thể nhập vào ngoại giới của Nguyễn khác với ước mơ
thoát ly trần cấu mà ước ao càng khát khao càng chứng tỏ nỗi bất lực của người
trước thực tại ngày một đối nghịch với con người, một thái độ dễ dàng đưa con
người đến trạng thái cực đoan khi lùi bước
trong tôi trăm mảnh lụa đào
nhịp buồn của cánh dơi vào hoàng
hôn
với em cũng ánh trăng suông
lòng ơi chưa mãn một cơn đau dài
từ trên đỉnh sóng tình phai
mơ thành mây trắng bay ngoài khói
sương (28)
Nói như thế là nghĩ đến khả năng thể nhập của Nguyễn
vì có lúc người tỏ ra chật vật trong hướng bay với tình. Bao thử thách đã đến
với lòng người trai can trường nhưng có thể không lay động người bằng hương tóc
thoảng qua. Người không thể dấu lòng những lúc tưởng như lạc đường bay khi phó
thác thân thế cho trái tim sai khiến
vẫn còn vẫn còn gió
gió thổi bay nửa đời
biết ai người giữ lại
chút đời muộn, gió ơi! (29)
(26) Phạm Thiên Thư, Pháp Thân ( ca từ Ðạo Ca một ) dẫn theo Hoàng Văn Ðức, Ðịnh Hướng Dân Tộc Và Con Ðường Việt Hoá Tư Tưởng Ðông Phương Qua Sự Nghiệp Thi Ca Của Phạm Thiên Thư, Minh Ðức, số 7, 8&9.1973, tr. 169.
(27) Nguyễn Văn Ngọc, Buổi Sáng Bên Hồ Than Thở, Văn,
số 176, 15.4.1971, tr.48.
(28) Hạc Thành Hoa, Mơ Thành Mây Trắng, Văn,
số 177, 1.5.1971, tr. 75.
(29) Nguyễn Văn Ngọc, Trên Ðồi, in trong Lòng
Riêng Như Ðược, sđd, tr. 24.
Thực ra, tâm trạng lạc hướng bay không hiếm trong thế
hệ Nguyễn khi thực tại vừa đối nghịch vừa tỏ ra trá ngụy trước những tâm hồn
đôi mươi. Cung cách tận hiến cho tình, dẫu hoàn cảnh nào, cũng là cách làm cao
điệu tình yêu nghĩa là khiến nó xa cách người
như trái đất ngày chưa tìm ra lửa
trên than hồng rực rỡ phiến môi
em
ta đốt cháy một đời thanh củi nỏ
nay tro tàn còn vất vưởng trong
đêm (30)
Khi tìm kiếm một quỹ đạo mới cho họ và cho tình yêu,
những người thuộc thế hệ Nguyễn đều không muốn xây ảo tưởng dù rằng họ nghĩ đến
vẻ đẹp thánh thiện của tình nhiều hơn là hình ảnh trái tim tan vỡ. Sự thất bại
vẫn giữ được vẻ đẹp u buồn vì đau khổ không làm người gục ngã. Ðây
có lẽ là triết lý thực tiễn người hái được khi song hành với tình không phải
trong vị thế kẻ phụ tùy
tôi về vùng biển cũ
thăm lại bờ đá xưa
chỉ còn ngàn sóng vỗ
chào tôi những âm thừa (31)
Tâm trạng họ tỏ ra tương đồng khi không còn để lộ
những dằn vặt, đau đớn của người tuyệt vọng hay thất thế. Thất bại, sau cùng,
dưới một khía cạnh, vẫn là cơ hội cho việc chiêm nghiệm lại mình trong bao dung
một hồn rũ rượi trong mưa
nhớ ơi ngọc trắng ngày chưa cát
lầm
cỏ cây vườn cũ lạnh căm
quỳ hôn còn thấy xa xăm dáng
người (32)
Rốt cuộc, đường bay với tình yêu của thế hệ Nguyễn vẫn
có lúc ám ảnh bị bỏ lỡ chuyến đi bởi thực tại máu lửa quanh họ dù họ không phải
là kẻ tháp tùng bởi vì có lúc người đã hình dung được một lộ trình ngoại ý được
áp đặt lên họ như một định mệnh chung
lửa còn rực một miền
người còn đi biền biệt
một người chờ trăm năm
úa môi sầu tưởng tiếc (33)
Không chỉ Nguyễn, với thế hệ thời chiến này, riêng sự
đợi chờ có thể đã là điều hạnh phúc. Hạnh phúc là cái được ước mong, không phải
cái đang có được trong tay. Ðường bay mới của họ với tình yêu dường như chỉ
dành cho những tâm hồn không hao mòn vì chờ đợi
chiều xanh bên kia đồi
em xanh ngày đứng đợi
tóc cuốn lệ khô, rời
bay trong vùng biển tối (34)
Ðợi chờ, trong trường hợp này, là một vương miện của
tình yêu vì cũng vào thời điểm trên, có người đã chọn chuyến đi đơn độc với ý
nghĩa đào thoát khỏi thực tại. Có thể tâm hồn bồn chồn ấy nghĩ rằng đợi chờ chỉ
là sự làm thinh vô nghĩa
nhân gian để lại đằng sau
trơ thân cát bụi khối sầu tan
theo
ôi em! Chiếc bọt cánh bèo
ta về xứ lạ ôm bao mây trời (35)
(30) Hạc Thành Hoa,
Hoang Ðường, Văn, giai phẩm, 26.10.1972, tr.54.
(31) Nguyễn Văn Ngọc, Chỉ Còn Ngàn Sóng Vỗ, in
trong Lòng Riêng Như Ðược, sđd, tr. 30.
(32) Trần Xuân Kiêm, Về Thăm Nhà Cũ Ở Ðại Ninh,
trong Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến tập II, Thư ấn quán, NewJersey,
2007, tr. 654.
(33) Nguyễn Văn Ngọc, Lửa Ðỏ, trong Lòng Riêng
Như Ðược, sđd, tr. 15.
(34) Nguyễn Văn Ngọc, Chiều Xanh, trong Lòng
Riêng Như Ðược, sđd, tr. 25.
(35) Thế Viên, Như Người Bỏ Cuộc, 1971, in trong Văn ,
số 177, 1.5.1971, tr. 88.
Do đó, điều cần nhận chân là Nguyễn và những người
chung một hướng bay với tình yêu đã giữ vững ra sao giữa bầu khí thất vọng,
phiền muộn và chán nản lan tràn. Trước hết, họ không để lâm vào bế tắc trong
cung cách thoát khỏi lâm lụy vì chấp trước. Tinh thần phá chấp ấy dường như là
nhiên liệu của chuyến bay mà người lên đường không khác hơn hành giả trong một
chặng đường tìm tòi nhận thức
trước mặt ta là biển
ba bề kia núi vây
ngó mông trời đất rộng
không dưng lòng như mây (36)
Gửi tâm hồn mình vào áng mây là thái độ của không ít
người thuộc thế hệ Nguyễn còn bao hàm một triết lý sống trong an nhiên. Người
đã biết lắng nghe tâm hồn dàn trải, không vì thực tại mà bị giới hạn, câu thúc.
Mây là hiện thân của trạng thái vượt khỏi thực tại trong an nhiên nhưng vượt
lên mà không rời bỏ thực tại
ngàn năm mây trắng trên đồi
cũng ngàn năm mây trắng hoài lang
thang
đêm ra đầu xóm trông sang
mừng còn mây trắng hàng hàng lửng
lơ (37)
Nhưng nếu đi xa hơn nữa, đường bay của Nguyễn có thể
là một huyễn tượng, một trạng thái cực đoan của người tuyệt vọng nay muốn trùng
hưng tình yêu trên tâm hồn chưa kịp hàn gắn. Nguyễn dừng lại nơi ngưỡng của hy
vọng khả thi về ước mơ dung dị của sự trùng phùng giữa tâm hồn đôi
lứa
tình cờ như buổi sáng
em đứng chải tóc buồn
anh muốn là gương mộng
soi mãi một chân dung (38)
Nguyễn không phải là trường hợp duy nhất giữa lúc con
người thời chiến đang bị bức bách tìm ra hướng đi cho họ và tình yêu. Họ chẳng
muốn làm kẻ đi tìm một huyễn tượng trong mệt mỏi. Thở chênh chao. Hồn
tả tơi sóng sánh / đá mòn ơi, thấm thía dấu lãng quên.(39) Xem ra Nguyễn
không thiếu gì nghị lực khi đứng bên đường bay xa tắp với gió rập rờn
xô huyễn hoặc. (40) Bên cạnh, không ít người nghĩ rằng chuyến bay nếu
họ lựa chọn chỉ là tiền đề của một ước mơ sớm tàn tạ khi thực tại phô bày móng
vuốt
chiều ra sông rửa mặt
thấy rõ tiền thân em
là bóng trăng héo hắt
đang chìm dưới sông đêm (41)
(37) Ðặng Tấn Tới, Mây Trắng Trên Ðồi, trong Thơ
Miền Nam Thời Chiến tập I, Thư ấn quán, NewJersey, 2006, tr. 72.
(38) Nguyễn Văn Ngọc, Tình Cờ, trong Lòng
Riêng Như Ðược, sđd, tr. 22.
(39) (40) Thanh Tâm Tuyền, Ngôi Nhà Ðỏ, Trăng
Hồng, Văn, giai phẩm, 27.11.1972, tr. 23, tr. 21.
(41) Trần Duyên Tưởng, Ðời Nào Ta Biết
Ðược, Văn, giai phẩm, 27.11.1972, tr. 112.
2-
và trường hợp Phạm Cao Hoàng.
Bước vào thập niên 70, tình yêu giữa thời khói lửa
tưởng như đã già dặn trước tuổi. Trừ trường hợp Hoàng Ngọc Tuấn và sau đó, tủ
sách Trăng Mười Sáu (1) mà vẻ trong trinh của tình vẫn có thể hiểu như bằng
chứng khát khao của con người trước cái bị thực tại xua đuổi và cướp đoạt, tình
yêu còn sót lại trong tay những người thượng tồn đều gợi lại kinh nghiệm đã qua
và mang vết tích của tâm hồn chịu dùi mài trong nghiệt ngã. Tình yêu thoát thai
từ chiến tranh tựa như đoá hoa nở được giữa tuyết băng hay nắng hạn đều bao hàm
hình ảnh của kiên khổ, chịu đựng và người giữ được có cái tự tin của người tiếp
truyền không tắt ngọn lửa tin yêu giữa trời dông bão.
Dưới một khía cạnh, tình yêu vẫn là tín vật của tin
yêu dù người thủ đắc phải trả giá nhiều hơn trong đau khổ. Tình yêu buộc họ
phải truân chuyên dù mối đau khổ phải lãnh nhận chưa hề được hình
dung rõ rệt, dứt khoát nguyên ủy của nó. Có người nghĩ đau khổ không rời thân
phận như Du Tử Lê, buồn nối liền thân tôi / tình nối liền nỗi chết .(2)
Nguyễn Quang Hiện lại cho rằng đau khổ sẽ ma luyện tình yêu thành thứ bất
hoại, nước mắt rơi vào bóng tối / nhưng trái tim anh thành khối ngọc.(3)
Hạc Thành Hoa nghĩ đến chung cuộc của nỗi đau, nẻo đời mai có còn em /
nhìn cây rủ bóng hồn im nắng taø. (4) Cao Thoại Châu khi minh danh một đối
tượng tình yêu đã gián tiếp cho thấy khả năng truất bãi của tình đối với ý
nghĩa cuộc đời người dan díu với nó
anh vẫn đong tình yêu và từng
chút quê hương
trên bàn tay nhiều kẽ hở
anh thèm yêu em hơn làm thơ
bởi làm thơ là chỉ nói cho mình
nghe
những khát thèm bất lực (5)
Muờng Mán có thể thực tiễn hơn khi xem sự quên lãng là
kết thúc đau buồn đối với tình yêu vốn là diễn biến thường xuyên của nhiều giá
trị trong thời chiến, dĩ vãng tôi giăng mùng ngủ lại / trên trí nhớ
nàng từng giọt lệ im hơi. (6)
Riêng Phạm Cao Hoàng nghĩ đến sự chia cách là nguyên
uỷ của mọi tổn thất trong đó có tình yêu. Chia cách là khởi đầu của mọi biến cố
làm suy yếu, hủy diệt mối liên quan giữa con người
những sớm mai hồng tim anh rướm máu
những sớm thu sang hiu hắt mưa buồn
anh lăn vòng xe từng vòng hụt bước
xe lăn qua mau những nhịp tình không (7)
(1) do Nhã Ca chủ trương với các tác phẩm như: Ngày
Thơ Tình Thơ, Bầy Phượng Vỹ Khác Thường ( nxb Thương Yêu)
(2) Du Tử Lê, Lúc Người Chết, Văn, số 167,
1.12.1970, tr. 43.
(3) Nguyễn Quang Hiện, Bài Hát Buổi Tối, Văn,
số 97, 1.1.1968, tr. 99.
(4) Hạc Thành Hoa, Trên Bờ Ðá Tình Người, Văn,
số 135, 1.8.1969, tr. 60.
(5) Cao Thoại Châu, Thư Cho Na Viết Từ KBC 4100, Văn,
số 82, 15.5.1967, tr. 42.
(6) Mường Mán, Tình Khúc Vụn, Văn, sđd,
tr. 50.
(7)Phạm Cao Hoàng, Những Nhịp Cầu Ðen Buồn Bã (1971)
in trong Mây Khói Quê Nhà, Thư ấn quán, Ne wJersey, in lần thứ
hai, 2010, tr. 31.
Tác giả Phạm Cao Hoàng, sinh năm 1949 tại Phú Thứ, Tuy
Hoà, Phú Yên. Dạy học tại Ðalat.
Tác phẩm đã in : Ðời Như Một Khúc Nhạc Buồn
( thơ, 1972), Tạ Ơn Những Giọt Sương ( thơ, 1974)
Chia cách: định mệnh của quê nhà và tình yêu. Chia cách
trước khi là dự cảm đối với tình yêu đã là vết thương của thời cuộc kéo dài đến
thế hệ Phạm Cao Hoàng. Sâu rộng hơn là chia cách, sự phân hoá lòng người được
mưu tính từ lâu trên phần đất quê nhà đã thành vết hằn trên mỗi trái tim mà mỗi
bước đi xa một thêm rướm máu. Như thế, chia cách không chỉ là số phận ngặt
nghèo của hai kẻ yêu nhau mà còn là bóng tối thời thế trùm lên cuộc đời bao
người trong cuộc
anh em con như thuyền không bến đậu
đứa vô nam năm tháng biệt tăm luôn
đứa ra bắc không biết còn hay mất
con nhủ lòng: âu là cuộc tang thương
nay con đứng giữa một trời bom đạn
thấy xuân về mà cứ ngỡ đông sang
thấy mai vàng mà nhỡ là máu đỏ
nghe chim ca mà xót dạ vô cùng (8)
Dường như Phạm không hề được may mắn như nhiều người
trong cùng thế hệ khi sớm nhận thức biên giới của chia cách đã lan toả đến lòng
mỗi người. Lòng mỗi người là một đồn phòng ngự và không ít người đã vô tình
chôn chân bên tuyến được chỉ định. Ý thức phản kháng thời cuộc nơi người thanh
niên có lẽ chỉ là việc bộc lộ vết thương mà nhiều người tìm cách làm ngơ hay
quên lãng
đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương (9)
Như thế, có thể nghĩ Phạm đã có hơn một nỗi đau chia cách
so với nhiều người cùng lứa. Quê nhà chưa xa nhưng lòng người đã xa điều này có
nghĩa là tình yêu trong thơ Phạm để đạt được phải vượt qua hai tầng ngăn cách.
Ngăn cách là điều khó tránh được trong tình yêu và Phạm không có ý chấp nhận nó
như một nỗi đau buồn diễm lệ
khóc lạnh lùng và mưa ly biệt
nên vô tình xóa hết dấu chân
chân giẫm nát dòng hương cỏ biếc
chân ơi tôi tạ nỗi ơn ngần (10)
Sự chia cách, với Phạm, có lúc có hiệu quả của yếu tố tự
hủy
anh dõi mắt mà trông niềm ly biệt
như lòng sông khô nuớc dưới chân cầu (11)
(8) Phạm Cao Hoàng, Giọt Nước Mắt Cho Mùa Xuân, Bách
Khoa, số 313&314 ( xuân Canh Tuất) 15.1-1.2.1970, tr. 130.
(9) Phạm Cao Hoàng, Ði Giữa Chiến Tranh (1969), in lại
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 14.
(10) Trịnh Phú Vang, Hồ Thủy, Văn, giai phẩm,
27.11.1972, tr. 79.
(11) Phạm Cao Hoàng, Những Nhịp Cầu Ðen Buồn Bã (1971),
in trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 31.
Tình trạng chia cách, có những lúc là trạng thái thường xuyên ngay cả khi họ được trùng phùng. Hiểu theo nghĩa trên, thế hệ của Phạm đã không thành công trong cố gắng đến gần với nhau hơn trong đau khổ
có phải em mỗi sớm mỗi chiều
đưa đời ta xuống cõi tịch liêu (12)
Chia cách là một thực tại không thể sửa chữa. Có thể
người đã nghĩ như thế nên khước từ việc để lại dấu tích dài lâu trên nền đổ
nát. Thời chiến đã khiến người ta không dừng lâu nơi những chặng đường đau buồn
như có người từng nấn ná
đêm cúi xuống những cánh tay gầy guộc
ôm nỗi buồn thao thức giữa hư vô
người đã đi như một vì sao rụng
trong đời tôi bóng lửa tắt bao giờ (13)
Nhưng tâm trạng ấy người ta cũng có lần bắt gặp nơi đây
có thể như một nỗi ăn năn, một lời thú nhận kinh nghiệm trải qua một chặng
đường đi chân trần trên gai góc
trái đắng vườn em ta đã ngậm
thì ngàn năm e sẽ khó quên (14)
Hơn ai hết, người hiểu rằng kẻ chịu ngăn cách hôm nay còn
là nạn nhân của tình trạng ngăn cách sâu rộng đương thời và nguyên uỷ của mối
đau buồn là sự lâm luỵ vào cuộc tình thời chiến. Tình yêu dẫn đến mối ăn năn và
sự ngăn cách chỉ đánh dấu một kết thúc phải có
ta cũng muốn đời ta bình thản
như ngày xưa ta chẳng gặp em
vậy mà cứ mỗi chiều mưa trút xuống
ta nghe hồn lạnh tựa băng (15)
Ngăn cách dẫn đến một kết thúc trong đau buồn nhưng với
Phạm còn là khởi điểm của chặng đường lưu lạc của tâm hồn. Ðây là sự khác
biệt rõ rệt giữa những con người thời chiến.
Với người từng cao điệu hoá tình yêu như một trạng thái
bất hoại của tâm tư, sự chia tay nếu được đề cập, chỉ có ý nghĩa làm
sáng tỏ thêm điều đã thức giác
khăn trăng từ độ trao tay
nửa tan cát suối
nửa mài nghiên sương
mốt mai lòng có nghe buồn
mảnh trăng hiện hoá thiên đường cõi chơi (16)
(12) Phạm Cao Hoàng, Ðời Như Một Khúc Nhạc Buồn (1971),
in trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 50.
(13) Lâm Chưong, Nhện Chờ Mối Ai, Văn, số 71,
1.12.1966, tr. 95.
(14) Phạm Cao Hoàng, Ðời Như Môt Khúc Nhạc Buồn (1971),
in trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 52.
(15) Phạm Cao Hoàng, Ðời Như Một Khúc Nhạc Buồn (1971),
sđd, tr. 50.
(16) Phạm Thiên Thư, Ðộng Hoa Vàng, thi tiết
45.
Còn với đa số tâm hồn bình dị, sự xa cách có khi là lưu ảnh diễm kiều của kỷ niệm, một vết thương được âu yếm muốn chẳng được lành, bởi vì, về một phương diện, nó như lớp trầm tích để chứng minh số tuổi có mặt với đời. Rất ít đau khổ nhưng thật ân cần khi nhắc lại chặng đường đã trải
có phải dòng sông giờ đã xa
mây trời hôm trước đã bay qua
mùa đông trong mắt phai màu lá
ôi tiếng em xưa dưới nguyệt tà (17)
Ở một đối cực khác, sự xa cách chỉ là cái cớ để con người
trút nỗi phiền muộn chất chứa. Xa cách không là nguyên nhân dìm người trong đau
khổ nhưng là cơ hội để cất lên tiếng nói của một tâm hồn tự xem hoang phế
một ngày gió tạnh bên vườn cỏ hoang
ta nhìn con sâu đo đoạn đời buồn
em có biết lá mòn hạnh phúc
dưới chân sâu ngày tháng héo hon (18)
Với Phạm, dường như xa cách ban đầu chỉ là sự việc giản
dị, đôi khi tình cờ như lúc gặp nhau mà không ngờ có sức tác động của cường
toan thẩm thấu. Ðến khi chia tay người mới nhận ra đã trả lại một ân sủng của
đời, một tặng vật của tin yêu giữa đời đầy khi trá
tôi mà cũng có người con gái dáng như thu
cầm tay khóc giữa tình đời bội bạc (19)
Như thế, kinh nghiệm sẽ dạy người rằng xa cách làm nên
dấu mốc của chặng đường đời tạc bằng thương nhớ. Người sẽ là kẻ đứng mãi bên
đường thổn thức trông về với hoài niệm và rồi đây nỗi nhớ thương sẽ thoát thai
thành niềm an uỷ
hương tóc em hay hương của gió
sẽ ru lòng tôi đến ngàn năm (20)
Phải chăng con người thời chiến này đã tâm tín mạnh mẽ
vào tình yêu và ngay cả những mảnh vỡ của nó. Thái độ của người trong hoàn cảnh
ấy có thể hiểu là sự ca tụng tình yêu mà việc tan rã đã chứng tỏ tình thêm cần
thiết
hát cùng tôi hỡi người yêu dấu
khúc sầu tình cho bạt tiếng mưa rơi (21)
(17) Trần Thuật Ngữ, Gởi Chiếc Lá Xanh, Văn, số 181, 1.7.1971, tr. 19.
(18) Vũ Hữu Ðịnh, Ngày Quạnh Hiu, Văn, số
180, 15.6.1971, tr. 95.
(19) Phạm Cao Hoàng, Bạch Tiễn Tôi Ở Ngã Ba Duồng (1970),
sđd, tr. 47.
(20) Phạm Cao Hoàng, Khúc Tiễn Thérèse Kh., sđd. tr. 54.
(21) Phạm Cao Hoàng, Khúc Tiễn Thérèse Kh., sđd, tr. 55.
Tâm trạng trên không hiếm tìm gặp nơi những người tìm ra được sự tương nhượng với hoàn cảnh, chắt chiu với cái có được dù không rời bỏ ước mơ
khổ đau rất quen thuộc
với những người yêu nhau
chọn cho mình hạnh phúc
như những giọt mưa ngâu
rơi hoài chưa thể nghỉ (22)
Nhưng ở mực độ tuyệt đối như Joseph Huỳnh Văn nghĩ, tình
yêu không do người làm tan vỡ vì tính chất hủy diệt đã có sẵn trong mọi thực
thể. Sự tan vỡ chỉ chứng tỏ sự thật này và đau khổ là trái khoản đối
với người còn nghi ngờ những giới hạn của tình yêu
têrêxa mãi mãi xót thương
lời tuyệt vọng đoá môi sầu bừng nở
tên của nàng mờ mịt trong mưa
mưa, mưa, mưa
mưa buông ngàn nụ tím giữa hoàng hôn (23)
Khác biệt giữa những người trong thế hệ là sự không đồng
nhất trong quan niệm về tình yêu dù không một ai tỏ ra hờ hững.
Một quan niệm về tình yêu trong thơ Phạm.
Ở vào giai đoạn thơ này, có thể nghĩ rằng cái nhìn của
mỗi người về tình yêu đồng thời phát lộ thái độ của họ trước cuộc đời nhưng
những tương đắc trong cuộc đời không hẳn đem lại sự tương đồng giữa họ trong
quan niệm về tình yêu. Một thứ quan niệm khó chia xẻ với nhau nhưng không vì
vậy khiến họ phải thêm xa cách.
Trước hết, tâm hồn người thật phức tạp, đa đoan nên khi
tiến dẫn cho tình những hình ảnh diễm lệ khác thường là lúc người cảm thấy khát
khao mãnh liệt điều mong ước. Nhan sắc của tình không phải là cái đã có được mà
là điều đang mong ước
trên những con đường không kẽm gai
và bầu trời trong như cẩm thạch
anh thấy lòng anh cũng rộng mênh mông
là khi em đứng bên hàng dậu thấp
ngắt cánh hoa vừa nở sáng nay
ôi cánh hoa chỉ một lần
nở trắng lòng em như mây trắng (24)
bởi vì người từng thổ lộ ước mơ như trên là người có lần tự
nhận là kẻ vị tình chịu cảnh phát vãng
ta là bóng của hư không
tình em là nẻo vô cùng khói sương (25)
(22) Ngữ Luân, Hiu Hắt Bóng Ðời, Văn,
giai phẩm, 26.10.1972, tr. 72.
(23) Joseph Huỳnh Văn, Ðộc Khúc – Têrêxa Tên Của Em Trong
Ðám Lá Khô, in trong Chân Dung Văn Học… của Nguyễn Quốc Trụ,
Văn Mới, California, 2005, tr. 11. Theo sách dẫn trên, bài thơ nằm trong trường
khúc có nhan đề chung là Gởi Cho Chiều Hơi Thở Ðất Sâu.
(24) Lê Văn Trung, Con Ðường Ngày Cuối Năm, Bách
Khoa, số 313&314 (xuân Canh Tuất), 15.1 – 1.2.1970, tr. 127.
(25) Lê Văn Trung, Ngày Xa, in trong Thơ Miền
Nam Trong Thời Chiến (tập I), Thư ấn quán, NewJersey, 2006, tr. 297.
Có người như Hoàng Ngọc Châu thì dường như dấu kín
được mâu thuẫn trong lòng để chỉ đưa ra một diện mạo thanh thoát, kỳ diệu của
tình, điều không thể là hiện thực của năm tháng bấy giờ. Nó tương phản với thực
tại và cho thấy cái dung dị thường tình nay đã trở thành huyền tích
tiếng cười em như mơ
reo trên đồng lúa chín
đời anh sẽ như là
lòng nhung em thánh thiện (26)
Hẳn là Phạm cũng gửi gắm một quan niệm về tình trong
thơ nhưng trước hết quán xuyến bằng cái nhìn sầu muộn, đời như một khúc
nhạc buồn.(27) Có thể nghĩ, trước khi Phạm trải lòng ra với tình yêu, người
đã đối bóng rất lâu với nỗi lòng kẻ thất cước, sống nửa đời chẳng có
một quê nhà.(28)
Như thế, tình yêu có thể là cái bến bên dòng sông cuộc
đời mà Phạm có lần nghĩ về thân phận, “ trôi bồng bềnh theo những
đám rong rêu / giạt về cuối trời vô định.”(29)
Hẳn là dư âm không dứt của khúc nhạc không vui của
cuộc đời khiến Phạm không có dự phóng nào cho tình yêu (30) hay nói cách khác,
không đặt để ngay cả ước mơ vào cuộc tình theo đuổi. Không chỉ vì nỗi ám ảnh về
bao bất trắc trước mắt mà người xem hạnh phúc luôn kề cận với đau khổ
chiều nay đi với em dưới trời mây
xám
tôi nghe trong tôi có một chút êm
đềm
một ngày có tình nhân bên cạnh
là một ngày sắp thấy phút ly tan (31)
Cuộc sống chung với những điều đối nghịch khiến người
không cao điệu hoá tình yêu và có lúc xem tình yêu là môi giới của bao phiền
muộn. Việc đánh thức tình có khi chỉ mong để tắt ngọn đèn phiền muộn không dứt
trong lòng. Trong trường hợp này, tình đã là một trầm tích trong tâm hồn mà
việc khơi dậy là cố gắng hoài công để lòng không hiu quạnh. Người như kẻ đi tảo
mộ tâm hồn vào lúc cần nương tựa vào tình như tin vào chiếc bóng của
quá khứ
những ngày chưa tới mùa xuân
sao thấy lòng buồn vô hạn
có ai hát bài tình buồn
dòng sông chảy hoài vô hạn
ta một mình giữa bờ thành cũ
bứt ngọn cỏ tranh lòng thấy bơ vơ
tháng chạp rồi em, hãy dậy
sao ngủ hoài dưới mộ sâu (32)
(26) Hoàng Ngọc Châu, Xuân Ơi, Bách Khoa,
số 313&314 ( xuân Canh Tuất), 15.1-1.2.1970, tr. 129.
(27) tên một bài thơ và cũng là nhan đề thi phẩm đầu
tay (1972).
(28) Phạm Cao Hoàng, Hành Phương Ðông (1971), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 21.
(29) Phạm Cao Hoàng, Bên Dòng Sông Tuổi Thơ (1971),
in trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 38.
(30) điều này được nêu lên một cách dè dặt vì trong
bài thơ dưới đây, có thể xem vào thời điểm viết ra (1971) có ý nghĩa của dự
phóng
những sớm mai, những sớm mai vàng
chim trên cành trổi nhịp ca xang
anh nhớ tiếng em cười vỡ nắng
nhớ má em hồng đêm trăng
( Phạm Cao Hoàng, Còn Những Buổi Sớm Mai, Văn, số 176, 15.4.1971, tr. 22.)
(31) Phạm Cao Hoàng, Một Ngày Với Tình Nhân, in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 64.
(32) Ðinh Cường, Nối Một Dòng Sông Trắng, Văn,
giai phẩm, 26.10.1972, tr. 82.
Bửu Ý có lần đã nghĩ đến một lối tiến thân của
văn chương trong thời chiến như một hướng thoát ra ngoài thực tại để tồn
tại.(33) Còn Phạm đến với tình yêu sau những dằn vặt về thân phận và quê nhà,
không như một ngã rẽ của tâm tư vì dưới một khía cạnh, đường bay vào tình của
Phạm là quỹ đạo hình thành trong mối tương quan với hoàn cảnh thực tại. Người
chẳng mang theo dự phóng hay ước mơ vốn là sản phẩm của kẻ còn khát khao với ít
nhiều lạc quan vì điều người dự tri hay dự cảm đều gần gũi với những bất trắc
của thời thế
trong mắt em buồn tôi sẽ chảy
như sông kia xuôi một giải êm đềm
khúc ly tan có là đau đớn
cũng đành lòng dù biết xa em (34)
Như thế, có thể nghĩ thơ tình của Phạm thoát thai từ
chiến tranh và cũng không tìm cách thoát khỏi bầu khí chiến tranh để tồn tại.
Tình yêu vẫn để lộ chặng đường gian truân phải qua, những phiền muộn phải gánh,
nhất là những chia cách không thể tránh. Lâm lụy trong cuộc tình không vì trái
tim của kẻ say mê mà do rung động của người mẫn cảm
ta biết ta sầu hơn mùa đông
nhà
em có lửa ấm loan phòng
ta co ro trong buổi chiều vừa hết
đêm đến ngồi run cùng mênh mông (35)
Thế hệ trẻ này có thể không chia xẻ nhau quan niệm về
tình yêu nhưng không khác biệt bao nhiêu trong tâm trạng của người tìm hướng
tránh cơn bão lửa thời cuộc. Những người mang theo bóng tối nặng nề của ý thức
về thân phận và quê nhà như trường hợp Phạm thì chuyến ra
đi với tình yêu còn có ý nghĩa của việc trở về, trở về điều họ mong đợi
tôi đã trở về như lúc ra đi
như con chim bị thương cần né
tránh
như con tàu xuyên đêm
và em người thiếu phụ trẻ thơ
ở cuối trận bão giận dữ đang thổi
qua
vẫn mỉm cười đợi chờ (36)
(33) “ Cho nên, muốn dưỡng thương, muốn bảo trì, muốn tăng
trưởng, văn nghệ ngày hôm nay buộc lòng phải ly khai với chiến tranh và tiến
thân theo những lối đi khác.” ( Bửu, Ý, Nghĩ Về Văn Nghệ,Văn, số
182, 15.7.1971, tr.4.)
(34) Phạm Cao Hoàng. Khúc Tiễn Thérèse Kh. (1971), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 56.
(35) Hoàng Ðình Huy Quan, Bài Thơ Mùa Xuân Dành Cho Người
Trở Về Thành Phố, in trong Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến ( tập
I ), sđd, tr. 186.
(36) Hoàng Ðình Huy Quan, Phương Hướng, in trong Thơ
Miền Nam Trong Thời Chiến, sđd, tr. 184.
Nhưng cuộc đăng trình trở về của Phạm lại chìm khuất
trong u sầu, tưởng tiếc, điều có thể hiểu là dư ba của thực tại còn đeo đẳng
mạnh mẽ bên người. Không phải tình khiến người bi lụy mà dường như chiến tranh
đã khiến trái tim người mềm yếu. Có sự khác biệt nào nơi người giữa
nỗi đau vì mất mát do chiến tranh với nỗi đau tổn thất do tình mang lại
nhớ gì không hỡi con đường lá ướt
chiều thôi mưa anh đợi em về
nay anh thắp chút tình xưa đã chết
chiều thôi mưa nghe gió rũ lê thê (37)
Cuộc chiến lưu lại dấu tích trên tình yêu đương thời là
bóng mây u ám che rợp chút tia nắng tin yêu thường có trên khuôn mặt người
trong mỗi chuyến đăng trình. Ở giai đoạn này, đau buồn và ám ảnh thất bại là
thứ mà người không ngại mang theo trong chuyến bay với tình yêu như thể lần hồi
hương về với giấc mộng đầu. Ðây có thể là bản ngã của người lên đường này mà
cũng có thể là kết quả kinh nghiệm, như con chim bị thương cần né
tránh. (38)
Sự dè dặt của người lên đường khiến đường bay với tình
yêu mang tính chất thăm dò, thám sát hay đôi khi hơn thế, để xác định sự thất
bại mà lòng đã phần nào đinh ninh
mai sau sẽ về trên bến cũ
nhìn mưa hồng mà tiếc những ngày xưa (39)
những câu thơ lóng lánh như lệ vẫn được dành thay tiếng
thổn thức của kẻ trở về với tình
ôi bờ đá xưa và những bông huệ trắng
buồn một mình nghe mưa chết trong lòng
buồn một mình lang thang trên bờ vắng
chút tình xưa, em nhớ gì không ? (40)
(37) Phạm Cao Hoàng, Bờ Ðá, Những Bông Hoa Trắng Và Mưa (1971), in trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 58.
(38) câu thơ đã dẫn của Hoàng Ðình Huy Quan trong chú
thích (36).
(39) Phạm Cao Hoàng, Khúc Tiễn Thérèse (1971), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 54.
(40) Phạm Cao Hoàng, Bờ Ðá, Những Bông Hoa Trắng Và Mưa
(1971), trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 59.
Người
chối từ cao điệu hoá tình yêu ?
Giữa những người trở về với tình yêu giữa cơn bão lửa,
không ít người tin cậy nơi khả năng mầu nhiệm của tình và cất cao lời xác tín.
Ðiều mà Bửu Ý mệnh danh là tân huyền sử được thiết lập là dấu
hiệu của lòng tin đang đẩy dĩ vãng thành tương lai trong cõi
văn chương (41), hiểu theo một ý nghĩa, là cách cao điệu hoá nhiều giá trị
trong đó tình yêu. Ðộng hoa vàng của Phạm Thiên Thư, miền lục trúc của Võ Chân
Cửu, không gian của âm thanh và cảm giác nhuốm vẻ xuất thế của
Joseph Huỳnh Văn… là những cố gắng đặt những giá trị được tín mộ vào biên giới
của huyền sử. Huyền sử được con người tác tạo nên và được trả về lòng người với
bội số hiệu năng của người thiết lập. Huyền thoại được tái lập giữa chiến tranh
mang lại ý nghĩa của phản ứng con người trước những cái mà chiến tranh đã xâm
phạm, tàn phá. Một tượng đài trong tâm mà người ta thiết lập cho tình yêu, nói
cho cùng cũng chỉ là cách bám víu vào cuộc đời bằng phương tiện tự tạo. Những
người tin vào huyền thoại có thể cảm thấy bình an với tình yêu trong cái nhìn
họ tưởng như gián cách với thực tại. Dường như Phạm Cao Hoàng không chung mạch
suy nghĩ như trên vì trước hết với người, tình yêu đem đến lỡ dở và
gần như đồng nghĩa với thất bại. Ở vào giai đoạn này, Phạm tự nhận là kẻ vong
tình, cây vườn tôi rụng trái tình không (42), một người thất
thế và với quê nhà, cũng là kẻ thất tung, lênh đênh theo sóng thời gian, buổi
lận đận thân gửi nhờ đất khách. (43) Xây dựng huyền sử cho tình là điều xa
lạ với tâm trạng kẻ vong tình vừa mâu thuẫn với lòng người đã cùng quê nhà
ruồng rẫy. Tâm trạng phức tạp ấy khác biệt với nhiều người tưởng như trong cõi
đồng tâm khi họ rắp tâm xây dựng cho tình một mô hình theo huyền sử
anh như là không như là sương
em như là mơ như là hương
ta tắm đời nhau trong sóng nguyệt
hồn say cùng thiếp giữa vô thường (44)
(41) Bửu Ý, Nghĩ Về Văn Nghệ, Văn, số 182,
15.7.1971, tr. 7.
(42) Phạm Cao Hoàng, Khúc Tiễn Thérèse (1971), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 54.
(43) Phạm Cao Hoàng, Hành Phương Ðông (1971), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 21.
(44) Hoàng Ngọc Châu, Và Cũng Dưới Khóm Quỳnh,
trong Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến (tập I), sđd, tr. 198.
Tuy không hướng về việc cao điệu hoá tình yêu
theo mô thức đương thời, trong thơ Phạm người ta nhận ra chân dung tình yêu với
vẻ vô nhiễm ngoại trừ đau khổ.(45) Vẻ vô nhiễm không trọn vẹn này dẫu sao cho
thấy một phần tâm lý chung của thời đại không hề muốn để lấm một giá trị còn
lại
em của bao giờ – nửa đời phiền
muộn
khi tình yêu thơ dại cũng xa cao
hỡi con tim trên đường về ảo
tưởng
mùa xuân xưa đã thất lạc phương
nào (46)
Với Phạm, quê nhà và tình yêu là hai thực tại cách
biệt, là viễn ảnh của bến đợi sông chờ trong lòng người du tử, vẫn nguyên vẹn
trong trinh như buổi đầu hẹn ước, tưởng như không hề chịu sự công phá của thời
gian và hoàn cảnh, sự biến thiên từ tâm hồn
có trong ta những dòng sông trắng
chảy êm đềm như tóc em xưa (47)
Vẻ vô nhiễm của tình yêu cũng là tính bất hoại của
tình mà Phạm và những người dù mang theo thân thế lênh đênh vẫn
nguyện lòng không từ giã. Ðau đớn mà không hờn trách, chẳng dứt lòng
hồn đã úa chút tình em thuở trước
bao năm rồi lòng trắng mưa bay (48)
Những người thất bại nhưng thực sự chẳng muốn làm kẻ
vong tình đã biến tình yêu thành nơi thánh tích lấy nỗi đau thay cho lời cầu
nguyện
nỗi buồn đó trong hồn anh quanh
quẩn
đã cay lòng xé ruột suốt mười năm (49)
Họ nguyện là kẻ canh thức cho tình và dưới cái nhìn
như thế, Phạm và những người cùng quan niệm về tình yêu đã kéo dài đời sống cho
tình trong ý nghĩa phát huy hiệu năng vô nhiễm
hương tóc em hay hương của gió
sẽ ru lòng tôi đến ngàn năm (50)
Cao điệu hoá tình yêu, trong nhiều trường hợp, có thể
hiểu là phản chiếu sự nghi ngờ vào khả năng hiện tại của tình. Những tâm hồn
tha thiết như trường hợp Phạm không vội cách điệu hoá tình yêu xem đối tượng
như nghi dung một biểu tượng. Người năm cũ vẫn dung dị hiển hiện bên mình và
đau buồn dài lâu không thể biến mối tình hoá thạch trong huyền tích
tôi đưa em qua đò tháng chạp
chút mưa buồn rơi nhẹ cuối sông
xa
và gió tạt từng cơn gió bấc
xoáy trong hồn buốt cả xương da (51)
(45) việc khảo sát thơ trong giai đoạn này dừng ở năm
1972 nên những diễn biến trong quan niệm về tình yêu nếu có trong những sáng
tác sau đó của tác giả Phạm cao Hoàng, sẽ được đề cập trong giai đoạn cuối của
nền văn học miền Nam ( 1973-1975.)
(46) Hoàng Lộc, Từ Một Mùa Xuân, Bách Khoa,
số 313&314 (xuân Canh Tuất), 15.1 -1.2.1970, tr. 126.
(47) Phạm Cao Hoàng, Gã Hàn Sĩ Ấy Lại Ra Ði (1972), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 40.
(48) Phạm Cao Hoàng, Ðời Như Một Khúc Nhạc Buồn
(1971), in trong Mây Khói Quê Nhà, tr. 50
(49) Hoàng Ðình Huy Quan, Chuyện Mười Năm, Chính
Văn, số 4, 31.3.1972, tr. 13.
(50) Phạm Cao Hoàng, Khúc Tiễn Thérèse Kh.(1971), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 54.
(51) Phạm Cao Hoàng, Khúc Tiễn Thérèse Kh., sđd, tr.
53.
Từ chối việc cao điệu hoá tình yêu trong lúc này chỉ là muốn chấp nhận nỗi đau khổ có thực của một người bình thường như bao người dầu nỗi đau có lớn hơn tầm vóc chịu đựng như đã nhẫn nại trước bao thử thách với quê nhà. Người chưa vội chất chứa nỗi đau trong dáng vẻ kỳ tích của thế hệ thiếu may mắn như thế hệ mình. Nỗi đau nằm trong niềm nhớ của người và nhiều lắm là thúc đẩy nỗi nhớ dâng cao. Thực thể của tình tưởng như vẫn còn gần gũi bên mình vì khi được nâng lên hàng huyền tích, với người, tình chỉ còn là một trạng thái, một ý niệm xa xăm
nhớ gì không hỡi nón che nửa mặt
chân ngập ngừng khua guốc se lòng
anh
nay anh với cõi lòng rách nát
chiều nghe mưa rượu uống một mình (52)
Khi nâng cao tình thành huyền tích, người không còn
nỗi đau của thế nhân, huyền tích dầu dưới bất cứ dạng thức nào cũng xa cách với
người, con người chỉ nói chuyện với cái buồn hay cái vui của một thực tại nay
đã thành ảo ảnh. Thực tại dung dị năm nào nay đã thành một thứ huyền tích, cái
mà Phạm đã chối từ mơ tưởng dù khi trở về với quê nhà,
với tình yêu với hành trang tình cảm của kẻ thất thế
mình ngồi lại vuông bàn đôi tách
nước
hương trà dâng thơm ngát ý xuân
về
bàn tay ấm trên bờ vai tóc mướt
vuốt nhẹ hồn phủi bỏ mọi nhiêu
khê (53)
Chọn ở lại với mẫu mực thanh tân (ban đầu) của cuộc
tình đã lỡ, Phạm vẫn có thể tiếp tục giữ nguyên dạng khúc ca tiếc nhớ dành cho
mình. Khúc hát sẽ không cần biến thể cho phù hợp với kích thước mới của tình
yêu như có người từng thiết chế cho xứng với ý thức mới
từ trăm ngàn cõi phiêu bồng
ta về đây với chút lòng lãng quên (54)
Ở đây, người vẫn giữ tiếng lòng muôn thuở của con
người trước ly biệt, mất mát. Tình vẫn để lại cho người nguyên vẹn một vết
thương hay hơn thế, một nấm mồ của tưởng tiếc. Không cao điệu hoá tình yêu,
người đã nhận chịu việc tự viếng lòng mình vào mỗi sớm
tôi một mình vui đời hiu quạnh
đêm nghe mưa nhớ giọng em cười
sáng chim ca đứng bên bờ cũ
nhặt một vài bông trắng tặng
riêng tôi (55)
Lựa chọn như thế, Phạm đã hành động khác biệt hay mâu
thuẫn với quan niệm về tình yêu của một số người đồng cảm. Có thể Phạm nghĩ
rằng việc cao điệu hoá tình yêu hay đẩy tình yêu đến mức huyền tích dưới nhiều
phương thức sẽ là sự thách thức thêm với thời thế, làm căng thẳng sự cách biệt
giữa những điều con người mong đạt được với thực tại ngày thêm bất trắc. Cũng
có thể Phạm nghĩ như thế là tạo nên trạng thái cực đoan khác cho tình yêu khi ở
trạng thái thực tại nó còn chưa đáp ứng được với con người. Cũng có thể với
Phạm, không thể đặt tình yêu vào thế giới của vọng tưởng cũng như không thể sống
thực với một quê nhà trong tâm tưởng. Phạm đã khước từ cả hai và chịu những dằn
vặt, đau đớn khi hai thực tại này mất mát.
Quan niệm về tình yêu như trên, Phạm đã gần gũi hơn
với thế hệ của mình. Kiên khổ trong thương đau để đi tiếp con đường phải đi, họ
không phóng lớn nỗi đau hay sự thiệt thòi mang trên lưng thay cho sự an ủy cũng
như không mong đợi hiệu quả của chuyến viễn du ra ngoài thực tại
thời bây giờ, của những giọt nước
mắt
ướt khăn hồng người con gái năm
xưa
thời của những khăn tang chít vội
thời ruột đau như cắt nỗi chia
lìa (56)
(52) Phạm Cao Hoàng, Bờ Ðá, Những Bông Hoa Trắng Và Mưa (1971), trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 58.
(53) Trần Huiền Ân, Mùa Xuân Ở Mỹ Dung, Bách Khoa,
số 313&314 (xuân Canh Tuất), 15.1-1.2.1970, tr. 128.
(54) Lê Văn Trung, Ðã Hết Phiêu Bồng, in trong Thơ
Miền Nam Trong Thời Chiến (tập I), sđd, tr. 298.
(55) Phạm Cao Hoàng, Khúc Tiễn Thérèse Kh., sđd, tr.
56.
(56) Phạm Cao Hoàng, Hành Phương Ðông (1971), in
trong Mây Khói Quê Nhà, sđd, tr. 25.
viết 12-2014
đọc lại 01-2026
Trần Mạnh Toàn