Sunday, November 5, 2023

TRẦN MẠNH TOÀN: VŨ HOÀNG CHƯƠNG, THƠ và THOẠI (3)

 

42- NGƯỜI DỰNG NÊN MỘT HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI THẦY

 Còn nhớ nhà thơ Vũ thường nói, “thi sĩ, chúng phải được sống chỉ để làm thơ mà thôi.” Câu nói để dạ ấy dường như không chỉ Thanh Nam, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo nằm lòng và chọn cơ hội lặp lại nếu không như để biểu đồng tình. Nhưng ai cũng rõ, đấy chỉ là mơ ước xuông thôi, và người làm thơ bất đắc dĩ mới nói lên điều có vẻ cân nhắc thiệt hơn.

Dù có nghĩ và nói ra miệng như thế, nhà thơ đã lấy nghề dạy học làm kế tự lập thân ngay tự khi lui về vùng hậu phương tránh tai vạ bom đạn của Đồng-minh mà vẫn đều đặn lặn lội về Hải-phòng, Thái Bình dạy học. Đây cũng là năm ông viết xong kịch thơ Vân Muội trong vòng hai tháng ( theo Vũ Bằng) hay chỉ trong một tuần ( theo Nguyễn Mạnh Côn), giữa cái bát ngát                   của vùng đồng chiêm tịch mịch và hai bữa rau dưa sơ sài như người ẩn giả. Cái kết quả lời lãi cho văn chương sau một giấc mộng nữa lỡ làng. Năm 1942. Vở kịch được đem trình diễn ngay vào tháng chạp. Nhà thơ còn nhớ được như trên qua lời một người bạn. ( Nguyễn Mạnh Côn, Văn, số 150, 15.3.1970.)

Sau này, khi thời thế tương đối trở về nếp cũ, nghĩa là sau năm 1949, nhà thơ lên Hà-nội tiếp tục  việc cũ – dạy toán, lý hóa sau đó là quốc văn– nghĩa là thực tiễn ứng dụng cái sở học của mình. Có thể  ông vẫn xem  đây là công việc miễn cưỡng chỉ vì ông muốn tiếp xúc với thực tại cuộc đời qua hư ảo, qua những nhân vật đại diện. Cũng có thể ước mơ cũng khô cạn phần nào trong thời gian, nhà thơ phải đứng trước bảng đen đến 48 giờ một tuần.

Phần thưởng dành cho nhà thơ trở thành nhà giáo không chỉ là chuyện thông thường. Từng lớp học sinh học ban văn chương của nhà thơ, đều nhớ đến người thầy như là người cầm giữ chìa khóa của vùng ký ức được nâng niu của họ. Có đọc Đào Trường Phúc năm xưa, mới thấy sau đó, một người làm sử cho văn học, không ngại lặp lại cái cảm giác như được bước vào đền thiêng dành cho nghĩa thầy trò, trước những thiết tha từ ký ức của người học trò cũng là người cầm bút, từng chắt chiu kỷ niệm với học đường với mái trường đại học ( Xuân Xưa, Người Cũ, Làng Văn, số 78, 2.1991, Võ Phiến, Thơ Miền Nam 2, Văn Nghệ,1995.)  Từ  Lưu Văn Vịnh, thấy hình ảnh và phẩm cách của một nhà thơ làm thơm danh nhà giáo. Qua Song Thao, là không khí của một học phong cũ kỹ được trau chuốt tái sinh, hiển hiện như một giấc mơ lộng lẫy tình nghĩa. còn trường hợp Nguyễn Đức An, luôn thấy hình ảnh người thầy nhà thơ qua bóng dáng những người thầy khác. Nên không lạ gì khi nhũng người cầm bút không ngồi trong lớp của nhà thơ, như Hồ Trường An, đã không ngại chọn cách xưng hô thầy cho hợp lẽ.

 

43- NHÀ THƠ LÊN TIẾNG TRÊN TRUYỀN-THANH

Tô Kiều Ngân kể lại rằng, khi nhà thơ Vũ chân ướt chân ráo đến Sài-gòn, ông Ngân đã giới thiệu với Hoàng Cao Tăng, giám đốc đài phát thanh, để nhà thơ có dịp lên tiếng lần đầu trên làn sóng điện phát đi khắp miền Nam ( Mặc Khách Sài-Gòn, 2014). Chuyện nghe thú vị hơn, vì đây có lẽ cũng là lần đầu, nhà thơ vốn mình hạc xương mai của chúng ta được thưởng thức thú đi xích-lô máy. Chiếc xe với tiếng động chẳng êm tai, từ chỗ ở tạm vùng Hòa Hưng lao đi vun vút. Cái thú xen lẫn phập  phồng, hoảng hốt của người mới lần đầu được đi thứ xe này. Một xe trong cõi hồng trần như bay. Tài thơ hùng biện và uyên bác khiến, sau đó, ông có được một chương trình hằng tuần nói chuyện văn chương với thính giả.

Ngoài ra, nguòi trong cuộc còn được biết thêm cái tài chơi chữ thần tình của nhà thơ đất Bắc trong mấy câu thơ tặng

nợ tình chưa trả cho ai

khối tình sao khỏi truyền đài mang lên

một dây một buộc thêm phiền

không dây, không buộc mà nên mới là

( Sài-Gòn Mặc Khách, 2014)

Vào giao thừa năm Quý Sửu (1973), nhà thơ lại được “triệu vời” lên đài phát thanh. Lúc này, ông đã được cả miền Nam biết đến bằng tài thơ, và được tuyên nhận công lao đóng góp. Nhắn gửi về đồng bào phương Bắc, ông mong mỏi  mọi người “ giữ mãi hồn thơ” vì theo ông, “ bản chất của Thơ hòa-hài, bản thể của Thơ là nhất quán.” 

Lời người thơ mới xúc tích, thâm thúy làm sao. Khi mà ước vọng chung của xã hội thường được thể hiện bằng thuật ngữ, lại được thi nhân gói ghém trong phạm trù văn-chương.

Thi-nhân còn hứa hẹn rằng, vẫn thủy chung như nhất với nàng Thơ, vẫn giữ được “rung động giữa vạn biến một trái tim bất biến.”

Đáng chú ý hơn, một lần nữa, thi nhân xác nhận rằng, “việc chính yếu của tôi là làm thơ; còn việc dạy học chỉ là phụ-thuộc.” ( Bách Khoa, số 389, 2.4.1973.)

  44- CHÂN DUNG THỨ NHẤT

Gần như là cuộc phỏng vấn dài hơi của Nguiễn Ngu Í có cái tên ôm đồm, “Các Nhà Thơ, Nhà Viết Truyện, Nhà Soạn Kịch Sáng Tác Như Thế Nào ?” in trên Bách Khoa năm 1961 ( số 102, 01-4-1961) khiến người đọc có cảm tưởng Vũ vẫn còn là một khuôn mặt lạ với người đọc miền Nam, dù là kể từ sau cuộc di cư, nhà thơ Vũ đã lần lượt cho in: Hoa Đăng ( 1959), Cảm Thông ( 1960), Tâm Tình Người Đẹp (1961). Chỉ tính tới Tâm Tình Người Đẹp, tâm hồn, rung cảm, suy tư của Vũ đã biến chuyển nhiều so với mấy thơ đầu. Vũ tỏ ra đã chấp nhận thực tại, dù theo cách riêng, hoặc để đi sâu thêm của thế giới riêng bằng con đường thực tại.

Nói thế, vì người phỏng vấn được tiếng là cần mẫn, sắc sảo là Nguiễn Ngu Í cũng không đi xa hơn cái không khí thơ tiền chiến của nhà thơ, dừng lại khá lâu với một câu của mười-hai-tháng-sáu và mối duyên đầu trắc trở.

Dẫu sao, người phỏng vấn cũng không phụ người khi giữ được trọn vẹn cái ý của người mà một đời chỉ đề làm thơ. “ Tôi làm thơ là để nguyện cầu. Tôi cho mình vốn ở một vùng thanh khiết xa  xôi bị lạc nẻo xuống trần gian đầy bụi đầy ma này, cần cầu nguyện để sớm được trở về..”

Tấm chân dung Vũ hầu như vẫn nguyên mầu, dù qua bao năm thử thách, lung lạc. Vũ vẫn giữ vững đạo sống, đạo thơ như người bảo vệ chân lý. “ Tôi đã giác ngộ đạo thơ. Rồi từ đây, tôi bước những bước  vững vàng trên những bậc thang có thực và bất di bất dịch, trong khi vũ trụ hư ảo quay cuồng hỗn loạn quanh tôi, dâng hiến cho tôi bao nhiêu cảnh tuyệt diễm luôn luôn đổi khác và tân kỳ .” ( Nguyễn Đình Lạp ghi, Tiền Phong, số 23, tháng 11.1946.)

 

45- MƯỜI TÁM NĂM

Với nhà thơ Vũ, thơ tình không chỉ có chuyến khởi hành duy nhất trong tuổi thanh xuân và trở thành con tàu đẫm lệ khi rời ga vào mùa thu tháng sáu. Sau, theo sự giục giã của ký ức được nuông chiều, không chỉ thơ tình được tuyển lưu thành tập riêng ( Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, 7.1970) mà 17 bài thơ tình viết trước năm 1940 cũng có chỗ bên cạnh những người em diễm lệ đã được khai sinh trước và được dành cho vị trí nhất định trong thơ  ( Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, 8.1971.)

Tình đeo đẳng thật thủy chung, đến mức, với một số người, đã bằng vào thơ để xét xem mức độ  thiết tha, đau xót của buổi đầu đã biến chuyển ra sao hơn là tìm kiếm những bước đi nào mới theo chân người thi sĩ.

Lựa chọn tình yêu, không chỉ trở thành quyết định sau cùng của thi nhân với sự nghiệp thơ, mà còn là sự thắng thế của trào lưu rung cảm tưởng đã cạn nguồn. Dường như thi nhân hiểu rằng sự dằn vặt triền miên của ký ức đã thúc đẩy người đến với cái bị chôn vùi với ảo tưởng ban đầu của con người tin rằng có thể thay thế tất cả bằng cơn trường mộng. Từng sớm,Vũ tung cánh buồm Say ra ngoài cõi biển mịt mùng. Hằng đêm,Vũ giục lòng đợi đón người xưa đi về từ trang sách ước. Thế giới riêng của Vũ xây dựng duy nhất bằng ước mơ, khát vọng và giờ được thu hồi bằng mệnh lệnh của trái tim. Trả lại mệnh lệnh của Thơ cho trái tim, không có nghĩa thi nhân cùng lúc rời bến trầm tư mà người xem việc neo lại đồng nghĩa với mở thêm biên cương thơ đến những biên vực xa xăm, khuất nẻo.

Ít nhất là hai năm cuối của một đời thơ, thơ người đi xa hơn vào cõi trầm tư siêu hình trong tương quan giữa con người và vạn hữu. Ba Kiếp Lang Thang với cõi nhân sinh đương đại. Tố Của Hoàng Ơi, Hỏi Làm Chi với truyện lòng xa dần tính vị ngã.

Rõ rệt, những vấn đề trên lớn dần trong hồn thơ. Lớn dần mà không phải là sống sót với thời gian.

Còn tình yêu. Được thăng hoa trong ký ức đặc biệt, được tồn trữ với hy vọng vĩnh cửu với đời ( Vườn Trắng Thơ Vàng.) Không phải là duy trì như nguồn cảm hứng được tài bồi duy nhất.

Tình yêu mà Vũ tuyên xưng từ nghĩa vụ với trái tim mình là một thứ di sản được liệt hạng để giữ gìn, không còn là hiện thân của mối đổ vỡ đau thương từng được người đặt vào đài thương tưởng tiếc.

Mười Tám Năm cũng như Vườn Trắng Thơ Vàng mang cùng nội dung mô tả vẻ nên thơ của cuộc tình cùng triển vọng mở ra dưới ánh xuân tươi.

Mười Tám Năm và các bài thơ đồng dạng có vẻ mang ý nghĩa sự hồi sinh của thơ qua nhịp đập của trái tim kẻ tình nhân đương độ.

Anh biết em không còn

nụ cười trên môi son

như mười tám năm trước

hai mảnh gương vừa tròn

anh biết em không mong

giờ hẹn nào say nồng

như mười tám năm trước

mỗi tuần ta ngóng trông

vì đã tan hoang rồi tiếng sét

vỡ đôi trời biển xé đôi lòng

có trăng cũng chỉ là trăng khuyết

cả bên này sông bến ấy sông

 

Anh biết rằng hôm nay

Em không ngồi vẽ mây

như mười tám năm trước

còn nhau trong vòng tay

Anh biết rằng bây giờ

Em không nằm đọc thơ

như mười lăm năm trước

còn nhau chung gối mơ

trời thu hoảng hốt sau cơn lốc

mưa một bờ chênh nắng một bờ

tầm tã hoa ngâu Hà nội khóc

phương Nam đứt ruột cỏ bồng khô...

 

Bỗng dưng lòng nhớ điên rồ

Tóc thề vây kín giấc hồ đêm qua

Mới hay nhớ Bắc nhớ Hà

Bao năm rồi, cũng chỉ là nhớ em!

Sài gòn cuối Tân Hợi (1972)

( Mười Tám Năm, Vấn Đề, xuân Nhâm Tý, 02.1972)

 

46- TỐ CỦA HOÀNG ƠI

Năm mười hai tháng, ai không biết

Đã tháng nào không tháng Sáu chưa ?

Tháng có ba mươi ngày để giết

Ngày Mười Hai vẫn sống như xưa !

 

Lịch treo giữa ngực kêu thành tiếng,

Chẳng tiếng nào nghe khác tiếng mưa

Rả rích từ hôm con én liệng

Vào lồng son, tủi áng mây đưa

 

Thời gian từng giọt buông theo máu

Lại trở về, không gọi cũng thưa

Còn đó Mười Hai, còn tháng Sáu

Ba mươi năm lẻ vẫn chưa vừa !

 

Còn khóc trong tim này bất tuyệt

Chừng như rối loạn cả đường tơ ?

Trăng-nhà-ai vẫn là trăng khuyết

Đứng sững từ đêm ấy đến giờ

 

Ngày mai ngày mốt anh nằm xuống

Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp Thơ

Đập nát ra cho trời đất uống !

Thì em sẽ rụng khỏi Đêm-mờ

 

Phút giây Trăng-một-phương tròn lại

Rồi tự hòa tan Rượu-đắng-mơ,

Cùng nhịp tim trôi vào tận cõi

Không ngày không tháng không bơ vơ

 

Mười Hai Tháng Sáu, cung Hồ Xế

Một mối tình si một mối thù

Giây phút cũng tan thành biển lệ

Trả cho cát bụi, nhé Kiều Thu !

( Vũ Hoàng Chương, Tố Của Hoàng Ơi, Văn, số 204, 1.8.1972)

 

Tính đến khi nhà thơ Vũ viết bài thơ trên, mối đau vì tình đầu đổ vỡ đã tròn 30 tuổi. Thói thường, ít ai tính tuổi của sầu thương, riêng Vũ  luôn nhớ đến như không quên ngày hoàn táng một nỗi đau còn nguyên khối.

Khởi thủy tiếng khóc cho tình của Vũ đã có vẻ khác thường. Nó đã đi ngược chiều đồng hồ thời gian để mang âm hưởng Trang Chu trong tiếng gõ chậu mừng việc rời bỏ cõi tạm. Như thế, ngay từ đầu, tiếng khóc ấy không là giọt lệ từ ly. Vũ khóc đấy, tiếc đấy nhưng là khóc cho chính mình còn chịu cảnh giam chân trong vòng thương nhớ hão huyền của thế nhân. Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp. Khúc cổ bồn ca gõ hát chơi. Mười-hai-tháng-sáu chỉ là bài ca gõ chậu nửa vời vì Vũ còn khắc khoải đắm chìm trong sầu nhớ.

Mối sầu nhớ này đi theo, bám chặt Vũ, như hơi thở, như giọng buồn trong thơ đồng thời nhắc nhở chàng như nghĩa vụ của một khách lụy tình. Không chôn cất tình bằng việc mai táng trong nguôi ngoai, quên lãng, sau khi đã thiết lập một đài tưởng tiếc bằng thơ, mà bằng một giải pháp có sự tham dự nhiều hơn của trực giác mẫn cảm của thi nhân.

Từ đấy cho đến 30 năm sau, một thời điểm mà người thi sĩ đã đặt để cho sự xuất hiện tiền thân, người đã tìm được hướng an bài cho cuộc tình phần nào không hoàn toàn tương tự như sơ đồ Trang Chu định liệu lúc ban đầu.

Cái cảnh giới để cuộc tình đổ vỡ được sáp nhập là tâm giới được bình lặng, khoan hòa. Là cái cõi vô sắc, thoát ly khỏi mọi giới hạn, buộc ràng. Hơn thế, xa rời hẳn những ý niệm hoang đường về chúng

phút giây Trăng-một-phương tròn lại

rồi tự hòa tan Rượu-đắng-mơ,

cùng nhịp tim trôi vào tận cõi

không ngày không tháng không bơ vơ

Giây phút ý thức bừng sáng trên không chỉ thu hẹp cho mối hận tình đeo đẳng ba mươi năm, mà còn là thời điểm đáng ghi nhớ của người chứng ngộ được sau đoạn đường nhọc nhằn, sầu thương phải trải.

Ánh sáng ban mai của nhận thức đã làm tan bóng nguyệt-một-phương, lay tỉnh giấc mơ đắng vị, đưa chuyện tình cay đắng tháng sáu vào hàng huyền truyện thế gian.

Cũng cần phân biệt gánh nặng tâm tư của người thi sĩ nhân cuôc tình gẫy đổ với những khúc tình ca được thi nhân tha thiết trong lòng và nâng vào hàng di sản. Những tình khúc gấm hoa rải rác trong suốt một đời thơ. Những tình khúc là những vinh ca cuộc đời và cuộc tình cùng ánh huy hoàng của tuổi xuân người thi sĩ. Những tình khúc nhằm đặt vào hàng huyền thoại một chuyện lòng như Phố Cũ, Mây Suối Về Đâu, Tuổi Xanh ( Hoa Đăng), Bơ Vơ, Ấm Lạnh, Mộng Ngày Mưa ( Trời Một Phương), Cành Mai Trắng Mộng, Gấm Hoa, Bảng Vàng Hoa Tím ( Cành Mai Trắng Mộng. Là những phiến mây hồng ngây ngất tâm hồn được hồi tưởng để tái chiếm hữu thời gian và không gian đã mất. Với năng quyền của Thơ, thi nhân ân cần lọc lựa riêng kỷ niệm hồng để mai sau đặt vào trang sách ước

 47- TRỞ VỀ  

Gần như một bản trường ca về sự có mặt của con người nguyên thủy trong chuyến trở về nằm trong dự phóng của thi nhân sau chuyến đi hoang về nẻo luân hồi. Thơ rất ít khi thiết lập được một lộ trình suy tư như thế cho con người dù biết họ ao ước được nuôi dưỡng bằng những giấc mơ của sông của biển. Lấy nước làm một thứ dung môi hòa quyện với thiên nhiên và giao tiếp với vạn vật, họ - đại diện cho người thời đại này ta có Chử Đồng Tử và Tiên Dung - những người đầu tiên có ý thức trở về cõi mà họ đã ra đi như những vì sao lạc.

Thơ đã sắp xếp cho họ trở về như loài chim trốn tuyết, như những kẻ trần gian đi lạc, như những người chán vị cao lương.

Nhưng, riêng thi nhân hoài bão ở cuộc trở về tìm lại được nguyên vẹn tình xưa khi cái ta vẫn còn nguyên vẹn.

Như thế, cuộc trở về của thi nhân nằm trong ý thức tiên khởi về sự hồi sinh của cuộc tình vốn đánh đắm lòng người từ lúc xuân xanh. Trong dự phóng đường về, thi nhân đánh đổi luân hồi lấy cái đã dìm chàng xuống chốn-bị-nguyền. Cùng với Gấm Hoa, Bảng Vàng Hoa Tím, Mười Tám Năm, Trở Về là những tân khúc dành ca ngợi cuộc hồi sinh của Tình bằng việc chôn lấp hình ảnh thê lương của cuộc tình lỡ. Tình sống lại trong hiện kiếp như hình tượng mai nở hai lần trong một mùa hoa.

Đây là chặng đường cuối của thơ tình, một sinh lộ cho cuộc tình mà ở đa số trường hợp đều lún sâu trong đau thương, tưởng tiếc. Trở Về gia tăng màu sắc triết lý cho cuộc hồi sinh như huyền truyện tình yêu được ấp ủ trong chiếc nôi dân tộc

Đã phá đứt tung

mọi dây trói mọi rào đơn lưới kép

đã xóa bỏ những vòng đai chật hẹp

những phù hoa lồng kính đóng khung

và đã trở về...

đâu cần mở con đường không biết khép

cảnh nơi đây còn nguyên vẻ đẹp

của hôm nào ra đi

 

núi ngày cũ nghiêng đầu khoe tóc mượt

rừng thông vẫn tiếng reo xanh

lưng yểu điệu hòa theo màu cỏ mướt

vòng chân đứng vững như thành...

chỉ có tóc này pha sương

hai vai này với rất nhiều xuân để mang nhiều cát bụi

những bước đi này thêm nặng đau thương

kể từ xuống núi

giòng suối cũ chẳng cao lên cũng chẳng hao gầy

vẫn là gương mặt ngây thơ

giọng nói cười trong vắt

giữa vùng hoa dại kết nôi...

chỉ có ngàn tia hy vọng tắt

không hẹn phản hồi

chỉ có niềm tin nín bặt

trong đôi hố mắt này thôi

 

người yêu cũ nằm đây- trang sách mở -

thân đọng ngọc lung linh

hồn Chử hương dìu hơi thở

gợn châu thân từng vân ngọc đa tình...

chỉ có thịt xương này khô héo

tâm tư này siêu vẹo

qua nhiều cơn sốt mê tơi

của những mưu sinh, ứng thế, tranh hời

 

Chử Đồng Tử với Tiên Dung công chúa

từng khói mây vút cánh Bồng Châu

khói như tơ bạc mây như lụa

nhưng Bồng Châu...Bồng Châu... ai biết nơi đâu ?

và đâu chỉ một phương thần thoại ấy !

-một lứa đôi tài tử đất Phong Khê -

gẫm lại ngàn xưa ai chẳng vậy

chẳng ai không “trở về” !

“ Trở về, trở về..” ôi điệp khúc

mỗi giây phút như kêu đòi như thúc giục !

“ về đi thôi” Đào lệnh có vườn hoang

Tư mã Tương Như có bóng chim hoàng

Lưu Nguyễn có hoa đào nước suối...

Ai giác ngộ có bè Nam hải

Tham sân si cũng có vực Trầm luân...

“ trở về “, ai chẳng một lần !

 

Còn may cho ta

chốn cũ không già

cuộc trở về êm như bản Nhạc

đường về tạo lấy bằng Thơ

và Ta vẫn là Ta, dầu nghiêng lệch bơ phờ

núi vẫn nhận ra nhau. suối không hề oán trách

và Người Xưa... ôi Người Yêu trinh bạch

dám đâu ta gọi thức bao giờ !

( Trở Về, Vấn Đề, số 12, tháng 6.1968, in lại trong Cành Mai Trắng Mộng, 1969)

 48- MỘT GIẢI CHO THƠ

Nhà thơ Vũ vắng mặt trong hàng ghế dành cho những người  trúng giải Văn chương Toàn quốc 1959-1960 khiến người tường thuật cho Bách Khoa là Nguiễn Hữu Ngư ( tức Ngu Í) phải đi tìm hiểu lý do khiến nhà thơ không đến dự. Một tác giả khiếm diện nữa là Hoàng Trọng Miên, người được giải ba về tập biên khảo Việt Nam Văn Học Toàn Thư, một cuốn sách gây dị nghị về phương thức sưu tập và sử dụng tài liệu của người đi trước.

Sự vắng mặt của nhà thơ khi nhận bằng chứng-nhận cũng như vắng tên trong ban giám khảo tưởng cũng là điều dễ hiểu. Trong giải Văn Chương Toàn Quốc đầu tiên, 1957, do Văn Hóa Vụ tổ chức, nhà thơ Vũ đã có mặt trong ban “giám khảo” bên cạnh nhà thơ lớp trước Á-Nam. Vào giải vài năm sau, 1960-1961, ông cũng có tên trong tiểu ban chấm thơ cùng với Đông Hồ và Thanh Tâm Tuyền và sau đó hầu như nhà thơ không vắng mặt trong ban tuyển trạch giải  văn chương nào dầu danh hiệu, tổ chức và thể thức tuyển chọn có thay đổi.

Buổi lễ trao bằng trúng giải diễn ra vào ngày 6-4-1961 tại một địa điểm giữa Thủ đô  nhưng nơi tổ chức là Phòng Thông-Tin Đô-thành, thật khiêm tốn so với một nơi xứng hợp dành cho giải thưởng quốc gia.

Cuốn Hoa Đăng ( Văn Hữu Á Châu, 1959) của nhà thơ Vũ được giải duy nhất, hạng nhì, chọn trong số 50 tập thơ dự giải. Hội đồng giải thưởng gồm Trương Công Cừu, Hà Như Chi, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ, Hà Thượng Nhân, Trần Hữu Thanh, Đỗ Đức Thu và TchyA Đái Đức Tuấn. Như thế, trong hội đồng có 3 nhà thơ. Hà Thượng Nhân dường như là nhà thơ chưa có tác phẩm in và Đông Hồ là người thuộc thế hệ thơ trên  so với Vũ. Ông được xem trong thế hệ Nam Phong của thời kỳ đầu nền văn học mới.

Có lẽ điểm hữu công của Giải thưởng năm này là  ghi nhận được sự có mặt của mấy nhà văn được giải sau này trở thành những tên tuổi lớn. Bình-nguyên Lộc với truyện dài Đò Dọc ( giải nhất), Vũ Khắc Khoan với tập truyện Thần Tháp Rùa ( giải nhất đồng hạng), Võ Phiến với Mưa Đêm Cuối Năm ( giải nhì đồng hạng.)

Giải thưởng Văn chương nước ta phải chịu cảnh truân chuyên như bất cứ một định chế nào trong nước.

Kể từ năm 1970, giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Tổng thống được mở rộng bao gồm thêm nhiều bộ môn nghệ thuật.

Cần nói thêm là giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1974 được phát động tổ chức vào tháng 9 năm đó,  riêng về bộ môn thơ, những người tham gia ban tuyển trạch gồm: Cao Tiêu, Phan Văn Dật,  Trần Tuấn Khải, Tạ Ký và Bàng Bá Lân. Hai nhà thơ Nhã Ca và Nguyên Sa từ chối tham gia.  Riêng nhà thơ Vũ – trưởng tiểu ban thơ của nhiều năm trước -  không có mặt trong ban tuyển chọn ( Văn, số ra ngày 15.11.1974.)

Những báo chí, tạp chí tìm được, không một hàng đề cập đến giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1974, ngoại trừ mẩu tin ngắn ngủi trên giai-phẩm Văn. Riêng, Văn Học số Mùa Xuân 1975 ra ngày 20.1.1975 ngoài việc ghi thêm sự từ chối vào ban tuyển trạch của Vi Huyền Đắc, Vũ Khắc Khoan ( bộ môn kịch), còn thêm rằng “ giải thưởng văn học nghệ thuật vẫn tiếp tục vì vẫn có một số văn nghệ sĩ tham gia vào việc chấm giải và trong việc đem tác phẩm dự thi.” ( Đào Huy Đán ( một bút hiệu khác của Hồ Trường An), Nhìn Qua Một Năm Văn Nghệ Miền Nam.)

Như thế,  phải chăng sự tuyên dương văn học nghệ thuật đã chấm dứt trước khi nền văn nghệ hiển vinh đi đến chỗ cáo cùng.

Xin ghi thêm rằng nhà thơ Vũ đã được Trung Tâm Văn Bút, qua vị chủ tịch Thanh Lãng, đề cử dự giải Nobel Văn Học năm 1972.  Theo quy định, 50 năm sau,  tháng 2. 2022, Hàn Lâm Viện Thụy Điển mới công bố danh sách đầy đủ những vị được đề cử.

Nói thì vậy, người trong cuộc cũng tìm cách đưa tin theo cách riêng. Trong bài viết về tình trạng đời sống một số người cầm bút đương thời trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học năm đó, tác giả ghi nhận rằng: “ ...một nhà thơ làm say mê cả một thế hệ trẻ, và từng được rất nhiều người đề nghị làm ứng viên Giải Nobel đang sống tất tưởi ở vùng Bàn Cờ. Nhà thơ này mấy hôm nay có nói với tôi :” Đói quá, mệt, đau hoài nói không ra tiếng nữa, mà cứ phải mỗi tuần dạy 15 giờ văn chương cho một Trường Trung Học ! Dạy mãi kiểu này muốn chết gục ở lớp quá như kiểu Đông Hồ, mà bỏ dạy thì cũng chết luôn ! Nghề tôi đâu phải để viết báo, vậy mà bây giờ viết cho hàng lô báo. Dừng viết một ngày là mẹ đĩ phải dừng đi chợ .” ( Thanh Lãng, Chỗ Đứng Của Người Làm Văn Hóa Trong Xã Hội Việt-Nam, Nghiên Cứu Văn Học, số xuân Nhâm Tý, 1&2. 1972.)

Sau cuộc di cư năm 1954, nhà thơ có cộng tác với nhật báo Tự Do. Ông viết cả thơ lẫn truyện. Sau đó, ông phụ trách mục Thơ và Thi Nhân trong báo này số cuối tuần.

Việc ông tiết lộ viết báo như trên khiến cho bao người đọc ông cảm thấy thiệt thòi về chỗ khuyết lạc trong văn chương mà người thi sĩ đương thời chỉ muốn để lại bằng khoảng trống.

 

49- MÀU TRI ÂM

Có lẽ chỉ người nghệ sĩ mới đủ tinh tế để khám phá ra màu thời gian, rồi nay là màu tri âm.

Tập thơ Rừng Phong của thi sĩ được Phạm Văn Tươi xuất bản tại Sài-gòn năm 1954 có lẽ cũng là do duyên tiền định. Tập thơ ra đời tại miền Nam trước khi nhà thơ và gia đình đặt chân đến Sài gòn.  Không rõ có ai sắp xếp để tập thơ đóng vai sứ giả báo trước việc nhà thơ có mặt trong đoàn người xuôi Nam. Nhưng việc khá bất ngờ cũng như lúc Thanh Nam đưa chuyện nhà thơ họ Vũ chân ướt chân ráo nhắn tin vừa có mặt ở Chợ Cũ, vào mấy dòng chót của tập hồi ký dở dang.

Quả là bấy giờ chủ trương và quan niệm văn nghệ phục vụ nhân sinh, xã hội của nhóm Chân Trời Mới và cả Triều Sơn đã chiếm ưu thế. Thơ Vũ và xu hướng của Vũ nhanh chóng thành ngược dòng hoặc lẻ loi hay xa lạ. Trong sự hững hở nơi vùng đất mới, chỉ có tiếng nói Bùi Giáng là  tách bạch, đầy tình nghĩa. Không còn là bênh vực, biện hộ trên diễn đàn hay trước công luận, mà là tiếng nói của trái tim và khối óc một người làm thơ thủy chung với lòng

“Tôi vẫn tin rằng Vũ Hoàng Chương có thể đã sống và đương sống một đời tầm thường, có thể nhạt nhẽo, có thể bê tha, nhu nhược...Điều ấy không cấm ông nuôi giấc mộng riêng nồng nàn, riêng mà rất chung. Chung cho cả một thế hệ người đương quằn quại... Nó xoa dịu một nỗi gì. Nó giúp người thoát khỏi một cái gì để an lòng mà trở về với thực tại.”  Tô Kiều Ngân, sau này, cho biết, ông và Thanh Nam đã nhận tận tay bài viết trên của Bùi Giáng  tại tòa soạn để đăng vào Thẩm Mỹ ( Tô Kiều Ngân, Mặc Khách Sài gòn, Hồng Đức, 2014.)

Hai mươi bốn năm sau, Vũ, nhớ đến mối giao cảm xưa, cho in trong Ngồi Quán, thi tập gần như sau cùng ( Lửa Thiêng, 1971) những vần viết tặng tri âm ngày 25.12.1968

Hương Màu Tri Âm

Biết nhau từ nhuốm rừng phong

Trắng cành mai chẳng phai giòng thơ xưa

Mai còn giáng bút, hương đưa

Màu thăng hoa, tuyết còn thưa cuối trời

Cho đến vào một ngày tháng 4 năm 1974, Nguyễn Hữu Nhật tìm cách đưa Bùi Giáng đến Gác Mây nói là để xin lỗi Vũ.  Hai tài thơ gặp nhau. Hi hữu như tại hội quần hùng. Hai dòng sông chảy bên nhau dù chẳng bao giờ hợp dòng. Cuộc gặp mặt được Nguyễn Hữu Nhật ghi lại trong tấm hình và trí nhớ chú thích rành rọt. “ Trong hình, ông ( VHC) không chải tóc rẽ đường ngôi,  mặcáo dài nâu đón bạn thơ lại thăm như mọi khi. Má hóp, đầu rù, nhăn chân chim những đuôi con mắt. Xương xẩu đẩy vai áo ngủ nhô cao. Bùi Giáng nhìn chén trà trên tay bạn run rẩy. Khóc.” ( Nguyễn Hữu Nhật, Làng Văn, số 109,15.9.1993.)

Năm 1969, nhà Ca Dao in cuốn Đi Vào Cõi Thơ 2 của Bùi. Trong mấy chục nhà thơ cổ kim tiền chiến hậu chiến kể cả các bậc hiền triết được nhắc tới trong sách, phần Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng dành có mấy hàng:

“Đá đâu lên tiếng thay vàng

Gỗ đâu mớ mắt hai hàng bạch dương

Nhiều người đã nói đến thơ ông Vũ Hoàng Chương. Tại hạ còn biết nói thêm được lời gì bây giờ

Có lẽ vì thế mà Nguyễn Hữu Nhật cho rằng cần đưa Bùi Giáng đến gặp nhà thơ Vũ.

 Vũ Hoàng Chương ( trái) và Bùi Giáng

 

50- TÌNH VỚI ĐÔNG-HỒ

Vũ có duyên gặp mặt Đông Hồ nơi đất Bắc khoảng 1952, 1953 tại nơi trú ngụ trong “ vùng cỏ áy nước ao tù “ cạnh hồ Giám, Hà-nội. Chuyện được Vũ  thuật lại trong bài văn khóc Đông Hồ được in trong số Văn tưởng niệm Đông-Hồ ( số 145, 01.01.1970.) Bài văn chân tình ấy, sau được lập thành một thiên riêng biệt trong cuốn hồi ký được xuất bản của nhà thơ.

Nhưng, đấy là lần thứ hai Đông Hồ cùng Mộng Tuyết ra thăm Hà-nội, có được cảm hứng để viết bài thơ dài Thăng Long Hành. Lần thứ nhất ra Bắc, 1939, Đông Hồ cũng với Mộng Tuyết, khi đó mới chỉ là người em vợ. Chuyến tiễn đưa tại ga Hàng Cỏ giữa buổi nhiễu nhương ắt hẳn gây ít nhiều bùi ngùi, khiến Nguyễn Tuân viết nên những trang tùy bút để đời, Những Ngọn Đèn Xanh, ghi thời điểm viết vào thu phân 1939 ( Toàn Tập, tập II.)

Buổi gặp gỡ ngắn ngủi giữa 2 nhà thơ nam-bắc đánh dấu duyên tao ngộ bền bỉ về sau trong thú vui xướng họa.

Nhưng, duyên tao ngộ đã có mà duyên văn chương thì khúc mắc hơn. Bởi vì trong cuộc hội hữu năm 1965, vẫn thấy vắng thi nhân Vũ. “ suốt buổi sáng đến quá ngọ, trầm trong lò hương đã nhạt, trà trong ấm đã dợt mà  những Nguyễn Hiến Lê, Đỗ Bằng Đoàn, những Giản Chi, Đông Xuyên, những Hư Chu, Vi Huyền Đắc, Bùi Khánh Đản, cũng như những Thiếu Sơn, Trọng Toàn, Thọ Xuân, Trần Sĩ, những Lê Bạch-như, Lê Kim Chi và cả những Ngu Í và những ai ai nữa, đứng lên từ giã .”  ( Bách Khoa, số 204, 01.7.1965)

Thế mà sau đó, duyên văn đã khiến nhà thơ Vũ lặn lội hai chuyến xe lam đến tận thư các Đông Hồ để trao đề thơ, hệt như phong cách của giới nho gia sính thơ thuở trước.

Đông Hồ mất (26.3.1969),  thi nhân Vũ khóc nhà thơ Đông Hồ bằng thơ, gợi ra âm hưởng Nguyễn Khuyến khóc người bạn Dương Khuê.  Mấy thế hệ cổ học thừa kế nhau cả trong tiếng khóc

Ba năm, ba tiếng ô hô

Đinh Hùng, Mai Nguyệt, Đông Hồ nữa đây

Bút thơ đã xác xơ gầy

Lệ như sương lại vơi đầy sầu xuân

Tưởng khi rẽ nẻo dương trần

Không còn ai nữa gieo vần khóc ai

Mà toan mây khóa rừng mai

Gió ngăn cánh hạc bay dài thiên thu

Nhưng ngoài kia bụi mịt mù

Người đi âu cũng đừng tu hơn mình

Tháng hai ngày tám đăng trình

Là theo Đức Phật vong hình xuất gia

Đông-Hồ ơi hỡi bạn già

Hồn Trinh-Trắng cõi Ta Bà vượt thôi

Bè Từ đua bạn về ngôi

Lắng nghe Dực, Chẩn, bồi hồi một phương

Sầu lên đình Vương-Giả-Hương

Khói dâng thơ Vũ-Hoàng-Chương nghẹn ngào

Nam-đô năm Kỷ -Dậu

( Khóc Đông Hồ, tạp chí Văn, số 145, 01.01.1970)

Duyên gắn bó nhà thơ với Đông Hồ là mối  duyên xướng họa giữa hai tâm hồn đồng điệu. Cách biệt tuổi tác ngót mười năm không là điều ngăn trở. Nhất là thời điểm Đông Hồ nổi danh với bài ký khóc vợ trên Nam Phong (1928)  thì hơn mười năm sau, Vũ mới cho ra đời tập thơ thứ nhất, Thơ Say (1940.)

Cuốn hồi ký cũng chép lại việc, sau rằm tháng giêng năm Kỷ-Dậu (1969), nhà thơ Vũ đã vượt hai chuyến xe lam đến tận Quỳnh-Lâm thư thất để trao đề thơ. Nhưng Đông Hồ lại là người duy nhất không cho các bạn thơ đọc và nghe thơ mình nữa.

Ngày 4 thảng 3 – 28 ngày sau Đông Hồ mất, trong buổi họp thơ của thi hội Quỳnh Dao, nhà thơ Vũ đọc thơ nhớ bạn. Thơ và bài viết in trong số Văn dành tưởng niệm Đông Hồ ( Văn, số 145, 1.1.1970.)

Trăng chiều in đó nét mày ai

Nhạt tiếng gà trưa sắc nắng mai

Ngày tháng góp nên thơ bảy chữ

Sông hồ quẩy tới rượu hai vai

Gió không thét nữa roi cầu Vị

Mây đã về quanh tiệc bến Sài

Tình bạn như hoa tùy hứng nở

Đông-Quân có hẹn nỡ nào sai

                   000

Ôi mười hẹn một đơn sai

Chỗ ngồi năm trước bóng ai đâu nào

Hương càng gây...Thơ cùng trao

Mà quên Rày-ước-mai-ao cho đành

Hồn lai hề phong lâm thanh

Ngọc nhân lai hề lạc hoa vô thanh

Vạn đội tửu binh hề nan phá sầu thành

( hồn tới chừ rừng phong xanh

người ngọc tới chừ hoa rụng không tiếng

muôn đội binh rượu chừ khó phá thành Sầu)                      

                      000

Trên tiệc các bạn cũ

Ai là không hoài cảm giấc phù sinh

Đại-Ẩn ẩn hà xứ

Cao ngâm trường bất bình

Nhìn nhau mình lại thương mình

Trầm xây Vương-giả-hương-đình rối tơ

Phải chăng giữa đợt khói mờ

Tay ai giáng bút qua bờ Âm-Dương.

 

Năm sau, cái buồn chưa nguôi, nhà thơ Vũ, lại tiếp dòng lệ sót

....

Cài đầu hoa cúc...lại hoa đào

Gió vút đường mây đẹp biết bao

Đủ cả vàng son trên mái tuyết

Rừng xanh ải tối thỏa tiêu dao

 

Chơi xuân đất này không cỏ non

Thơ không vàng nữa, ấn không son

Hỡi ơi, lòng chợt đau như cắt

Một nụ cười xuân, cũng chẳng còn

( Xúc Động Cuối Năm, Bách Khoa, số 315, 15.2.1970)

Hai năm nữa, nhân ngày Đại Tường của Đông Hồ ( 27.3.1971), Mộng Tuyết xuống tận Kiên Giang dự đêm du-ca tưởng niệm Đông-Hồ, ghi lại một bài ký thuật-sự  thật chí tình ( Bách Khoa số 344. 1.5.1971.)

Riêng Vũ Hoàng Chương, trước ngày giỗ cuối ba hôm, đã viết bài thơ thứ ba khóc bạn. Thơ gợi ra mấy nơi trong sân nhà từng lưu dấu chân chủ nhân và được Đông Hồ đặt tên ( đình Hương, vườn Úc), vài tác phẩm của ông ( Đăng Đàn, Đêm Vẫn Liêu Trai), hội thắp đèn dưa được ông ghi lại ( Qua đăng).

Cách năm, ngày Tám tháng Hai xưa

Khóc bạn, lời thơ ai gió mưa...

Ải tối rừng xanh còn mộng đấy

Đình Hương vườn Úc đã về chưa ?

Nét son Ấn-nguyệt mây mờ tỏ

Giọng ngọc Đăng–đàn khói nhặt thưa

Đêm vẫn Liêu-trai như ý bạn

Thì khuya nay hẳn sáng vườn hoa

 

Hội Qua đăng lại thừa ưa

Vần gieo biếc mấy cho vừa hứng ngâm !

Chỉ e quan ải đen rầm

Thơ tan thành lệ ướt đầm rừng  phong.

Sài-đô ngày 5 tháng 2 Tân Hợi

( Vũ Hoàng Chương, Xuân Chợt Lòng Thu)

 

51- THƠ TỪ VƯỜN ÚC.

Dưới cái nhìn của một thi nhân như Đông Hồ, thiên nhiên nếu không được thành thơ thì ít nhiều

cũng được thi vị hóa. Quanh nơi ở của nhà thơ cũng có cái hân hạnh khoác những mỹ danh. Căn gác điểm mấy giò phong lan được phong làm Vương-giả hương đình. Mái lầu có ánh trăng xế được gọi Tân Nguyệt Hiên. Mảnh sân nho nhỏ với mấy chậu hoa cũng được mang danh Úc viên.

Theo Hồ Trường An, khi rời về an trú tại vùng Tân Sơn Hòa, sau khi Đông Hồ tạ thế một thời gian, riêng Úc viên đã có vẻ một vườn hoa xinh xắn. “ ...thu gọn trong vạc đất chừng hai mươi thước vuông trồng khóm bồ công anh hoa lấm tấm màu hường dịu, những khóm hoa huệ lan hoa đỏ tía, lá óng mượt, những cây thạch lựu cành lá mềm mại khi hè tới trổ hoa đỏ và đầu thu kết thành những trái lựu vỏ mầu nâu hồng rám nắng (...) Đặc biệt nhất là cây mai thúy vũ, một loại sơn mai, hoa cũng như mai thường với năm cánh tròn xinh ốp chung quanh tua nhụy, vào gần tết có con chim lông xanh ( thúy vũ) đến hót là mai trổ hoa, khỏi cần lặt lá.” ( Giai Thoại Hồng, 1989.) Cảnh tuy thế nhưng không giấu được nét sầu của người quả phụ và gieo rắc buồn đến cả cỏ cây. Úc viên đã phảng phất cảnh già lam.

Ngày 22.5 Nhâm Tý (1.8.1972), ở gác trên, nhà thơ Vũ nghe tin Quỳnh nở hoa, nhờ thơ gieo vần giao cảm. Thơ không mang sáo ngữ mà gợi dậy ký ức lung linh hoài cảm.

Thi nhân gọi “Gác khói” có lẽ vì khói là tiền thân của mây, nhỏ nhoi và quanh quất, phù hợp với công việc nội trợ bếp núc của bà Thục Oanh. Gác Khói được viện cầu như một hoán dụ, khi cần nhắc đến bà Thục Oanh. Cũng như Gác Mây, trong vị trí  như trên, để chỉ nhà thơ Vũ. Và, thân làm khách để chỉ thân phận người nương náu.

Thi nhân cũng dùng hoán dụ trên, sau này, trong Mười Bài Đối Cảnh. Hoa Lụa từng xuân Gác Khói đằm  / bóng nga còn xế Gác Mây thăm / Trao cây lụa tiếp màu hoa kết  / Giục cánh hoa sang áo lụa nằm. Để thuật lại những chuyện vừa xảy ra, trong và ngoài căn gác hẹp.

Gác khói nghe Quỳnh nở Úc viên

Theo chuông chùa tới giấc sầu miên

Thương vùng bão rớt thân làm khách

Cảm thấy hoa bay mộng ghé thuyền

Nửa mái trăng treo vần xướng họa

Năm Đinh Mùi nhớ buổi hàn huyên

Còn gây hương mãi cho thi tứ

Hốt nhập phong vân hốt nhập thiền

Đinh Mùi (1967) là năm họp mặt thơ vào cuối thu với đề tài  “trùng cửu trao thơ”                                 

Đông Hồ làm 4 bài thơ Luật ( theo Vũ Hoàng Chương, Văn, số 145, 1.1.1970)

Thơ họa của Mộng Tuyết thất-tiểu-muội không rời tâm sự của người vị-vong và hướng về giải- thoát

Cỏ úa hoa gầy cảnh Úc viên

Lầu trăng say giấc mộng triền miên

Chợt nghe vi vút trầm hương nhớ

Chỉ để đìu hiu bến đợi thuyền

Duyên gặp khuyên tròn câu đỗ vũ

Đường về hận lỗi tiệc hàn huyên

Quỳnh hoa đóa ngọc đôi phen nở

Thoang thoảng hương thơ ngát vị thiền

12 tháng 6 năm Nhâm Tý

20-VIII-72

 

52- MÌNH CHỈ SAY MÌNH ĐÓ THÔI

Bài ca Tận-Túy đi hoang

Biết đâu Hoàng lại gặp Hoàng chiều nay

Vẻ nên độc dược mà say

Hóa công chưa dễ khéo bày đặt hơn

Gió trăm cơn bụi ngàn cơn

Một cơn say đủ sạch trơn thế tình

Nguyện trường túy bất nguyện tinh

Say ai ? Mình chỉ say mình đó thôi

Túy-ca dù đã thôi rồi

Túy-hương xưa hãy cùng trôi ngược về

16.6.1972

( Vũ Hoàng Chương, Túy Ca cảm đề)

32 năm sau khi Thơ Say (1940) ra đời, bài hát Say, Túy Ca, không thể là lời phụ họa hay tiếng vang, âm hưởng. Năm đó, Thơ Say là tiếng nói thay lời cho một thế hệ lạc loài và buông xuôi. Cái say từ đó xác định thêm một thứ bản ngã của người tài tử.

Còn Túy ca là lời của người mượn chén người đi trước để nói chuyện với riêng mình, cùng lắm với chiếc bóng. Say ai ? Mình chỉ say mình đó thôi.

Với người say này, tình là chén độc phải cạn nên người không có hạnh phúc để say

tình yêu làm chết con người

nâng ly độc dược tôi mời tôi say

Đồng hóa tình với cái chung cuộc của cuộc đời, kết luận của người phụ nữ làm thơ là hậu quả của một tâm hồn giản dị nhưng dồi dào ảo tưởng.

Thái độ của người làm thơ này là sự từ khước kinh nghiệm làm người trong trắc trở

tuổi tình đáy cốc cuồng quay

tôi giết tôi để tháng ngày nguôi quên

Hơn ba mươi năm sau cái say tiêu biểu thời đại đã qua, người ta không đợi một tiếng vọng xa xăm vì mỗi thời đại có nhịp cười chuỗi khóc và những trăn trở riêng. Có chăng là gợi được mối thông cảm xa xăm khi cùng chung chén đắng.

Không nói đến sự cách biệt trong phản ứng khi thất vọng bẽ bàng, thi nhân chỉ ra quan niệm về cái say như được thành hình từ việc tỉnh thức. Một cơn say đủ sạch trơn thế tình. Say không còn là quên, là từ chối thực tại và sự thực theo cách riêng. Say từ đây là con đường triết lý dẫn đến nhận thức mới về giá trị tinh thần, không phải là từ chối hay tiêu hủy những gì ta không muốn nhìn nhận.

Bài cảm đề của Vũ gần như có ý nghĩa khúc điểm mê, chỉ ra một con đường vì cái say nhiều lắm chỉ là cách dừng chân, không hề là sự chỉ hướng.

 

53- ANH ĐÂU CÓ ĐỦ LỜI

Bài thơ dưới đây không có thoại riêng mà là thoại chung được một số người cầm bút, văn hữu của Vũ, thuật lại khi chưa ráo vẻ thất thần trước những cái xảy ra vào  một mùa xuân trở thành bất đắc dĩ của thủ đô nhân Tết Mậu Thân 1968. Bùi Kim Đĩnh, Trần Đại, Đỗ Phương Khanh, Minh Quân mường tượng lại sự sợ hãi không thể tiên liệu, trước sự đe dọa kề cận nhất của cái chết và bất an. Cái nghịch thường của xã hội khi đứng giữa sự giành giật của con người giữa nhu cầu của sự sống và bản năng co lại trước cái chết vờn quanh. “ Tôi đi vòng quanh xóm. Quán cà phê ở gần chợ đông nghẹt người. Hai xác chết nằm gần chợ. Chợ vẫn họp, vẫn đông người mua kẻ bán. Có điều là người nào cũng có vẻ hối hả vội vàng. Tôi về tới nhà thì gặp một người bạn ở cùng xóm dục tôi tản cư lên Sài gòn (...) Nhưng chúng tôi vừa bước cửa thì súng lại nổ. Phía trước mặt chúng tôi, khu Bàn Cờ lại cháy. Một vài người bà con của tôi ở khu Ngã Bảy lại chạy ngang về phía nhà tôi. Tôi ngao ngán nhìn cột khói ở phía trước đang dâng cao lên và tỏa rộng.”

Trần Đại có cơ hội thấy  những nhân chứng của chiến tranh, những người chỉ còn biết lên tiếng bằng cái chết của họ. “ Ngay ở ngã tư Trường Đua, đông nghẹt những người. Những vết máu còn đọng vết rõ rệt ở bùng binh. Một khoảng tường Trường Đua bị sập. Ngay chỗ cây xăng hai người nằm sóng soài kẹt tận phía trong cây xăng, cạnh một chiêc xe hơi, một xác chết mặc binh phục. Đi quá một chút,  mấy chiếc xe gắn máy nằm ngổn ngang. Cạnh một chiếc xe còn một xác người, tay nắm lấy ghi-đông.”  

Đỗ Phương Khanh như cất tiếng thất thanh giữa mộng dữ của quê hương. “ Cơn ác mộng cũng đã đến với tất cả đô thị. Đến trong mùa xuân trong tiếng pháo nở tưng bừng. Không ai có thể la để mong tỉnh lại. Chỉ còn ao ước chóng qua và những ngày thanh bình êm đềm cũ lại về.” ( Bách Khoa, số 269+270,  15.3.6 8-1.4.1968)

Nhả thơ Vũ, bấy giờ ở khu Vườn Chuối, không xa xóm Bàn-Cờ nơi kế cận máu lửa nên không thiếu cơ hội chứng kiến thực tế từng làm xao động hồn thơ. Bách Khoa số đầu tháng 9 ( số 280) mới cho nghe tiếng nói của ông. Nghẹn ngào. Thống thiết. Tròn 80 hàng bạch hóa thành lời dành cho vong hồn ở cả hai chiến tuyến

 ... ... ...

Anh đâu có đủ lời

để nói cùng em cho hết được,

lời nói nào không đặt bước

trên cung bậc thời-gian ?

bốn-mươi-sáu năm còn lại của đời anh

trải ra hết vẫn là quá ngắn,

càng khó đem Thơ nhờ nước mắt gieo vần...

đành nín câm

cho đá nẩy mầm

giữa lương -tâm Thế-kỷ !

 

Đêm loạn hơi Thơ tràn tử khí

nỡ nào ai cao ngâm ?

vần gieo có mọc liền xương thịt

ở vệ đường chăng, ở đáy hầm ?

( Nhận Diện, Bách Khoa, số 280, 01-9-1968)

Ngoài ra, biến cố máu lửa Mậu Thân còn khơi dậy hồn thơ dành cho Huế, 8 đoạn theo thể liên-hoàn liên-vận, và Đục Trong cùng Bặt Khóa Buồng Xuân viết cho Sài gòn. Tất cả được in trong Ngồi Quán ( 1971.)

 

54- TUỔI HOA NGỒI RŨ

Tuổi hoa ngồi rũ Quán Chùa

Đường ngang dọc những lá bùa rủ rê...

Lửa chen hơi gió tạt về

Lọt tai xác ướp: trận Mê Hồn nào ?

Chỉ e vàng chói cửa vào

Cửa ra: núi kiếm rừng đao mịt mờ

Đáy ly từng giọt bơ vơ

Theo nhau rụng xuống giấc mơ đen dần

Trông ra gái Sở trai Tần

Giòng xe cuồng chữ nối vần thơ điên

Nốt đàn nghe toàn mầu đen

Chợt xanh chợt đỏ mắt đèn mồ côi...

Thấy chăng “dạ lệnh” truyền rồi

Làm sao - chủ quán – nuốt trôi sầu này ?

Chớ cười duyên, chớ xoa tay

Rằng: Mê hồn trận ai bày, hỏi chi !

Sài gòn 1969

( Vũ Hoàng Chương, Ngồi Quán, Ngồi Quán, 1971)

Cùng được xếp được ở vị trí đầu tập như Say Đi Em trong tập Thơ Say (1940) nhưng Ngồi Quán – bài thơ được chọn làm nhan đề cho cả tập thơ 1971 – là hình ảnh tương phản của thái độ thi nhân trước thực tại cách biệt qua ba mươi năm tuổi. Tùy trường hợp mà tuổi của ý thức tỉ lệ thuận hay nghịch với tuổi trời, nhưng riêng với thi nhân còn là sự bừng sáng nhận thức nơi một trái tim biết nhường chỗ việc nhận chân sự thực. Một ý thức tự nhiên nào đó trong tâm hồn để cho cái say của thi nhân không vượt quá giới hạn của say sưa như cái ý nhận ra của Hoài Thanh cũng ba mươi năm trước ( Thi Nhân Việt Nam, 1941.) Và hơn cả là bên việc cực tả cảm giác của cơn cuồng túy mà thi nhân nhận chìm cảm giác hầu buông trôi thân thế, còn thấy đó đây nỗi day dứt, chán chường của kẻ biết dừng chân. Ở trường hợp này, trận cuồng túy trong thơ đã đưa nhà thơ đi xa hơn giấc say nên cái say ở lại bên thi nhân như một bản ngã thứ hai hơn là sự buông thả của bản năng nhân thế.

Thi nhân lai vãng trong cái say, dễ dàng và tự nhiên như một phương tiện gần như duy nhất giúp trốn tránh cái buồn nản chán chường. Vì thế, thi nhân buộc phải kết thân cũng như buộc phải cưu mang cái Say như chấp nhận một định mệnh hơn là một phương tiện giải thoát. Sực tỉnh trong lòng nấm mộ đen.

Không đợi ba mươi sau, tuổi tạm thời của cơn trường mộng, thi nhân gần như nhẹ nhàng bước ra khỏi cơn Say mà không trải qua nỗi dằng co hay tiếc nuối. Nhà thơ ngồi ở chiếc quán Đời, nơi chỗ ngồi kiếp-năm-xưa và với nỗi lòng của người vừa qua và không tiếc gì giấc điệp. Cái nhìn sắc sảo của con người lịch duyệt trước thực tại mà vẫn nặng trắc ẩn với cái nghịch lòng. Đáy ly từng giọt bơ vơ  / theo nhau rụng xuống giấc mơ đen dần. Giấc mơ mà chính người từng nhập vào như một kinh nghiệm buông mình trong khắc khoải.

Nhà thơ còn chỉ ra như người hướng đạo hôm nay trước một ngõ không lối ra nhưng đầy mời gọi lớp trẻ thơi đại. Trông ra gái Sở trai Tần  / giòng xe cuồng chữ nối vần thơ điên.

Thi nhân, người thứ nhất nguyện làm người hát rao giữa đời, truyền đi tin chẳng lành về một nghiệp dữ, một mê-trận cho quê hương và đánh thức người trẻ tuổi, tuổi của chàng Say ba mươi năm trước.

Tiếng của người lỡ làng lay tỉnh được những ai giữa gió chướng bụi đường lãnh đạm.

 
 

55- VƯỢT NGUY

Đây là những giây phút thi nhân bước xa hơn cả vào thực tại. Nhìn thẳng vào cái thực tại chói lòa tai ngược bất kể chỉ có trong tay vần điệu vốn quen được ươm trồng trong cảnh giới xa lạ với thù nghịch, bất an. Thực tại mà người đối diện đương thời không chỉ là cuộc sống, những băn khoăn suy tư xuất phát và cả những dự phóng đặt vào, mà là vấn đề sống còn của một cuộc vận động văn hóa  được người tham dự và biểu đồng tình. Thực tại này không thiếu phức tạp, đòi hỏi cái nhìn nhiều góc cạnh và thực tiễn. Thi nhân khi dự cuộc là chấp nhận thiệt thòi kể cả chịu cái xúc động lớn lao hơn những người trong cuộc có thể ngây thơ đón nhận khóc cười.

Năm 1969 tiếp tục những gì còn lại trên chiếu bạc về chiều khi các bên tương tranh đã tiêu gần cạn khoản đầu tư có được. Ước mơ sau cùng vẫn là thêm tung cánh khi ngỡ có được cơ duyên. Quan điểm của cuộc vận động, một lần nữa được minh định là  “ vượt khỏi mọi tranh chấp về chiến tranh hiện tại “ và “ không liên kết với bạo lực hay chủ thuyết ngoại lai” giữa lúc ai cũng hiểu rằng chỗ đứng có được sau cùng sẽ do bạo lực mà có. ( Đoàn Thêm, 1969 Việc Từng Ngày, Chính Luận  02.12 – 03.12 -1969, Sinh Hoạt Chính Trị Sôi Nổi Ở VN, Chính Luận 09.12.1969)

Thơ là hướng về những cái tuyệt đối, những đỉnh cao mà con người chưa được phép đặt chân. Nơi có những mùa đào không biết đến thời gian, những oan trái nguyện kết tinh trong ngọc biếc.

Chọn đến với thực tại là thi nhân chấp nhận cảnh trầm luân, nhiều khi còn cảm thấy bị xúc phạm khi đối đầu. Từ đó, thơ của thi nhân trở thành sự thanh lọc thực tại dù là theo cách riêng của người thi sĩ.

Trong Vượt Nguy, thi nhân khích lệ nỗ lực vượt qua sóng gió trong cuộc lên đường. Vỗ về người thuyền trưởng ( đà-công) như tác động tinh thần người bền lòng tranh đấu. Điều đạt ở cuối đường không là thành-bại, hơn-thua mà là gìn giữ được bản sắc quen thuộc của tâm hồn người dân Việt điển hình bằng giọng hát, câu hò, hương thơm của bát nước trà bình dị.

Quả là thi nhân đã đi từng những đỉnh cao khác nhau, từ cơn trường mộng của con người lạc phách cho đến thực tại những đêm dày của vô minh. Ở đâu người cũng cạn chén khuyên mời và dốc cạn tấm lòng như biển

đường gân thớ thịt đà-công

nổi lên đi !.. chiếc thuyền không thể chìm

nỏ thần máy đặt trong tim

đủ thiêng hơn vuốt loài Kim-quy nào

loạt tên buông, máu sôi trào

vững tay chèo chống, ba đào phải tan

hỡi đà-công, hãy bền gan !

gió kia phải trút hơi tàn trước ta

 

rồi mai xanh bát nước trà

nắng sương một bóng la đà ngồi câu

vượt nguy nhớ thưở Đương-đầu

trà xanh mới có chiều sâu Giống-nòi

sương vây mới đẹp chỗ ngồi

giọng Đò-đưa mới cao ngôi nắng vàng

câu hò Mái-đẩy duyên ngang

mới thôi son phấn thời-trang thẹn thùng

sài gòn 1969

( Vượt Nguy, Ngồi Quán, 1971)

 

 56- BẤT TRI TAM BÁCH

Ngọn đèn soi đáy chữ

Vàng rung mãi chén thề

Hỡi ơi, rừng ngôn ngữ

Vòng vây giam hoa Lê

Ta van tiếng Sở giọng Tề

Dẽ ra cho bóng hoa kề hồn trăng !

 

Ba trăm năm vời vợi

Đường xa hiện pháp đăng

Trời xưa dìu Tiếng-mới

Về cả đêm nay chăng ?

Gió mây chìm nổi điệu Bằng

Sông Ngân rụng cát bến Hằng đầy sao

 

Hoa còn mơ giãi bóng

Hồn trăng vẫn gửi trao

Riêng đáy hồ ngọc đọng

Nghe gươm mài xôn xao

Lòng băng tan vỡ lệ trào

Bật lên tiếng khóc thi hào Tố-Như

( Hỏi Ai Người Khóc, Bách Khoa, số 381, 15.11.1972)

Chuyện kể lan truyền đến cả mặt sách của người ở ngoài Bắc rằng thi nhân họ Vũ từng dọn lễ, pha trà, thắp nhang cho Tố Như nhân ngày húy nhật mồng mười tháng tám cuối cùng trong đời ông. Thực ra mối liên cảm giữa người làm thơ quê Vị xuyên với nhà thơ đất Tiên điền đã vượt ra ngoài tác phẩm Đoạn Trường và nhân vật chính được ít nhiều gửi gắm. Năm bài nhà thơ Vũ viết tiếng gọi là “cảm đề” in trong Rừng Phong, tình thực tương tự khúc mới chiêu hồn gửi riêng đến Nguyễn Du như người cùng duyên nghiệp.  Dây thông cảm buộc từ ba kiếp  /  Sổ đoạn trường ghi chẳng một tên. Mối liên cảm do trực giác mà thành và có thể nó không hoàn toàn tương đồng với nỗi lòng một lớp người đi trước đã thổ lộ khi tấm tắc trước áng thơ. Nhưng câu chuyện không hề chấm dứt dù rằng người đáp ứng đã kéo dài thêm khoảng cách thời  gian hoài nhớ cảm thông mà Nhà thơ Tiên-điền trông đợi nơi người tri ngộ. Bốn trăm năm lẻ tình khôn dứt   / Lệ trước mồ chưa ráo trước đèn.

Kể cả lần thi nhân Vũ góp tiếng trong số báo dành cho Nguyễn Du, trước sau, ông đã hai phen trong đời tỏ mối liên cảm với nhà thơ Tiên Điền. 

Lần trước, nhà thơ Phù-giang nhân danh những người cùng kiếp lụy tài thương xót người đồng cảnh họ Nguyễn. Trang  Cảo Thơm còn dấu hiển linh.

Lần này, lòng xót thương đã vượt khỏi khuôn dấu nghiệp duyên định mệnh, người đã nghĩ đến ý thức giải thoát của khách đa tình ra khỏi nghịch cảnh. Dẽ ra cho bóng hoa kề hồn trăng ( Hỏi Ai Người Khóc ?)  Vì con đường diệt tình mới là con đường diệt khổ. Sông Ngân rụng cát bến Hằng đầy sao.

Thi nhân, người vẽ ra lộ trình mới cho thơ qua ngả nhận thức cũng là con đường tìm đến  Nguyễn Du hôm nay. Giọt lệ giải oan mà có lẽ Nguyễn Du năm năm trông chờ nơi người tương tri, đã ráo, vì khúc điểm mê của người biết bỏ qua hư ảnh phù du mà đến với chân tâm rộng mở. Riêng đáy hồ ngọc đọng  /  Nghe gươm mài xôn xao.   

  

57- ĐẦU SÔNG TẠM GỬI

Long vĩ giang đầu ốc nhất gian

U cư sầu cực hốt tri hoan

Đạt nhân tâm kính minh như nguyệt

Xử sĩ môn tiền thanh giả sơn

Trẩm bạn đôi thư phù bệnh cốt

Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan

Táo đầu chung nhật vô yên hỏa

Song ngoại hoàng hoa tú khả san

( Nguyễn Du, Long Vĩ Giang Đầu)

 

Đầu sông tạm gửi kiếp lăng tằng

Buồn đến cùng vui chợt biết chăng

Khuôn cửa nằm cao xanh ở núi

Gương lòng thoát tục sáng như trăng

Sách bên gối đỡ thân gầy hạc

Rượu dưới đèn tô nét trẻ măng

Bếp lạnh sớm chiều...riêng cúc giận

Hoa ngon từ mắt xuống chân răng

( Vũ Hoàng Chương dịch nôm, Bách Khoa, 381, 15.11.1972)

Những năm tổ chức húy nhật Nguyễn Du, nhà thơ Vũ đã hai lần đăng đàn nói về Tiên-điền. Ở lần nói chuyện thứ hai năm 1969, ông gợi ra hình ảnh Nguyễn Du là một vầng trăng, một tinh cầu của thơ, khơi dậy việc “ thắp sáng lên một niềm tin mà gió bão thời đại đang đe dọa, cát bụi chiến cuộc đang vây phủ bốn bề .” ( Loạn Trung Bút, 1970)

Hướng về Tố Như như vọng về một hành tinh chứa đựng ước mơ là biểu lộ của con người còn tỏ ra khao khát với cuộc sống và sự sống. Vũ, ít nhất, đã chỉ ra một thế giới được ấp ủ bên trời, không lãnh đạm với thực tại mà người từng tỏ ra ngờ vực về sự bao dung. Bài thơ mà nhà thơ Vũ chọn dịch trên cũng dựa vào niềm tin về phong cách an nhiên của nhà thơ trước những khó khăn có thể ám ảnh đến cuộc sống bình dị, phóng khoáng của người.

Ở ven sông vắng mà lòng gần gũi với ánh trăng, cửa nhìn ra núi cao, nghĩa là không có gì ngăn cản được tầm mắt, che đậy được tấm lòng. Đến nỗi lấy hoa làm thứ lót lòng, đỡ đói cũng xong. Bếp lạnh sớm chiều...riêng cúc giận  / hoa ngon từ mắt xuống chân răng.

Năm xưa, Nguyễn Hữu Nhật kể chuyện nhà thơ Vũ có nhắc đến việc nhà thơ trễ tràng cả chuyện áo cơm khi để lòng vào từng nụ Quỳnh nở  mà quên bữa vơi đầy ra sao. Có thể đã nhớ đến hình ảnh và cái bóng hiển hiện trong bài thơ trên.

Hình ảnh của con người và tâm hồn cao khiết như thế là niềm tin, là chỗ dựa cho cả một dân tộc đang đắm chìm trong nghịch cảnh.

Những người tương tri vì tài lụy năm xưa, nay đã rời bỏ cái nhìn duy cảm một thời buộc cá nhân không để mắt xa hơn nhịp đập của trái tim mềm yếu.

Thi nhân nhắc đến Khuất Nguyên, Nguyễn Du và cả Thúy Kiều vào một Ngày Lớn mà người người đều giác ngộ lẽ thực-hư chân-giả ở đời

ta đứng thẳng lên từ đáy sông

như họ Khuất một đời không chịu khuất

tha hồ nước chảy về Đông

nước hay máu của đêm phai ngày bạc

 

thiều quang với những ai ai khác

Thúy Kiều chăng Nguyễn Du chăng

với ta chỉ là giòng nước

chỉ là giòng máu...

Những kẻ tài tình một thời đã dẫn dắt lương tri và tâm hồn con người như những người tiên tri đi trước mọi người hướng về chân trời thiện mỹ.

 

58- HỒN GIÃI TRĂNG TRONG

Tản lĩnh Lô giang xứ xứ đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một cố cung

Tương thức mỹ nhân khan bão tử

Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông

Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy

Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

( Nguyễn Du,Tản Lĩnh Lô Giang)

 

Chung lòng non Tản với sông Lô

Gặp lại Thăng Long đầu bạc phơ

Thẳng tắp đường quan vùi cửa tướng

Ngang nhiên thành mới dẵm cung xưa

Bạn say luống tuổi nghe tàn cuộc

Người đẹp bồng con thấy hết mơ

Hồn  giãi trăng trong đêm thức trắng

Hòa theo từng tiếng sáo bơ vơ

( bản dịch nôm của Vũ Hoàng Chương, Bách Khoa, 381, 15.11.72)

Bài thứ hai dịch thơ Tiên-điền của nhà thơ họ Vũ góp vào số Bách Khoa kỷ niệm Nguyễn Du, như đã nói, diễn ra trong mùa hè khói lửa. Năm trước, Ngồi Quán ( Lửa Thiêng, 1971) ghi lại tâm trạng của một hồn thơ trong ba năm 1967-1970 có vẻ là phản đề trước thái độ thờ ơ của một lớp thị dân trẻ tuổi. Trông ra gái Sở trai Tần  /  giòng xe cuồng chữ nối vần thơ điên. Cái chuyển biến rõ rệt trong lòng người năm xưa, từng phóng túng hình hài để đánh đổi sự chán chường cực độ nơi cuối đường.

Thực tại đã chế ngự tâm hồn thi nhân không do một động lực rõ rệt nào, ngoại trừ đó là sự thực. Cái sự thực, không cần bản sao có thị thực, diễn ra vào ngày xuân, ngay trước mắt tiền nhân về vui xuân với con cháu. Nào thấy bóng ai...! xuân khóa kín  /  Thiều quang ngập máu Đỗ quyên hồng. Thái độ của thi nhân hơn một người chứng thông thường. Thơ là lương tri đến với người chỉ quen vãng lai cõi của ước mơ. Nay, mơ ước của Vũ xây dựng trên chính thực tại bằng những “tiện nghi” mà Vũ chỉ dành riêng cho thế giới mộng của người. Cả trong tiếng đàn, nhịp ca, tiếng hát.

Bài thơ Vũ chọn dịch là bài quen thuộc với người chĩu nặng một dĩ vãng mất mát và đổi thay. Vũ đã sống đời của Tố-như khi đặt mình vào tâm trạng của kẻ phải lụy đến hình  hài sau cái lụy tình dành cho khách tài hoa. Tâm trạng của người tương tri dường như còn day dứt hơn người trong cuộc vì trăng của Tố-như còn nấn ná đợi người khi nguyệt hết bơ vơ

hồn giãi trăng trong đêm thức trắng

hòa theo từng tiếng sáo bơ vơ

  

59- HƯƠNG PHẤN MÙA XƯA

Đời vắng em rồi say với ai ?

Còn ai say được nữa đời trai !

Nàng Men, vợ góa Lưu Linh trước

Bước đã cuồng phong tắt đáy chai

Tiên nữ Má-hồng-nâu thưở nọ

Hài sen ngọc bấc cũng dần phai

Xuân đi, vòng sắp tròn Hoa-giáp

Liệu có hai lần song nở mai

( Sài gòn Tân Hợi tháng 6)

( bài cảm đề tập thơ Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Văn, số 183, 1.8.1971)

 Năm 1971 gần như là mùa của hương phấn cũ. Riêng với thơ Vũ. Không rõ ai là người bắt được mạch văn chương để nhà An Tiêm ngay từ tháng đầu năm đã cho in một tuyển tập thơ đầu tiên của nhà thơ. Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm được chọn cho tập thơ mang tên cũng còn là câu thơ của một bài in trong Rừng Phong. Dường như để người đời dễ hinh dung ra khoáng cách thời gian, thi nhân tạm dùng con số số-học để chỉ khoảng thời gian bất định đằng đẵng.

Như tên gọi của tập thi tuyển, tình yêu được chọn để thơ cập bến như mong muốn của thi nhân. “ ước nguyện gom góp lại những bài thơ “tình yêu” viết trong tuổi hoa, để in thành tập riêng, điều đó sẽ giúp tôi sống trọn vẹn cùng muôn ngàn ảo ảnh xa xưa” ( Lời Tác Giả in đầu tập.)

Cái mốc thời gian để tuyển chọn khá mơ hồ vì thơ được chọn không chỉ trong mấy tập thơ đầu còn chan chứa rung động và trầm tư của những năm tháng dài theo phóng túng. Và còn mở rộng đến Hoa Đăng (1959), Trời Một Phương (1962) của thời mà mọi xúc động rộn ràng đều được thu gọn vào kỷ niệm. Có thể hiểu thi nhân đã khiến kỷ niệm có đời sống riêng biệt và vững chắc trong thơ. Cho đến năm 1974, tập thơ được in lại 3 lần, trong đó lần in đầu bán hết ngay 2000 bản ( Đàm thoại với An Tiêm, Bách Khoa, số 339, 15.2.1971.) Như thế, riêng về khía cạnh tinh yêu, thơ Vũ đã chịu sự thử thách của thời gian trong khi những người đến với thơ Vũ từ những năm 40 không phải chỉ vì tiếng gõ chậu não nùng của mười-hai-tháng-sáu.

Trung tuần tháng 7 cùng năm 1971, nhà Lửa Thiêng in tuyển tập thơ tình thứ hai của Vũ. Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tập thơ ra đời lấy một trong những câu thơ tha thiết nhất của Vũ làm nhan đề cũng là cơ hội cho 17 bài thơ của Tuổi học-trò được xuất hiện tuy khiêm tốn, trong phần thứ nhất của tập thơ. Sự có mặt của mấy bài thơ tuổi học như rụt rè đôi ba lần trên mặt báo trước đây, cỏ vẻ là để thăm dò, và với chính tác giả, là việc đi xa một bước nữa trong việc kéo dài thêm tuổi của giấc mộng đầu.

Lần này, dường như thi nhân đã đứng hẳn về phía  có trái tim để chứng tỏ ưu thế mời gọi của cảm xúc và rung động còn âm ba trong ký ức. Thi nhân muốn trang trải hết cho cái say kể cả men tình của một thời khắc khoải. Đó là cánh buồm say của thuở người biết yêu chưa nhận là thi sĩ. 

Thực ra, thi nhân đã chọn tạp chí VĂN số ra mắt ( 1.1.1964)  để công bố một bài thơ tình viết năm 1936, nghĩa là khi nhà thơ ở tuổi 20.  Bài “Quên” được hứa hẹn nằm trong tập thơ dự định in ra, Tuổi Học Trò.

Những ai còn nhớ bài thơ tình thứ nhất của Vũ được đưa ra trong bầu khí rộn ràng của ngày mới. Mạch thơ tình với ước vọng được tái sinh trong nguồn thơ hồi sinh trước những mối băn khoăn, dằn vặt về định mệnh cá nhân, số phận đất nước. Nhà thơ đã tự đặt mình vào vị thế  khó xử hơn khi theo đuổi một giấc mơ đối lập khác  với “muôn ngàn ảo ảnh xa xưa.”

Thi nhân cũng hiểu ra điều là cái say không còn đủ cái duyên để tồn tại. Say cho dù để duy trì sự tổn tại của ảo tưởng hay để quên đi một thái độ cần thiết với thực tại, với cuộc đời, cũng không còn là một giải pháp hay cách đối phó dễ chọn.

Thi nhân, người tiên liệu được sự giao thoa không thể tránh giữa hai nguồn cảm xúc và trầm tư, Giữa mối khát khao tăng trưởng của bóng mây dĩ vãng êm đềm với  sự thúc đẩy đằm mình vào dòng sông trí tuệ, con người có mấy đời thơ như Vũ,  rốt cuộc, chọn sự trở về hay việc lại ra đi như có lần người đã nêu lên như một công án bơ vơ

họa may còn chuyến đi vào hư vô

tên gọi văn chương của những nấm mồ

đi chuyến ấy giòng đời ta tự xóa

ta không còn gì cũng không là gì

( Lòng Đá, Văn, 1.11.1974)

  

60- SỰ TRỞ LẠI CỦA MỘT TẬP THƠ

Ngày 5.5.1971, Thơ Say được tái bản. Sự tái xuất hiện một tập thơ sau 31 năm không phải là điều bình thường hơn nữa trong hoàn cảnh khiến người soạn bài, lấy việc tổng kết kinh tế, điện ảnh thay cho việc tổng kết văn học như thường lệ vào lúc năm tàn ( Bách Khoa, 337+338, 15.1.1971). Nói cho đầy đủ, trong năm cũng có một tác phẩm cũ được in lại, Đồng Quê của Phi Vân. Chỉ khác  Đồng Quê là một phóng sự tiểu thuyết được chú ý ở miền Nam, và được in ra khoảng 10 năm trước, nay do nhà Lửa Thiêng tái bản.

Tập thơ tái bản do nhà Nguyễn Đình Vượng theo kế hoạch riêng “giới thiệu những tác giả và những tác phẩm của văn chương Việt-nam hiện đại.” và chỉ thấy Thơ Say ở bên cạnh Để Tưởng Nhớ Mùi Hương của Mai Thảo,

Ba mươi năm trước, Thơ Say ra đời trong một hoàn cảnh khá đặc biệt vì tác giả chưa có ý định cho ra đời tác phẩm của mình kể cả việc gửi đăng thơ trên báo. Theo hồi ký của nhà thơ, một ít bài được gửi đăng trên Hà nội Tân Văn cho người đọc quen tên trước khi được tác giả tự đem in với số giấy bản được một người bạn thơ đem gán nợ.

Thơ Say đem lại ngay một vị trí cho tác giả trong cả hai tập nhận định về thơ và văn đương thời dẫu chưa đạt tới mức toàn mỹ như Mây ra đời 3 năm sau trong vẻ trau chuốt khác thường của một giai phẩm ấn loát của một nhà xuất bản danh tiếng. Người bạn thiết, Tạ Tỵ hay Vũ Khắc Khoan, sau này, cũng đều nhìn nhận giá trị vượt trội của tập thơ sau dù chưa phải là nhận xét chung ( Vũ Khắc Khoan, Đoản Văn Xa Nước. )

Say trở nên một bản sắc của nhà thơ tuy rằng người bắt mạch được cái say của thi nhân lại là người lên tiếng sớm hơn ai trong Thi Nhân Việt Nam ( 1941.)

Nhưng làm nên một thi nghiệp chính lả sự thể hiện chân thực thiết tha  và đầy nghệ thuật tâm trạng không chỉ của riêng mình. Bơ vơ, không hướng đi mà cái say chỉ khiến lòng thêm ngao ngán và day dứt. Những người chỉ trích hay còn tiếp tục giữ cái nhìn tương tự với Thơ Say, dường như không để ý đến sự thành khẩn chứa đựng dấu hiệu của sám hối. Không phải đến bây giờ người làm thơ mới hiểu sự vô hiệu của những phương tiện để vượt cái sầu và xây dựng mộng. Trong cuộc trường chinh thất bại có tính chất lịch sử này, thi nhân đã tìm ra đáp số của phương trình cá nhân mà mấy thế hệ đều thúc thủ. Chính thời thế và tập tính đã đẩy chúng ta vào quan niệm nhị nguyên ngày một gay gắt và khiến chúng ta hành động và phản ứng như bị sa lưới. Thực-hư, thuận-nghịch, chính-tà đều dựa trên cái tâm phân biệt hẹp hòi

chữ lại lên khuôn lời giải đáp

rằng hư rằng thực cũng là đây

Thông điệp Thơ Say, qua bài cảm đề, được gửi đi muộn 30 năm và chúng ta đã thấy những gì xảy ra sau sự muộn màng như thế. Từ Thơ Say đến bài cảm đề, thi nhân đã mở ra một thế giới dung thông của những tâm hồn khao khát mộng và lý tưởng

Ba mươi năm trước, giòng thơ Say

Mớ lối vào phương gió bụi này

Thuyền Mộng lạc loài men đã ngấm

Thành Sầu nghiêng ngửa khói càng xây

Bao đêm lửa quỷ nghe tim bấc

Một sớm gương thần hỏi bóng mây

Chữ lại lên khuôn lời giải đáp

Rằng hư rằng thực cũng là đây

( Văn, số 185, 01.9.1971)

 

61- HOA-NGHIÊM CHỢT TỈNH

Hoa-nghiêm chợt tỉnh giấc nào xưa

cho tấm lòng Xuân đẹp mấy bờ

Chuông khánh Hàn-san đêm nhiệt đới

thuyền vào... tay ngọc rắc như mưa

Cây bên sông đứng hai hàng chữ

in xuống Thời-gian nghĩa bất ngờ

Vành vạnh trăng lên từ đáy nước

hải triều vang dội lớp mây đưa

Mây phong lớp áo ngàn xưa

mở tung hương sắc hội Mưa-hoa này

Tròn duyên, Thiên-nữ chắp tay

chúng sinh bao kiếp đọa đày sạch trơn

( Vũ Hoàng Chương, Mừng Phật Đản 2516) (*)

Thông điệp về đức tin của thi nhân được gửi ra giữa lúc lớp mây thành sừng sững phong tỏa bầu trời. Quê hương, một lần nữa, phải trải qua cơn thử thách điên cuồng trong khói lửa. Tháng 5.1972 là tháng của nhật thực bao trùm quê nhà, người người tìm chỗ trú ẩn cho tâm hồn cùng với nơi nương tựa an toàn cho thân xác. Tình thế nguy hiểm như trứng chồng nhất là tại vùng giới tuyến và biên giới cao nguyên. Tại thủ đô, từ ngày 12.5. 1972, giới nghiêm mở ra từ 10 giờ tối, thu hẹp mọi sinh hoạt về đêm. Đại học đóng cửa và chỉ còn khóa thi duy nhất cho năm học. Lớp tuổi 17 cũng rục rịch lên đường. Những cố gắng sau cùng của giới hữu trách kể cả việc thu tóm thêm quyền lực dường như chưa đủ thích hợp với tình thế. Tâm trạng người có rối bời chăng nữa nhưng ước mơ vẫn không vuột khỏi tầm tay. Không gì bằng nghe lời kể của một người cầm bút trẻ, vốn được nhà thơ Vũ thích gặp gỡ vì kiến văn, Là người đến tự tuyến đầu thuật chuyện. “ Rời Huế, thành phố vắng vẻ lạnh lùng đó, sau một đêm ngủ lại với Bộ Tham Mưu Quảng Trị lưu vong ở Tòa Đại biểu Chính phủ cũ, bên bờ sông Hương. Tôi đến Đà-nẵng, chen chúc qua những ngả đường đông ngợp làn sóng người chạy loạn. Nhìn những khuôn mặt bơ phờ, ốm xanh, bước đi còn vội vã như vẫn còn đè nặng trong hồn nỗi ám ảnh của cái chết quá dễ dàng trên quãng đường giặc đuổi sau lưng, tôi cảm thấy chán nản tột cùng. Nỗi bi thương không còn ở xa để suy ngẫm bới nó đã nhập vào đời sống của mọi người. Tất cả phải chịu đựng...( Cung Tích Biền, Đêm Dài Ở Tổng Y-Viện Duy Tân, Sóng Thần, 18.5.1972.)

Trong hoàn cảnh như thế, thơ đã rời cõi riêng, tháp tùng mối hoạn nạn của mỗi người

một bãi người đông như kiến cỏ

lao nhao trốn chạy sợ vùng tranh

trẻ em khuỵu xuống, già lăn ngã

những tiếng kinh hoàng la thất thanh

pháo vẫn thản nhiên từng trái nhểu

nổ oàng một lúc một thêm nhanh

đạn gieo chi chít dày trên bãi

khói mịt mù giăng như vách thành...

( Tú Kếu, Bãi Người Sống, Sóng Thần, 18.5.1972)

Bài thơ nhà thơ Vũ đưa ra vào ngày trăng tròn tháng tư không khác gì lời cầu nguyện, là sự chứng nghiệm hành trình của một cuộc truy tầm chân lý qua nhận thức. Sự tráng lệ của ngôn từ chỉ là cách tôn xưng từng bước đường giác ngộ. Lời kinh dạy rằng mọi vật, mọi việc đều do cái tâm mà có. Tướng tự tâm sinh. Như thế cái thế giới đi tìm phải là cõi làm nức lòng người tín mộ.

Dưới mắt thi nhân, con đường đến với đạo mầu không khác con đường đi tìm cái đẹp. Nên cõi của nhận thức cũng là thế giới mà cái tâm làm chủ được biểu thị bằng hình ảnh trác tuyệt của xâu chuỗi thanh âm

chuông khánh Hàn-san đêm Nhiệt-đới

thuyền vào ... tay ngọc rắc như mưa

Cuộc truy tầm chân lý của thi nhân mang ý nghĩa nhiều hơn cuộc hành hương điển hình trong cổ thi. Ý thức giác ngộ sẽ bừng nở bên người mạnh mẽ hơn tiếng chuông Hàn-san từng đánh thức kẻ neo thuyền dưới ánh trăng đạo lý. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Ngược chiều thời gian, thi nhân đã lặp lại cuộc hành hương tương tự đến Hàn-san để xác nhận chân lý trong cái thế giới do cái tâm đặt để. Hàng cây phong năm xưa soi mình trên sông vắng, giờ cùng với ánh trăng mang đến nghĩa của trang kinh khi tâm người mở rộng, đón mời. Có thể người neo thuyền dưới bến Hàn-san năm nọ không có ý trông đợi tiếng chuông nên kết quả chỉ là sự lời lãi văn chương. Riêng thi nhân, nhận ánh sáng từ Hoa-nghiêm, chuyến đi đến Hàn-san hôm nay không hoàn toàn là cuộc chiêm ngưỡng cảnh

cây bên sông đứng hai hàng chữ

in xuống Thời-gian nghĩa bất ngờ

vành vạnh trăng lên từ đáy nước

hải triều vang dội hướng mây đưa

Riêng về mặt văn chương, thi-nhân đã làm được một tân bản tráng lệ Đêm Tại Bến Phong Kiều, nhân một cuộc xê dịch, đưa hồn người đến gần hơn với tinh thần đạo giải thoát.

Hơn nữa, thi nhân đã hoàn tất một sứ điệp tương tự sứ điệp hướng về tinh thần cứu khổ của cửa Thiền, được đưa ra trong cảnh điêu linh của đất nước (**) Chúng sinh bao kiếp đọa đầy sạch trơn.

-----------------------------------

(*) Ngày rằm tháng 4 âm lịch  theo Phật Lịch 2516, là ngày 27.5.1972 theo dương lịch.

(**) “ Mùa Phật đản năm nay dành làm mùa cứu trợ đồng bào chiến nạn Viêt Nam và cũng là mùa cầu nguyện chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam “ ( Thông điệp Phật Đản, Sóng Thần, 18.5.1972)

------------------------------------------

 62- ĐÓN XUÂN MƯỜI CHÍN

Bấm đốt từ di cư đến nay

Đón xuân vừa vặn hết bàn tay

Sang sông Ngựa đã hai lần hí

Vạch đất Trâu thêm một luống cày

Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc

Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây

Bút toan chạy ngược đau lòng chữ

Núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây

Dăm kẻ tri giao toàn kiết xác

Nửa đêm trừ tịch cũng vờ say

Hằng nga bỏ địa cầu đi mãi

Tết đến buồn không chịu vẽ mày

 

Xưa rồi lửa phóng tên bay

Giờ chơi nhạc sống nào đây hỡi giàn

Bóng ai trên đá ngồi gan

Có nghe rung một giây đàn lẻ loi

Trời xuân chẳng én đưa thoi

Mà như gấm đẩy bức Hồi Văn qua

Nghé kêu đầy bến vàng hoa

( Đón Xuân Mười Chín, Văn, xuân Quý Sửu, 15.1.1973)

Mười chín năm là khoảng thời gian ông lìa bỏ không gian quen thuộc, con-chim-bằng-vỗ-cánh-hề-rời-sang-Nam-Minh.  Lòng vẫn không quên tổ cũ mỗi khi ngoại giới có điều gợi nhớ. Khói lửa lan tràn cả hai miền. Lửa cháy ở quê cũ có lẽ là điều nhà thơ băn khoăn khi cầm bút. Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc.

1972, năm đánh dấu bằng bước đi thay đổi hiện tình cùng những nghịch lý diễn ra có thể lý giải cho những mâu thuẫn trong trường hợp tương tự. Đe dọa khốc liệt của lửa đạn dường như không còn ảnh hưởng bao nhiêu đến việc tiếp tục xây dựng ước mơ cho dù chỉ còn là níu giữ. Từ  nửa tháng cuối năm 1972,  phim Yêu dựa theo cuốn tiểu thuyết thời danh của Chu Tử xuất hiện trên màn bạc tại 4 rạp chiếu ở Đô-thành, Eden. Lê Lợi, Kim Châu và Văn Hoa, trước khi được đưa lên Đà-lạt.

Trước đó, tháng 10, tập thơ dài như truyện Kiều, có tên Đoạn Trường Vô Thanh, 27 thiên, 3294 câu, bên cạnh cảm xúc mạnh mẽ trong một hướng suy tư còn biểu lộ cái nhiệt thành hiếm có dành cho thơ giữa trận phong ba của thời thế làm xiêu lạc bao giá trị còn sót lại.

Cùng với ngày nhà thơ viết xong bài thơ đón xuân Quý Sửu 1973, một người nạn nhân xa gần của vụ pháo kích vào trẻ thơ ở quận lỵ Cai-Lậy xa xôi cũng không ngăn được đường đi của cảm xúc

bên em trái đạn vô tình

còn đâu hơi thở u minh cõi đời

đường nào ngăn lối em vui

bờ sầu muôn nẻo ngậm ngùi về tim

( Đêm Pháo Kích Nhà Em, Lê Yên Linh Phương)

Thơ xuân, nói chung, thường phản chiếu những rung động lẫn ước mơ tuy thi nhân, vốn tỏ ra là người chậm chạp trong việc nhận chân thực tế. Trường hợp này có lẽ không phải là trường hợp của Vũ. Ông vẫn giữ con mắt nhà thơ khi quan sát diễn biến trên quê hương ở cả hai phương và tỏ ý không vui khi thấy hiếm người thẳng thắn nói lên được điều mình nghĩ

bút toan chạy ngược đau lòng chữ

núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây

dăm kẻ tri giao toàn kiết xác

nửa đêm trừ tịch cũng vờ say

Thơ xuân 73 ra đời giữa lúc lòng ngổn ngang trăm mối và ước mơ cũng tàn lụi dần theo

Hằng-nga bỏ địa cầu đi mãi

Tết đến buồn không chịu vẽ mày

Tâm ý sau cùng của thi nhân vẫn không ngoài mong mỏi thanh bình  sớm trở về trên đất nước. Cho người chinh phụ không còn khắc khoải trông chờ. Cho bài thơ hồi văn trên gấm ( chức cẩm hồi văn) của những nàng Tô Huệ thời đại không còn được gửi đi như thông điệp thiết tha nhất của người ở nhà thay lời kêu cứu

trời xuân chẳng én đưa thoi

mà như gấm đẩy bức Hồi Văn qua

Có ai nghĩ rằng, nhà thơ Vũ đã lặp lại trường hợp bài thơ chức cẩm trong bài thơ đón xuân mười chín khi mà vào giao thừa Tết  Quý Sửu (02.2.-1973)  nhà thơ gửi lời chúc xuân qua làn sóng truyền thanh đến mọi miền, tuyên dương ý nghĩa và bản chất cao đẹp của Thơ và rằng hòa-hài, nhất-quán trong lòng người cũng  là ý nguyện duy nhất mà người làm thơ gửi vào Thơ muôn thuở.

 

63- VƯỜN TRẮNG THƠ VÀNG

Cuộc tình đầu lỡ dỡ là một vết thương thật khó lành. Với Vũ, một thi nhân, có thể nỗi đau ấy đã trở thành gần như một kinh nghiệm thơ. Bởi vì sau nỗi nhớ tiếc mãnh liệt ban đầu, thi nhân cố tìm một hướng giải quyết cho vết thương khi năm tháng chỉ làm tăng thêm tuổi của thương nhớ. Dựa trên bài Mười Hai Tháng Sáu ( Mây, 1943), Nguyễn Mạnh Côn đưa ra ý kiến có màu sắc khá duy lý rằng mối tình ấy có vẻ thơ nhiều hơn thực. Nhận xét ấy khó có thể xem là vô bằng nếu ta hình dung được bầu khí của căn gác nhỏ sau đền hàng Trống, nơi Vũ, bên ngọn đèn leo lét, gõ bát ngâm bài thơ lạc phách trên, mà Tạ Tỵ nhớ lại buổi gặp gỡ đầu tiên Vũ và Đinh Hùng. Nỗi đau ấy dẫu có thì vần điệu bấy giờ còn để lộ sự nâng niu trìu mến một vết thương. Xừ Xang Xế Xự Xang Hồ  / Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên. Và, như thách thức việc dập tắt được lửa sầu chưa nguôi. Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng.

Đến Bài Ca Hoài Tố trong Rừng Phong (1954), cũng chỉ là bộc lộ nung nấu niềm thương nhớ thê thiết hơn, mặc dầu bầu khí chung nhất của toàn tập đã hướng về việc xóa đi chấp ngã. Giọt lệ chiều nay đẫm máu / Gọi hồn em ngày-chưa-tháng-sáu-mười-hai.

  Trời Một Phương (1962),  kỷ niệm đột nhiên trỗi dậy như thể níu chân thi nhân lần cuối để tình được hóa thân. Yêu nhau từ thuở tóc còn buông / Một gái thơ ngây một gã cuồng. Mơ ước hình thành nhưng chỉ là vĩnh cửu hóa điều ước mơ. Ta rẽ sang giòng năm tháng khác  / Cùng nhau tái tạo giấc mơ tình ( Giấc Mơ Tái Tạo.) Và, cho đến 12.6.1967, vẫn là sự phục sinh hằng năm của kỷ niệm theo ý thi nhân, như quán lệ của một trái tim lấy việc thủy chung làm hạnh phúc  ( Bảng Vàng Hoa Tím, trong Cành Mai Trắng Mộng.)

Đến 12 tháng 6 năm 1972, mối tình mới được hoàn táng, hiểu theo nghĩa thi nhân tìm được hướng siêu thoát cho tình sau ba mươi năm ngậm đắng. Không là quan niệm hư vô hóa cuộc đời mà là cái nhìn mọi vật tự chữ không. Cách giải quyết nghiêng về triết lý tôn giáo xuất hiện như nguồn cảm hứng mạnh mẽ nhưng chưa ra ngoài cõi văn chương đương thời. Cùng nhịp tim trôi vào tận cõi  / không-ngày-không-tháng-không-bơ-vơ. ( Tố Của Hoàng Ơi.)

Đây là thời điểm cần ghi nhận không chỉ về mặt văn chương mà là sự hợp lưu toàn vẹn giữa thơ và tư tưởng. Rốt cuộc thi nhân đã chấm dứt được một nguồn cảm hứng từ nỗi đau không bằng cách tát cạn dòng mà bằng việc chuyển dòng sang đất mới. Thi nhân tìm kiếm được đời sống mới dài lâu và có thể vĩnh cửu trong lòng người không chỉ trong những người yêu thơ mà nơi những người nuôi được trái tim giàu có. Mười hai tháng sáu 1972 là ngày văn chương truyền ngôi truyền-kỳ cho cuộc tình ba mươi năm như thi nhân từng tiên liệu. Ta đợi em từ ba mươi năm. Mối tình thực sự đi vào cõi vô thủy vô chung khi được nằm trên đầu môi người kể chuyện. Vang và bóng của chuyện tình sẽ thuộc về lịch sử, không đợi tái sinh, mà bằng cái đẹp của sự tan vỡ và cách nâng niu sự tan vỡ trong đằng đẵng. Hay đâu Vườn-Trắng Thơ-Vàng / từ đây làm Bóng làm Vang cho đời !

Thi nhân hiểu hơn ai về ý nghĩa sau cùng của loại kinh không chữ. Chữ không trắng không làm nên Sách Ước. Nghĩa là mối tình dang dở của người sẽ thực sự có ý nghĩa tồn tại khi được truyền lưu qua trái tim và niềm đồng cảm, không phải qua thơ, cho dẫu não nùng như tiếng khóc mười-hai-tháng-sáu.Vạch ra một lộ trình vĩnh cửu như thế cho cuộc tình, người làm thơ đã mở thêm một sinh lộ cho sự cáo chung của những bản tình ca. Không phải người muốn xem nhẹ văn chương, khi con người còn tỏ ra còn trầm luân trong nỗi nhớ.

... ... ...

ta đang viết một “truyện dài”

mới vừa xong Chương thứ-nhất

còn cả trăm Chương

cả ngàn Chương kế tiếp

nhưng mà thôi, ta ngừng thôi !...

nhưng mà thôi ta ngừng thôi !

viết làm chi nữa

viết mà làm chi cho lòng đã nát ?

càng viết càng đau giấy bút

thà cho giòng máu buông trôi !

cân chuyện ngày xưa tình đẹp lứa đôi

ta mong gọi dậy làm sao được !

giòng chữ đổ về xuôi

khác xa hồn dựng ngược

chữ không trắng không làm nên Sách Ước

vườn-trắng ngoài kia chỉ bĩu môi

ta ngừng lại cho xong, ta nằm xuống cho rồi

đời không ai làm Bóng làm Vang thì cũng thôi !

12.8.73

( Vườn Trắng Thơ Vàng, gp Văn, 01.02.1974)

 

 64- BẾN VẪN ĐỢI NGƯỜI

Hóa thân từ Đá-ba-sinh;

Nửa hồn trăng, nửa tâm tình nước mây

Lời thơ xõa tóc sầu vây

Tiếng ca giông bão về đầy từng đêm...

 

Sang Sông rồi ư, cô em ?

Bờ-bên-đây sóng chưa chìm cơn mê;

Còn rung nát cỏ chân đê,

Còn gây thương tích sáu bề giác quan

 

Hay là cô em chưa sang ?

Bên-kia-bờ vẫn đảo-hoang-ngàn-đời...

Thì Sông, thì Bến... hỡi ơi !

Cỏ đau càng giợn chân trời âm thanh

 

Sang ? chưa sang ?

                             Đành, sao đành

Tin Hoa lẩn mãi sau vành nón Thơ ?

Bướm-xuân liệng đến bao giờ ?

1972

( Vũ Hoàng Chương, Sang ? Chưa Sang ? Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, 1974)

Sông và bến vốn chỉ là một nhưng từ khi một chỗ bên sông được chọn làm điểm khởi hành, thì sông và bến đã rời xa nhau bằng một tên riêng. Không những thế, người đặt chân đến đây trở thành người có một chỗ ngồi ít nhất trong tâm tưởng những người chưa hay không kịp sang sông. Nếu người qua sông còn mang theo một dự phóng thì việc sang sông còn có ý nghĩa đổi dời, không chỉ cho riêng họ.

Đến lượt thi nhân hay những người vầng trán hằn nếp nghĩ, dòng nước trong lòng sông được lấy đi, khiến cho việc sang sông chỉ còn mang nghĩa của việc sang bên bờ, đáo bỉ ngạn. Bên kia là nơi hội tụ của ánh sáng ban mai, của trí tuệ kết thành ý thức lấp lánh. Bên này là nơi cần rời bỏ, hay ít ra là nơi cần phải nhận một thái độ như thế.

Cuộc khai mở nhận thức có lần được gợi ý là một chuyến sang sông. Một hành động đơn giản nhưng đòi hỏi biết bao duyên khởi để có được kết quả. Có những chuyến sang sông mà một đời vẫn coi như chưa rời bến.

sang Sông rồi ư, cô em ?

bờ-bên-đây sóng chưa chìm cơn mê

hay

hay là cô em chưa sang ?

bên-kia-bờ vẫn đảo-hoang-ngàn-đời

Việc xác định chân-giả, thực-hư vẫn là điều mơ hồ như chuyện lông rùa sừng thỏ.

Phải đợi đến xuân Quý Sửu 1973, nhân khi nhận được bức vẽ chân dung mình, thi nhân mới có dịp bày tỏ rõ rệt hơn về điều chân-giả. Vạn điều hư hay thực ở đời đều do tâm phân biệt mà nên và là đầu mối, ngọn nguồn của tranh chấp, nghi ngờ, thù hận đương đại

chân thân với giả thân nhìn nhau

này giả này chân có khác đâu

 ( Vũ Hoàng Chương, Đan Thanh Bậc Chị, Bách Khoa, số 391, 11.5.1973)

Bức vẽ của cô họa sĩ Văn Hoàng Oanh, vẽ chân dung toàn thân nhà thơ gợi lại cho ông nghĩa chân-giả của vạn hữu, thản nhiên trước cái mất còn. Nay chống ô chờ đất nở hoa.

Từ Rừng Phong, thi nhân là người mở cửa Thơ cho trí tuệ dự phần đắc lực. Và như Mai Thảo nghĩ, “ với những cõi thơ như Vũ Hoàng Chương, phải vận dụng trí tuệ mới mong mở được lối vào.” Bên cạnh là sự xúc động đằm thắm của tâm hồn trước chân lý được lộ dần như nắng ban mai

ta đứng trông về cái chính ta

hãy xanh trong nếp áo Thu già

 

65- BA KIẾP CHÚNG TA

Chúng ta đánh mất cả rồi sao ?

Mất cả âm thanh một thuở nào ...

Da trống, tơ đàn, ôi trúc phách !

Đều khô như tiếng hát gầy hao

 

Đàn mang tên Đáy mà không đáy,

Rút hết rồi chăng sợi nhớ thương ?

Hay phách, từ lâu rồi lạc phách

Không còn dựng nổi bến Tầm-dương ?

 

Hơi ca hồng đã tan thành huyết

Để tiếp vào cho má đỡ xanh ?...

Bạc mệnh, hỡi ơi, hoàn mệnh bạc;

Đâu còn ấm nữa rượu tàn canh !

 

Hay là đêm ấy Ngưu lìa Chức,

Xé nát da mình lau mắt ai ?

Còn được gì đâu cho mặt trống,

Đập lên, hoang vắng đến ghê người !

 

Âm thanh trống rỗng, còn chi nữa;

Gắng gượng chi cho hồn Nhạc đau

Ba kiếp lang thang ngồi chụm lại ;

Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau !

Sài-gòn 20.7.73

( Vũ Hoàng Chương, Ba Kiếp Lang Thang, Bách Khoa, số 395, 8.8.1973)

20 tháng 7 vốn là một thời điểm của một biến cố được nhìn dưới nhiều khía cạnh. Nhưng có lẽ từ đây, 20.7.1973 (*) còn là thời điểm khác về mặt văn chương, đánh dấu bước tiến sâu vào cõi trầm tư thân phận nơi người thi sĩ. Hội thưởng quỳnh hoa từ tháng tư đến tháng tám ( tháng 5 đến 30.8 dương lịch) năm đó không còn là dịp đón mừng cái đẹp giáng trần hiếm có của một loài hoa như sự mời mọc của chủ nhân, mà chỉ là dịp mượn gương hoa để soi lại lòng người dầu dãi trong nổi chìm kiếp sống. Quỳnh hoa đã nhuốm hương đàm và giây phút hoa bừng nở trùng phùng với phút giây chứng ngộ ý thức về cái hiện hữu. Phút nhập thần sương bạc khói lam.

Xa hơn một chút, vào dịp đón Tết Quý Sửu 1973, thi nhân đã nghĩ đến sự chuyển ngược vòng luân hồi để mùa xuân nhập cõi, cho tha hồ trăng vơi đầy ( Tin Xuân, Bách Khoa xuân Tân Sửu, 19.01.1973.)

Như thế, chặng đường ý thức vào dịp đầu xuân dường như đã nhường bước cho truyền thống. Dự phóng đầy chất thơ được hương xuân gợi ý, như thế phù hợp với cõi mộng của nhà thơ nhưng xa vời với những tác động từ thực tại.

Ba Kiếp Lang Thang mới là sự tiếp nối dòng trầm tư ngát hương quỳnh tháng bảy. Hương thanh cao giục người phủ định lầu mộng đã xây do sự vô hiệu vô nghĩa của thời gian trống rỗng. Cả bốn khổ thơ đều là hình ảnh của ảo tưởng bị phơi bày, của giấc mơ bị cáo giác điều huyễn hoặc. Điều mà chân tâm khai thị hôm nay chính là sự trở về với con người thực, không tìm kiếm giá trị trong ảo ảnh. Thi nhân là người đã mượn tiền kiếp để ruồng rẫy hiện thân và chặn đường về hậu kiếp. Người từng tìm trong liêu-trai không chỉ một nơi nương náu cho tâm hồn mà cả nguồn năng lượng xây dựng nhân sinh quan và thế giới quan gần gũi với quan niệm của người xuất thế. Nhận thức hôm nay về những thất bại hôm qua khiến cho việc trầm tư của thi nhân nằm trong một tiến trình tư tưởng, một bước tiến vượt thoát của con người cảm thấy được nỗi đau của sự bế tắc.

Kết luận của người không chỉ là nhận thức đơn thuần mà ngầm chứa đựng lời kêu gọi của người truyền rao chân lý. Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau gần như là tiếng nói của người đối diện với sự thật sau cùng, kêu gọi sự cảm thông giữa những người cùng chung cảnh lỡ làng. Sống mà như buông trôi thân thế. Thi nhân đã tỏ hết nỗi đau mất mát trọn vẹn thế giới thanh-sắc quen thuộc năm xưa. Một sự mất mát có ý nghĩa tương tự việc ánh sáng ban mai lấy đi bóng tối, cái rét mướt mùa đông phải nhường chỗ cho ánh xuân tươi.

Ba kiếp lang thang ngồi chụm lại.Thế hệ trước đều tự nhận kiếp lang thang khi mà phương hướng nằm trong tay thời thế. Lang thang còn là tiền kiếp của không ít người đương thời khi ngôi sao bản mệnh là cô đơn. “ Còn một điểm chính của giấc mơ là ngôi nhà nhỏ lý tưởng của tôi phải được nằm trên đất nước Việt Nam nếu nó phải nằm ở trên đất người thì mộng vẫn chỉ là mộng. Và suốt đời, nửa con người tôi vẫn chỉ lang thang đi tìm nửa con người tôi ở quê hương mà thôi” ( Minh Đức Hoài Trinh, thư Phnom-Penh 9.3.1973.) Nỗi lòng của kẻ tri âm đã được thực tại giản lược nhiều đến mức tưởng như chỉ là tâm sự một kẻ sống xa quê và nhớ nhà vò võ. 

Lang thang không là định mệnh của riêng kẻ xa quê. Lang thang là hiện thân của cô đơn. Người buộc phải lang thang là kẻ phải thường xuyên soi chiếu lòng mình với niềm tin của kẻ chuộc tội.

 

------------------------------------------------

(*) Bài thơ này được in lại trong tập Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau ( Rừng Trúc, Paris, 19.01.1974), và lấy một câu  làm nhan đề cho tập thơ gồm 10 bài. Bài thơ được đặt ở cuối tập, giống như nguyên tác đăng trong Bách Khoa, kể cả từng dấu trong mỗi câu. Duy ở cuối bài, thời điểm sáng tác lại ghi rằng 10.7.1973.

----------------------------------------

 66- TÌM ĐƯỢC MẦM ĐAU

Phật rằng: trong Lửa có hoa sen

Lửa mách người: trong Nước có tiên

Nước réo: trong Cây đều có quỷ

Làm yêu làm quái...để tìm quên

 

Lời yêu: quên được đã quên rồi !

Thánh vẫn than trong Vàng đấy thôi

Uổng có miệng thêu lòng nở gấm

Dao vung lên cũng đứt làm đôi

 

-Còn trong Đất, chẳng có gì sao ?

Nghe hỏi, Cây-trên-bến nghẹn ngào,

Cuội chợt khóc vang... người chợt tỉnh !

Có mầm Đau rắc tự trời cao !

1973

(Vũ Hoàng Chương, Có Gì Ở Trong, Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, 1974)

Thi nhân làm một cuộc truy tầm chân lý. Điều có thể đưa người đi xa hơn vào cõi trầm tư và sẽ cất lên lời nghi-hoặc về vai trò của người làm thơ. Nhưng trong cuộc đi tìm kiếm sự thực này, thơ vẫn làm chủ cuộc đi tìm và thi nhân không đóng vai trò người nghị luận. Chính Thơ đã chỉ cho người rằng, một cách không ngờ, mầm sinh-diệt chứa đựng sẵn trong mỗi nhân tố. Phật rằng: trong Lửa có hoa sen. Như thế, cũng nhờ Thơ, chúng ta mới biết thêm rằng cái đối nghịch, tương phản đã làm nên sự vật. Thơ không là triết lý nhưng mở một con đường tuyệt diệu cho tư tưởng xâm nhập vào lòng người nhẹ nhàng, dịu dàng như cách con người đón nhận thơ thuần túy.

Cũng tự Rừng phong năm xưa, thi nhân đã dẫn Trang Chu bước vào lãnh địa thơ khoan thai như người chủ của một cõi tuyệt diệu ngôn từ

ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi

chưa từng hoen ố vết trầm luân

đêm nay xuống một bài thơ trắng

cầu nguyện cho đời nở ái ân

( Thoát Hình, Rừng Phong, 1954)

Thi nhân đã mở rộng lầu thơ đón khách trầm tư như bất cứ người chủ nhân hào phóng tâm hồn, và không vì thế mà nêu thành điều cần cân nhắc lý trí. Cũng như khi người trở thành người làm thơ đầu tiên dẫn lối cho khách thơ viếng thăm hành tinh trái đất quen thuộc của chúng ta như tìm được một suối nguồn bất tận của rung động, cảm giác và suy tư được dấy lên như ngọn triều

đại lục buồn soi bóng đại dương

cỏ hoa rừng đảo úa dần hương

cũng như trái đất khô dần nhựa

còn chỉ còn dư vị chán chường

( Đăng Trình, Hoa Đăng, 1959)

Sự có mặt của thi ca và tư tưởng bên nhau dường như chỉ được đặt ra với Bùi Giáng khi ông nêu lên sự len lỏi và xâm nhập của tư tưởng vào thơ và trình bày theo cách riêng của người thi sĩ. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi người đọc thơ Bùi cho rằng, khi lịch sử thúc đẩy thơ trở thành “cuộc hội thoại giữa thi ca và tư tưởng” và trong trạng thái mệnh danh “cách điệu tương ứng song trùng “ từ đó “ thi ca trở gót về trong ngày tháng ngao du, trời đất bỗng dậy lên những niềm tư lự” ( Tuệ Sỹ, Thi Ca và Tư Tưởng, Văn, gp, 18.5.1973.) Sự thành công của thơ cũng chính là sự phối hợp toàn bích giữa thơ và tư tưởng. Thơ sẽ là một khối nhất nguyên, không phân biệt được đâu là tư tưởng, đâu là thơ. Và cả sự phân biệt cũng không còn cần thiết nữa.

  67- ĐÂY BÓNG HOA NGUYỀN

hoa cũng môi nâu cũng má huyền

theo ai về tận gác Phi yên

cánh nửa vời hư thực

tìm bóng trong ngôi đền

kìa ai vừa giữa ngực

trái gương thề sáng lên

anh hồn ngơ ngẩn túc duyên

phải chăng đây bóng hoa nguyền

bóng ấy không ai lường được

nếu không dùng kích thước

tỉnh và mê hai nửa gắn liền

ở khắp mọi chòi canh

khi mạch máu tự thay phiên

ngươi hỡi Thạch man Khanh

chúa tể Phù dung thành

có phải Huyền lan

một chồi đau phóng trục

đang chuyển kiếp vào hoa Anh túc

loài hoa dạ nữ thời danh

làm sứ giả cho ngươi vừa đến giục

e gã say quên đứt cuộc song hành

sẽ khởi từ đêm Bến lục có hồi thanh

chính đêm nay

khiến cho giòng máu gã

phút nửa chiều buông thả

bỗng trăm ngàn huyệt đạo rối phiên canh

ta mà quên được sao

họ Thạch ngươi dễ gì quên bản thân ngươi là đá

thì gác Phi yên khoảnh khắc mà

cũng ở phía bên kia giòng ảo hóa

còn đây em Huyền lan

ngôn ngữ màu nâu của từng nét họa

nóng như lửa cơ sắc ngọt dao hàn

vẫn đậm lợt triền môi đỉnh má

như vang dội niềm đau tất cả

lột xác ngay đi

ta truyền lệnh cái đang tàn

lệnh đốt bằng lửa quỷ

lệnh cắt bằng dao oan

hãy lột xác để còn nguyên hương vị

lời hoa vừa nửa hé âm đàn

ôi nàng Lan má huyền môi nâu

cánh xiêm y vàng úa năm canh sầu

chỉ có ba cánh nằm chung cùng mặt phẳng

còn hai chênh chếch hờn mưa nắng

định bay vào mãi đâu

vào tim ta một phiến gương nhầu

chứ sao không

ở tận đáy chiều sâu

ta vẫn đón chờ em như thuở xưa Hà nội

vượt đêm lạnh tìm em trên gác tối

cởi bừa  gió bấc trăng thâu

ném bên đèn

phố nào ai nhớ nổi

Mã mây hay Đầu cầu

 

gác Phi yên chợt đổi màu

gió vừa ươm sợi trăng vừa dệt

ta đành mất hết

để còn nhau

còn nhau

cuối Xuân Giáp Dần

( Huyền Lan Trường Từ, Văn, 5.1974)

 

Bài từ viết khi mùa xuân vừa qua, nghĩa là niềm náo nức cho ước mong, đợi chờ đã đều lắng xuống. Có vẻ như bài từ viết cho nàng tiên nâu, người mà thưở còn chưa úa tóc, người đã nguyện, “trong tay em dâng cả tháng năm thừa.” Từ đấy người vẫn giữ lòng thủy chung gắn bó. Và nay, dùng bài từ để lặp lại lời thệ nguyện năm xưa, tuy không sôi nổi, nồng nàn như thuở nọ.

Nhưng việc lặp lại lời nguyện bên ngọn đèn có còn cần thiết hay không khi người thơ đã ngót một đời không rời đôi cánh khói.

Hãy nghĩ rằng, phải chăng thi nhân muốn nhờ thơ vạch một kiếp khác cho nàng tiên má hồng nâu thay cho lời xác nhận việc một đời gắn bó. Điều mà người làm thơ đã từng làm như thế  với những nàng thơ hư ảo nhiều hơn là thực.

Bằng thể từ, thi nhân viết lại một truyện ảo huyền là loại truyện người từng đặt bút và đặt một nhan sắc thực làm một thứ nghi dung. Nhan sắc ấy theo đến tận  gác Phi yên, cũng là gác Khói, tièn thân của Mây vốn thênh thang một cõi. Hoa cũng môi nâu cũng má huyền  /  theo ai về tận gác Phi yên. Với thi nhân, lan Huyền phải thuộc duyên kiếp trước vì trái tim người đã xao động tự ban đầu. Trái tim thề đã sáng lên giữa ngực.

Nàng thơ mới của thi nhân có dáng dấp nhan sắc hệt như nàng tiên má hồng nâu và có tên Huyền lan thay vì mặc lan. Lan màu huyền mà không là mặc lan vì cõi thực-hư đã được phân định rõ ràng

thì gác Phi yên khoảnh khắc nào

cũng ở phía bên kia giòng ảo hóa

còn đây em Huyền lan

ngôn ngữ màu nâu của từng nét họa

nóng rực lửa cơ sắc ngọt dao hàn

Người thơ không dấu sự rung động của trái tim mềm yếu, sẽ hồi sinh trong nhịp mới hân hoan

vào tim ta một phiến gương nhầu

chứ sao không

ở tận đáy chiều sâu

ta vẫn đón em như thuở xưa Hà nội

Lời kết đưa ra có vẻ là lời tuyệt vọng thay vì là sự chấp nhận mạnh mẽ việc bỏ lại mọi điều

ta đành mất hết

để còn nhau

còn nhau

Nguyên ủy là có lẽ là lần thứ nhất, thi nhân đã nhận ra cái đẹp như mộng của gác Phi yên, chốn của thi nhân được mang tên mới cho hợp với cái thực tế không thể khước từ. Gió vừa ươm sợi trăng vừa dệt.

Người điểm thơ xuân họ Vũ có nhắc đến bài trường-từ này và xem như nội dung nằm trọn trong mấy hàng cuối nêu trên. Tình thực có như thế không, khi Ba-kiếp-lang-thang-cùng-chụm-lại, đưa ra một công án về cuộc đời  bằng thơ lẫy lừng của người từng hoán đổi thân thế một đời bằng nghiệp lãng tử. Còn cái kết của bài từ Huyền lan là chung cuộc của một giấc mộng mới nhất nhưng đồng dạng với những giấc mộng xa xăm, bồng bềnh như mây và lãnh phận biệt xứ.

 

68- THOẠI CỦA BÀI 4 TRONG 8 BÀI NGẪU CHIẾM

Một buổi đề mai có chúng mình

Hương còn phảng phất cả hai kinh

Biết trong thời loạn Mây chưa gác

Hoa trắng lòng thu Phụng vẫn minh

Ôm gối chẳng ưng làm viễn khách

Nhớ xuân lại muốn vượt cao đình

Rượu kia đàn ấy sầu không phá

Thì khói Trùng dương tự khởi binh

( Tám Bài Ngẫu Chiếm, Văn, gp, 4,3,1975)

Gần đây, một người sành cổ ngoạn đã cho ta xuất xứ và cũng là giai thoại chạy quanh bài ngẫu chiếm thứ 6. Chuyện nhà thơ Vũ gặp gỡ Vương ông tại Vân Đường trên chiếc quý phi sàng trong một giờ hoàng đạo.

Còn bài thứ 4 trên, việc tìm ra giai thoại phải là công việc của người đọc thơ vì ngẫu chiếm tự nó đã cho biết 3 chiều của không gian sự việc.

Người viết sách Chiêu Niệm Văn Chương ( Khởi Hành, CA, 2000) thuật lại buổi đi thăm chùa Phụng Sơn với một số văn hữu vào một sáng mùa hạ năm 1970 có gió mát và chim ca nơi sân chùa. Chuyện vãn với cụ Vương, nhà thơ Vũ, nhà thơ Nguyễn Vỹ và vài người khác thuộc lớp tuổi ông.

Nhà thơ Vũ, khi ấy chưa quá yếu để tránh việc ra ngoài nhưng đã tìm dịp ngả lưng trên chiếc võng mắc sẵn giữa hai cổ thụ. Trong khi cụ Vương, dưới con mắt nhà khảo cổ, có dịp giúp người đi chơi cùng hình dung ra thế đất quý của ngôi chùa để phượng hoàng đậu cánh.

Cuộc du ngoạn quy tụ một nhóm nhỏ người. Viên Linh và Nguyễn Vỹ không dự vào Văn Bút nên khó có thể nghĩ đây là cuộc sinh hoạt ngoài trời của nhóm này. Người viết bài này chưa tìm lại được chứng cứ  hội văn-chương mà nhóm họ có mặt, chưa có được hoạt động gì ngoài việc viếng cảnh chùa Gò kể trên.

Bài Ngẫu Chiếm 4  là cuộc trở về của ký ức không xa. Nói rõ hơn là hồi tưởng lại chuyện cũ thưởng hoa, một thứ bạch mai hiếm gặp. Hoa trắng lòng thu Phụng vẫn minh.

Nhà thơ Vũ vốn có biệt tài trong việc đưa vào thơ những từ ngữ được dùng ngoài việc chỉ đích danh. Câu thơ ghi trên  chỉ giống bạch mai của nhà chùa, và tên con đường cũ chạy trước mặt chùa, đường Minh Phụng. Bài thơ cũng nhắc đến nơi nhà thơ đang tá túc. Gác Mây. Biết trong thời loạn Mây chưa gác.

Hai câu đầu là câu hoài niệm Đông Hồ, thuở họ đến dưới gốc mai nơi sân chùa cùng đề thơ. Người ngoạn cảnh đã xem cây mai này cùng giống với bạch mai ở Mai-Sơn ( đồn Cây Mai) và nơi lăng họ Mạc ở Hà Tiên

Một buổi đề mai có chúng mình

Hương còn phảng phất cả hai kinh.

Đất Hà-tiên, giang sơn một cõi của họ Mạc, có kém gì Gia định, kinh đô một thời của chúa Nguyễn.

Thi nhân nói đến cái sầu xa vắng và nhắc đến buổi xướng họa vào tiết Trùng Cửu năm Đinh Mùi 1967 như cách làm khuây nỗi nhớ ( Vũ Hoàng Chương, Đại-Ẩn Am Không, Văn, 145, 1.1.1970)

Rượu kia đàn ấy sầu không phá

Thì khói Trùng dương tự khởi binh

Tứ thơ trên cũng tìm thấy trong bài thơ Vũ tưởng niệm Đông Hồ vào hội thơ nhân tết Thanh-minh, một buổi họp mặt thơ diễn ra 28 hôm sau khi Đông Hồ mất

Ngọc nhân lai hề lạc hoa vô thanh

Vạn đội tửu binh hề nan phá sầu thành

( người ngọc tới chừ hoa rụng không tiếng

muôn đội binh rượu chừ khó phá thành Sầu)

Còn hai câu kế

Ôm gối chẳng ưng làm viễn khách

Nhớ xuân lại muốn vượt cao đình

Có lẽ để đáp lại ý thơ mà Đông Hồ gửi gắm trong bài thơ họa vào dịp Trùng Cửu nói trên

Rồng ở sâu và Tiên ở cao

Thơ làm lơ lửng giữa ai trao

Ta về tháng chín ngày mồng chín

Ta ở nơi nào tự thuở nào...

(  trong Đại-Ẩn Am Không, Vũ Hoàng Chương, Văn, 145,1.1.1970)

Úc Viên Thi-Thoại không thấy chép việc đề thơ dưới gốc bạch mai chùa Phụng-sơn ( chùa Gò) nhưng lại chép kỹ chuyện gốc bạch mai tại di chỉ chùa Mai Sơn, tương truyền là chốn ngâm vịnh của Bạch Mai thi xã, ở kế bên, và  từ lâu đã trở thành doanh trại quân sự.

Còn chùa Phụng-sơn cũng từng là đất cũ của văn chương với một nhóm thơ thành lập tại đây năm 1950  lấy tên Minh-Phụng và có được tiếng nói riêng ( Huỳnh Minh, Gia Định Xưa và Nay, 1973.)

Xin chép lại nơi đây một trong những tiếng thơ làm chứng cho dấu vết văn chương dưới gốc bạch mai đã thành huyền thoại

xuân tàn, phượng nở gọi hè sang

hồn quốc thiết tha tiếng gọi đàn

văng vẳng nhạc sầu ve trổi giọng

mộng hồn vơ vẩn gởi mười phương

( nữ sĩ Song Hường, Tao-Đàn Minh Phụng tập 5)

  

69- BÀI 5 NGẪU CHIẾM

Thơ trao bạn đọc mây nghiêng lầu

Giữa tiệc cùng gieo ngọc ném châu

Này Trúc Cao đình Mai Thạch hãn

Kìa lan Trần mộng quế Đan khâu

Lòng như người đẹp phương trời nhớ

Tình vẫn sông dài nghĩa bể sâu

Hãy giọng ngâm vòng tung cánh bướm

Mà lên cho tới bất kỳ đâu

Nhà viết kịch Tinh Vệ kể lại chuyện cũ rằng ông được giải thưởng Văn học Nghệ thuật về bộ môn kịch 1967-1969, vở Cơn Lốc, nhưng bận xuất dương du học. Khi trở về thì được người bạn nhận cùng giải đồng hạng trao cho cánh thiếp ghi 2 câu ghép tên và  tác phẩm người được giải do nhà thơ Vũ “múa bút trong nháy mắt đã thành thơ “ ( Diệu Tần, Làng Văn, số 109, 11.1993.) Đó là khoảng đầu năm dương lịch 1970 là thời gian thường lệ công bố và trao giải văn chương. Và có lẽ là lần hiếm hoi, cái tài vận dụng chữ nghĩa như “sái đậu thành binh” của nhà thơ mới được biết đến rộng rãi. Có thể trong những trường hợp như trên cái mẫn tiệp đã thay thế cho hồn thơ nhưng dường như quyết đoán như thế chưa đủ. Vì giữa thơ và văn được ghép thành vần điệu vẫn có khoảng cách phân biệt được khá rõ

nước-mắt-cho-quê-hương khổ đau

thêm dài Tình-biển-nghĩa-sông sâu

trên-quê-ta-đó còn sơ sác

lời-gửi-cây-bông-vải cũng sầu

Trong cả 4 câu, những chữ có gạch nối liền đều là tên tác phẩm thơ đoạt giải lần lượt của Lê Minh Ngọc, Hoàng Thoại Châu, Tường Linh và Trần Tuấn Kiệt.

Riêng các tác giả thơ dường như được ưu ái hơn nên cũng được nêu tên cùng tác phẩm

Một phen nhả NGỌC phun CHÂU

ĐỊA linh nhân KIỆT từ lâu tiếng đồn

Vang rền đợt sóng vũ môn

Lắng nghe nước Việt thả hồn trong thơ

Để chứng tỏ tài quán xuyến phi thường của tác giả với chữ nghĩa, sự thay đổi vị trí thứ nhất lần lượt của mỗi câu trong 4 câu đầu, sẽ thành bài thơ dành tặng từng tác giả một ( Bách Khoa, số 315, 15.2.1970.)

Nhà thơ Vũ còn lưu tình với tập “Thơ Điên” của một nhóm người bệnh trong đó có 2 người bạn cầm bút có tiếng. Bùi Giáng và Nguiễn Ngu Í, tên ở ngay câu đầu. Lang, Hiệp là tên hai vị bác sĩ điều trị tại dưỡng trí viện mang tên Bác sĩ Nguyễn văn Hoài

Giáng Hương Tâm Í trời Quang đãng

Mộng Thúy Kiều xanh mây Giác Duyên

Vẳng giọng Hoài Lang môi Hiệp nữ

Anh  hoa về thắm giữa “ Thơ điên.”                                                                                            

Trở lại bài ngẫu chiếm số 5 được ghi lại trong buổi họp mặt một số thi khách quen tên của hội Quỳnh Dao tại Gác Mây. Thơ trao bạn đọc mây nghiêng lầu. Những người yêu thơ ấy có lẽ lần đầu được Thơ điểm danh như bất cứ ngôn ngữ thơ nào được thi nhân động tay. Tên người hay bút hiệu cho dẫu là mỹ danh cũng cần được nhà thơ cho phép nhập cõi

này Trúc Cao đình Mai Thạch hãn

kìa lan Trần mộng quế Đan khâu

Bên những chữ nghĩa được nâng niu chuốt lọc hồn người cũng cần một cánh bướm vàng mới đủ nghĩa chơi vơi. Hãy giọng ngâm vàng tung cánh bướm.

Người biết chuyện kể rằng “ cụ Vũ và bà Thục Oanh thì khỏi nói, thương mến Hồ Điệp như em cháu (...) Hễ ngâm đến hai câu. Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa / Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh, là nước mắt Hồ Điệp tuôn như mưa, có lần khóc đến nỗi nghẹn cổ, không ngâm tiếp được.” ( Hồ Trường An, Làng Văn, số 109, 11.1993.)

Bốn câu thơ nhà thơ Vũ xa gửi  Lưu Trọng Lư chiều nào ở gác Mây cũng được Hồ Điệp rót vào hồn người nhân tiết trùng cửu Ất Mão (24-10-1975.) Trầm phai, đàn lạnh, ma không dạo. Đêm xế về khuya lạc tiếng gà.

 70- ĐỪNG GIỤC CƠN SẦU

xưa hạc vàng bay vút bóng người

đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi

vàng tung cánh hạc đi đi mãi

trắng môt màu mây vạn vạn đời

cây bến Hán Dương còn nắng chiếu

cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi

gần xa chiều xuống đâu quê quán

đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

6.12.1975

( Đường thi chuyển sang thơ Việt, Từ Quang, số 3, 1.1977 và Quê Mẹ, Paris, số 4)

Thơ Vũ từ sau biến cố 1975, hiểu theo nghĩa của thơ, đều mang tính chất sứ điệp của Thơ gửi ra thế giới bên ngoài, và đều có một lịch sử châu tuần quanh đó. Câu chuyện Mai Thảo về trường hợp ra đời một bản dịch của Hoàng Hạc Lâu có thể, ít ra, nối vào câu chuyện nguồn cội của bài thơ mà nay đã thuộc về huyền sử.  Lịch sử nếu có dính dấp chút gì với cái phi thường thì được liệt vào huyền sử. “ Và ông cười, đọc bài Hoàng Hạc Lâu của Lý Bạch đời Đường do Vũ Hoàng Chương nước Việt và đời sau làm thay cho. Thằng Lý Bạch. Thằng Đỗ Phủ. Thằng Thôi Hiệu. Ở một người khác đó là cách nói ngạo sược, nhưng tuyệt nhiên tôi không thấy sự ngạo sược ấy ở Vũ Hoàng Chương. Thơ ông, lúc cuối đời, đã bay vào muôn đời. “ ( Mai Thảo, Chân Dung, 1985.)  

Như thế, cho đến mấy ngày đầu tháng 4.1976,  thời gian Mai Thảo còn có thể ghé Gác Bút uống chén trà và nhìn ngắm ngọn lửa tịch mịch trên chiếc chiếu, chứng tích một đời thơ, nay đã trở thành di vật.  Sau đó, ông buộc phải làm kẻ bôn đào. Ông đã nghe Vũ đọc những bản dịch Hoàng Hạc Lâu, trong đó có bản dịch Vũ viết  ra vào một ngày tháng chạp 1975  tại Gác Bút. Một bản dịch không muộn màng chút nào vì nó cần một hoàn cảnh mất mát chua xót để ra đời mà không là hứng thú cần thiết cho một bản dịch

gần xa chiều xuống đâu quê quán

đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

trong lúc bản của Tản Đà ta chỉ được nghe cái sầu hoài chan chứa của một tứ thơ. Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Còn với Vũ, là một quê hương đã mỏi mắt trông tìm.

“ Đã nửa năm từ những buổi chiều tím thẫm hoang mang của Sài gòn, thi sĩ từ một đầu hiên Tý Ngọ nhìn thấy câu thơ tuyệt diệu “ trời ơi giọt biển chứa dư tang điền” của mình hiện hình thành cái giọt biển đích thực long lanh trên giòng nhân thế đổ qua chân tường Gác Mây. Đã năm tháng trên Gác Bút không hề gác bút. Và thơ sống những ngày tháng của thơ giữa một đất Hoa Lư đã túng quẫn đến cùng cực.” ( Mai Thảo, Chân Dung, 1985)

Thi nhân Vũ hầu như luôn sống trong mâu thuẫn  mạnh mẽ giữa mộng và thực, giữa chân và hư, giữa sự dằng co của hai thế giới luôn thu hút con người về một phía. Gác Bút, lãnh địa sau cùng của Thơ, đã giữ vẻ đạm bạc đến mức tuyệt đối có thể  định danh để cho Thơ có thể đạt tới giới hạn của vô cùng, phá vỡ biên cương lan tỏa.

 

71- QUANH CHUYỆN TA ĐÃ LÀM CHI ĐỜI TA

Cuộc họp mặt tại quán Hầm Gió, số 128 đường Võ Tánh, nhân phát hành cuốn sách viết về một người làm nhạc, Phạm Duy, Còn Đó , Nỗi Buồn vào một sáng chủ nhật đầu tháng 4.1971, quy tụ một thành phần người đến dự khác thường. Có cả những giáo sư, học giả ngồi cạnh người viết văn, làm thơ, soạn nhạc quen thuộc. Điểm khác thường nữa là cuốn sách của một họa sĩ tên tuổi viết về một nhạc sĩ lừng danh ngoài chuyện là ký ức của một người bạn  về một người bạn. Mặc dầu lúc đó, Tạ Tỵ, tác giả cuốn sách trên, đã cho biết cái tài nhận định tác phẩm và thuật chuyện về mười tác giả thời danh trong Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, ra đời năm trước (1970.)

Cuộc họp mặt còn có thêm mục đích nữa, với sự cộng tác của tạp chí Sử Địa, là nhằm cổ động việc làm của Tạ Tỵ, thúc đẩy việc viết tiếp về những người từng chứng tỏ sự tận hiến cuộc đời trong lãnh vực văn học nghệ thuật. Phạm Duy có nhắc đến trường hợp nhà thơ Vũ như là một thí dụ điển hình ( Bách Khoa, 343, 15.4.1971.)

Những người như Vũ, trải qua mấy chặng đường sáng tác, đã có đủ chín chắn để viết về mình. Dường như nhà thơ cũng vững tin để đặt tên cho tập kể chuyện một thời, Ta Đã Làm Chi Đời Ta.

Một câu thơ xót xa đòi đoạn của một thời phóng túng hình hài.  Khi công bố việc đang làm, nhà thơ muốn tự thuật lại chuyện mình không qua cái nhìn của người ngoài cuộc, dẫu là đồng cảm.

Qua cái hồn nhiên, thành thật sống của những người trong cuộc trong tập hồi ký, dẫu là phóng đãng theo cái nhìn từ một chuẩn mực xã hội, chúng ta có thể hiểu được họ hơn, thay vì buộc họ phải sống và nghĩ theo những gì chúng ta muốn.

Cuốn bút ký của nhà thơ không làm gì hơn là trần thuật, giãi bày một quãng thời gian của tuổi trẻ mà ông đã ngậm ngùi cho dù là thuộc về thi hứng. Quãng đời mà ông chưa hề tỏ ý tự hào hay nâng niu và mặc dầu không phải là những năm tháng sống trong sự hoàn toàn phóng nhiệm. Thơ Say không phải được in lại sau ba mươi năm do một cái duyên tình cờ. Khoảng thời gian được thơ tiên định chính là thời gian cần thiết để quãng đời được nhìn lại như một kinh nghiệm không phải để chôn vùi. Thơ Say được in lại vào lúc nhà thơ trầm ngâm một quãng đời khi đặt bút. Tập thơ nhắc nhở một dĩ vãng không thể bị bỏ quên khi vai trò của nó chưa hoàn tất. Thế hệ từng chịu sự dằn vặt hay xót xa từ tập thơ vẫn muốn chung mối ưu tư với thế hệ kế tiếp.

Ba năm sau, tháng 6.1974, tập hồi ký mới ra đời nhưng không từ tay Lá Bối như người trông nom nhà xuất bản sốt sắng nhận lời hôm gặp gỡ. Ta Đã Làm Chi Đời Ta, do cơ sở Trương Vĩnh Ký xuất bản, cùng lúc với sự ra đời một số sáng tác, biên khảo  và dịch thuật đáng lưu ý trong năm: Mảnh Vụn Văn Học Sử của Bằng Giang, Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta, đánh dấu 20 năm văn học miền Nam, Chân Dung Hồ Biểu Chánh của Nguyễn Khuê, Văn Học Nam Hà của Nguyễn Văn Sâm, và 2 truyện dịch có tiếng: Nhật Ký của Anne Frank bản dịch của Bửu Ý và Câu Chuyện Của Dòng Sông, bản dịch Phùng Thăng và Phùng Khánh.

Một phần hồi ký được trích đăng trong Văn ( Duyên Thơ Nợ Kịch, Văn, 15.1.1973 – Mây Xuống Gió Lên, Văn, 196, 15.2.1972)) và Khởi Hành ( Người Xưa Giờ Đâu ( K.H, 123, 23.9.1971- Nhất Thống Tiên Sinh, K.H. 129, 4.11.1971)

Ta đã làm chi đời ta, nên là điều tự hỏi lòng, không cứ là những người thuộc thế hệ nhà thơ còn mải băn khoăn vì câu hỏi không bâng quơ được lặp lại.

 

 72- BÀI THƠ HUYỀN THOẠI

Người đọc báo còn nhớ Tuần báo Khởi Hành số 123 ngày 23.9.1971 trên trang đầu trịnh trọng ghi : kể từ số báo này,  nhà văn Võ Phiến và nhà thơ Vũ Hoàng Chương sẽ có mặt hằng tuần trên báo.

Thực ra, bài thơ dài “Huyền Thoại Cuối Cùng” của Vũ đã in trên tạp chí này từ số trước ( số 122  ngày 16.9.1973.) Đến số tạp chí được thông báo long trọng trên, nhà thơ không đăng thơ mà ông đăng bài văn xuôi, gọi là bút ký văn nghệ, có tên “ Người Xưa Giờ Đâu ?” Bài bút ký ghi lại một câu chuyện thơ giữa Hoàng (nhà thơ) và Đinh Thứ-lang ( Đinh Hùng) về  một nhà thơ đất Vị Xuyên, em vợ ông Tam Nguyên Trần Hy Tăng.

Ông Vũ còn cho đăng tiếp khá đều, bài thơ “Trầm Tư Trên Giường Bệnh” ( số 125 ngày 7.10.71) và kết thúc bằng bài bút ký thứ nhì, Đoản Đình Trường Đình ( số 127 ngày 21.10.1971), viết tại Sài-gòn tháng 8, để ghi lại chuyến đi năm 1965.

Riêng Võ Phiến, vẫn cần cù, đều đặn hằng tuần với tạp bút mang tiêu đề Đi Trong Đất Nước, và mở đầu bằng Thơ Lục Bát Chàm- Mưh Lơi Mưk Đih. Rồi, Trứng Cùng Một Bọc, Một Làng Biên Giới, Khi Quần Chúng Du Lịch. Và cứ tiếp tục sau khi nhà thơ Vũ đã dừng bút.

Huyền Thoại Cuối Cùng tròn 100 câu, ghi lại một huyền thoại mới về mặt trăng. Giữa lúc những con người máy - sản phẩm của tư duy khoa học- một mực cho rằng mặt trăng là nơi hoang vu, không có sự sống, thì chỉ có Thi nhân nghĩ khác, xem đây là cung điện của Hằng Nga. Đây gần như là kêu cứu của người làm thơ trước hiểm họa mà thi nhân nghĩ là khốc liệt, toàn diện nhưng êm thắm vì diễn ra trước sự làm ngơ hay bất cập của ý thức con người.

Thi nhân đã cất tiếng báo nguy ngay từ Tâm Tình Người Đẹp (1961) nhân đề cập những huyền cảm dân tộc qua các thời đại. Thi nhân nói đến cái viễn tượng hãi hùng của nhân loại khi máy móc nắm trọn quyền làm chủ trái đất, chi phối đời sống tinh thần và tâm linh của con người

Máy hất người ra khỏi lối đi

Bơ vơ Nhân loại chắp tay quỳ

Bỗng nghe rờn rợn lời đanh thép

Trời Máy là ta ...Con nguyện chi ?

( Thượng Đế Ngày Mai)

Cũng như lo ngại trước sức tàn phá của vũ khi đương đại đem lại sự hủy diệt toàn diện, kể cả huyền thoại thuở thanh bình

Một thời nguyên tử đã đi qua

Khiến mặt trăng đầy nốt rỗ hoa

Bóng vẫn còn in cây nấm độc

Ai rằng cây quế với cây đa

(Viễn Tượng Kinh Hoàng)

Nỗi ám ảnh trước sự ngự trị của tinh thần khoa học, duy lý, khi đó tinh thần nhân bản bị triệt tiêu và vai trò con người trong xã hội bị ước lược đến mức cực tiểu

Đo màu mây sớm nét mưa chiều

Đo cả hơi đàn cả tiếng tiêu

Con Số ra tay đè nén mãi

Con Người phận mỏng đến bao nhiêu

( Phương Trình Số Phận, Thi Tuyển)

Nỗi âu lo cho viễn ảnh một xã hội cơ khí, con người khô cạn tình cảm và thui chột ước mơ.

Máy vặn lên, Người chẳng xót thương

Cung đàn cạn máu phách trơ xương

( Đài Hoa Nhạc Mộng, Thi Tuyển)

Khi khoa học ngự trị trên trái đất và xã hội loài người, thì mặt trăng hay cung Hằng, cảnh giới ước mộng muôn đời của con người được thi-nhân dẫn lối, nay trở thành mục tiêu chinh phục hủy diệt. Nhưng thi nhân là người duy nhất bác bỏ lời bịa đặt về cung trăng và xác nhận sự có mặt của Hằng Nga và thế giới chan chứa mộng vàng nơi cung Quảng. Nơi Hằng Nga không có tuổi, cỏ hoa đều có linh hồn. biết vui buồn và mơ ước. Thi-nhân noi theo Hậu-nghệ nuôi cỏ Bồng làm tên chờ ngày bắn rơi MặtTrăng để đưa người yêu Hằng Nga cùng về cõi Vô cùng. Nhưng tên cỏ Bồng không có hiệu lực, thi nhân tự đốt mình làm đuốc, giục cỏ Bồng cùng nhắm đến mặt Trăng. Thi nhân giải thoát được Hằng Nga nhưng chàng, từ đấy lìa xa quê Đất.

Từ dấy, người Máy ngự trị cõi người, truyền đi tin rằng, Lửa thiêng đã xé đất để lên trời. Cõi người từ đấy không còn có tình và rồi lạnh lẽo hiu quạnh như trăng

Thi nhân lìa bỏ cõi Người

Giai nhân cũng gót hoa rời Mặt Trăng

Huyền Thoại Cuối Cùng của Vũ là huyền thoại đầy đủ nhất và sau cùng về Trăng sau khi thi nhân đã hoàn tất sứ mệnh của Thơ trên cõi thế. Theo cách riêng, nhà thơ họ Vũ đã tấn phong ngôi vị của Thơ và vai trò của thi nhân trong việc trưởng dưỡng ước mơ vun trồng dự phóng. Ước mơ không thể là bất cứ hình thức nào của tham vọng, mà là một trong những hình thức biểu hiện của tình cảm, của sự phát triển mối dây thân ái, của sự thúc đẩy nẩy nở trữ tình trong tâm hồn và trí tuệ. Từ nhiều đời, Hằng Nga trên cung Quảng đã bước ra khỏi ánh trăng cùng thi nhân hát khúc ca mừng cho mơ ước lên cao và lan xa làm nên một hành tinh mới mang tên Hy-vọng.

Thi-nhân của chúng ta có dự cảm mạnh mẽ hơn ai về một quê Đất lạnh lẽo ước mơ và trái tim khô héo một khi xã hội con người được thiết kế tương quan bằng con số và cơ tâm. Huyền thoại cuối cùng của thi nhân là hồi chuông báo tử thật dài khi sứ mệnh của Thơ buộc phải cáo chung và khi điều mà thi nhân tiên tường đã trở thành sự thât.

Nguyệt cầu, nơi hoang vu cằn cỗi

Không cả đến rong rêu, nói gì cây cối

Mơ gì vang bóng Lạc viên

Không cỏ hoa, dầu cỏ dại hoa hèn

Còn ước ao gì phố lạ với hương quen

Lũ Người Máy hay Máy Người cũng thế

Đã từng phen ngạo nghễ

Phát ngôn điều ấy khắp Tây Đông

Ôi, một niềm tin như đá như đồng

Riêng chỉ có Thi Nhân, hậu thân chàng Hậu Nghệ

Mầm sự thật gieo ngay trong bản thể

Là không tin...ức triệu lần không

Vì đã ức triệu đêm chàng thấy rõ

Trên vầng trăng cả khi mờ khi tỏ

Một giai nhân miệng nở hoa hồng

Đang tâm sự những lời mây gió

Cùng đôi ba ngọn cỏ

Nhất Phương Bồng

Danh xưng này, cỏ mang theo từ Trái Đất

Do Loài Người đã đặt

cũng như tên gọi Hằng Nga

của giai nhân thấp thóng ngọc ngà

Đang ngồi cạnh môi hồng tâm sự nở hoa

gái Trần gian nhưng không biết Tuổi Già

Kể từ phút mỗi tế bào mọc cánh

Bay lên vùng tuyệt cảnh

Ngoài cõi Người ta..

Nguyệt Cầu đâu phải tinh cầu chết !

Từ muôn thuở nói Thi nhân bất diệt

Vẫn nghe bóng Cỏ hồn Hoa

Chẳng hề vơi theo trăng khuyết

Chẳng hề nghiêng theo trăng tà

Cỏ Một Phương bay không biết mỏi

Và Hoa biết nói

Hằng Nga

Trái Đất còn ghi trong lớp vỏ

Hiện tượng vô cùng thi vị đó

Bao cơn địa chấn vết chưa nhòa...

Chỉ một lần tung cánh vút trên hoa

Mà ức triệu lần sau, ngọn cỏ

vượt trời theo...xé gió xuyên mây

lìa cung dâu hàng loạt mũi tên bay

chàng Hậu Nghệ tình si đã quyết

bắn rơi vầng Nguyệt

Đón người yêu băng tuyết trở về tay

Mũi tên bắn ngập sâu vào cát bụi

Của biển của sông, của đồi, của núi

Một giang sơn nằm giữa nẻo đăng đồ

Từ Thực về Hư từ Vạn hữu đến Toàn vô

Cỏ nung cỏ chẳng hề khô

Bụi vây băng giá càng tô giấc nồng

Qua thời gian, mũi tên Bống

Thẳng tắp ý chờ trông

Đã mọc lên vùn vụt

Từng  giây từng phút

Lá vươn cao niềm tưởng nhớ mênh mông

Giai nhân miệng nở hoa hồng

Ngồi bên có hiểu gì không ?

Ôi, người đẹp không già có hiểu gì đâu chứ

Nàng chỉ sống giữa  ba chiều quá khứ

Độc lập với thời gian

Khu rừng Tên bốn phía tràn lan

Cũng chỉ nói tình yêu Tiền sử

Nào đâu ngôn ngữ

Đủ phơi bày dằng dặc thương đau

Của ức triệu người muôn ngày tháng Địa Cầu ?

Nàng chưa hiểu nhưng đêm nay sẽ hiểu

Người Thơ vừa bẻ gẫy chiếc cung dâu

Cỏ Bồng kia lũ sứ thần vô hiệu

Bắn nữa chi cho nát ngón tay sầu

Muốn cho Hợp Phố hoàn châu

Phải rung nhịp Lửa bắc cầu tới nơi

Lửa trong lòng Đất réo sôi

Lửa trên ngàn vạn cặp môi gắn liền

Cơn say gọi thức

Chín tầng sâu đáy vực

Trời xưa hình ảnh Lạc viên

Chàng đốt chính mình lên

thành mũi tên

Lửa cháy rực

Bay về trong điểm con đường Cõi Thực Cõi Hư

Rừng cây tên nao nức

Vội cháy tiếp theo, bè kết khói tương tư...

Định tình giây phút ngàn thu

Nghe vang nghìn ức tiếng ru thủy trào

Đôi lứa xa dần bến Nguyệt

Lênh đênh bè khói đăng cao

Sẽ cùng bay cho đến hết

nửa đưởng bay còn lại, bên ngoài tất cả những vòng sao

Từ đây... một vệ tinh nào

Ngẩn ngơ cát bụi ra vào Thời Không ?

Đêm đêm Quỷ mọc đằng Đông

Niềm tin như đá như đồng...hỡi ơi !

Thi nhân lìa bỏ cõi Người

Giai nhân cũng gót hoa rời Mặt Trăng

Máy mở đầu trang sử chép rằng

Lửa Thiêng vừa xé Đất phi thăng

Địa cầu đang chết khô tình cảm

Nhớ Nguyệt cầu muôn thuở giá băng!

Sài gòn 1971,  DL tháng 7

( Huyền Thoại Cuối Cùng, Khởi Hành, số 122, 16.9.1971)

 

 73- KHÁC TIỆC MƠ XANH MỘT THUỞ BÀY

Nhà cụ Vương Hồng Sển có một vật quý mua năm 1960. Được gọi là “quý phi sàng”, tên chữ do Giản Chi “tiến” !

Năm xưa, trong Thú Chơi Sách ( Khai Trí, 1958), cụ Vương đã dành đến 4 trang gần đầu tập, để giới thiệu chiếc sập 3 thành bằng gỗ táu bóng ngời này. Nhưng vì chuyện chiếc sập hầu như nằm lọt trong tập nói về thú chơi sách xưa-nay, nên  ít người để ý. Sau này trong một di cảo ( Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993), cụ Vương trở lại chiếc Quý Phi sàng chi ly hơn, lại không nồng nhiệt hơn, nhưng cũng đủ để tiếp tục nhiếp hồn người đọc về tài cà-kê của con người lịch duyệt. Cụ còn cho biết thêm vể gốc gác ly kỳ của chiếc sập. Vốn là nơi cặp kè với ả phù-dung của một “ đầu mục” khét tiếng miền Nam. Chiếc sập mua trả góp 3 tháng mỗi tháng 4 ngàn cộng thêm đưa trước 4 ngàn đã khiến cụ Vương bận bịu không ít với chuyện tìm hiểu mô-típ các hình chạm trên gỗ sao cho hợp với lời chúc nào đó mà cụ Vương tin là được đặt khắc theo ý của chủ nhân ban đầu. Và theo cách đọc quen thuộc của người miền nam tương tự lời chúc được đặt trong mâm ngũ (tứ) quả, cầu-vừa-đủ-xài.

Theo lời tiết lộ của người kể, nhà thơ Vũ từng cao ngọa trên chiếc sập này và cùng chủ nhân nó “tâm sự với ả phù dung” một buổi. Chuyện đáng nói là các người trong cuộc đều kín tiếng như bưng, đến nỗi người kể lại trong sách còn ghi theo là “ nói nhỏ nghe cho biết “ ( Trần Đình Sơn, Chuyện Cũ Vân Đường – Tản Mạn Phú Xuân III, 2017.) Dịp này, Bạch Vương để lại bài thơ,  được Trần Đình Sơn thuật chuyện và chép lại.  Bài thơ có câu “ khác tiệc mơ xanh  một thuở bày”,  ý tứ kín nhiệm làm sao. Hai “Vương” tha hồ làm khách anh hùng bày binh bố trận trên sàng chứ không như ai phải nhịn thèm khi được ngồi xuông trên chiếc sập chuyên dành  cho tiên ông đi mây về gió !

Trời xưa từng rượu đẹp thơ hay

Đâu biết còn thơ rượu gác mây

Nửa bức không treo mà có mặt

Ngàn chung không uống cùng ta say

Như cành mai trắng đôi lòng nguyện

 Khác tiệc  mơ xanh một thuở bày

Thiên hạ anh hùng ư chẳng lẽ

Duy Hồng Vương đó, Bạch Vương đây !

 

 74- GIA VỊ TRONG THƠ

Thơ hôm nay lại có thêm hương vị tao-phùng. Nói thế, vì vào một chiều cuối năm, ngót bốn chục người hữu danh trong giới làm thơ, viết văn, soạn nhạc thuộc 3 thế hệ gặp nhau trong quán chả cá Như Ý, Tân Định mừng sự ra đời của thơ-nhạc song sinh, tập Thơ Nhạc của Cao Tiêu.

Kể đến 3 thế hệ có mặt là sự tính toán của người đưa tin. Có thể là do sự có mặt của Mộng Tuyết thất- tiểu- muội trong bàn tiệc mà liên tưởng đến Đông Hồ của nhóm Nam Phong – thế hệ thứ nhất của nền văn học mới.

Tập Thơ-Nhạc gồm 14 bài thơ soạn thành 14 ca khúc của 15 nhạc sĩ với những tên tuổi kể từ Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương...Nguyễn Đình Toàn viết Tựa, Du tử Lê viết bạt, chưa kể 9 bài trong tập được chuyển sang Anh và Pháp ngữ. Tập thơ còn có thêm đóng góp của 3 họa sĩ Tạ Tỵ, Nguyên Khai và Nguyễn Trung. Tất cả được thể hiện trên giấy quý hoàng lan. Bao nhiêu công phu tụ về, chẳng thế nhà thơ Vũ chả khen là bốc đồng.

Hương vị đặc biệt nồng nàn của món ăn không kém cầu kỳ nơi đất Bắc chắc gây cảm hứng mạnh mẽ cho nguồn sáng tác, như trường hợp món sôi lúa với hành mỡ phi với Ký giả Lô-Răng, như các món ăn Hà-nội từ cốm xanh đến phở chín với Vũ Bằng. Nhưng có lẽ ít ai nghĩ đến hương vị của tao phùng gần như lần cuối vì cuộc xum vầy giữa họ diễn ra vào ngày 27.12.1974.

Cạnh Vũ Hoàng Chương còn có mấy người bạn thiết của ông. Mai Thảo, Thanh Nam, Minh Đức Hoài-Trinh.  Hơn hai mươi người góp phần vào tập thơ-nhạc từ nội dung đến hình thức trong số ngót 40 khách được mời. Số còn lại trong đó có nhà thơ Vũ phải được kể là đại biểu còn sót lại của mỗi giai đoạn văn chương.

Bên ngoài là sự yên tĩnh hiếm hoi của một con đường nhỏ mang tên một kẻ sĩ thời Lê mạt có trái tim cứng cỏi như thép tôi. Lý Trần Quán.

Trong không khí cao nhã của văn chương, đã thấy thoang thoảng hương vị đăc biệt của thì-là và cà-cuống bọng lẫn tiếng lách tách của soong mỡ sôi.

Người ta chờ đợi tiếng thơ của người nổi tiếng mẫn tiệp cộng thêm cái tài chơi chữ mà không chờ cảm hứng, nhà thơ họ Vũ

Thơ nhạc cung dâu hẹn cỏ bồng

Lý Trần đây Quán chợt Thăng Long

Nghe như tiếng ốc xa đưa lẩn

Giục đá vàng mơ tuổi bốc đồng

Thật thế, nội câu đầu đã gói trọn cả tên lẫn danh phận tác giả. Còn câu cuối thoảng như trách nhẹ một chút về cái hào phóng của thanh xuân trong việc cho ra đời tác phẩm.

Nhà thơ Vũ không xa lạ gì với người tác giả tập thơ-nhạc ra mắt hôm nay. Tập bút ký Sứ Trình ghi  lại một chuyến công du Đài-Loan, được đặt chân đến Nhật-Nguyệt Đàm ngắm cảnh như thơ. Tập ký ấy của Cao Tiêu xuất bản tháng 9.1970 mang theo bài thơ cảm đề của họ Vũ.

Nói cuộc họp mặt văn chương pha lẫn hương vị của món ăn là có ý nghĩa, vì bài thơ 156 câu của Bùi Xuân Uyên, báo Thế Kỷ, Hà-nội xưa - người đã chuyển sang Pháp ngữ 9 bài thơ  trong tập. Thơ Bùi nhắc đến từng văn nhân có mặt hôm nay nhưng man mác lòng hoài niệm

Ai làm mà đã nên bậc cụ

Có phải chán không, Vũ Hoàng Chương ?

Hồ ly còn đến hay không nhỉ

Trong gác mai vàng ngậm ý sương ?

( Bách Khoa, số 421&422)

  75- MƯỜI BÀI ĐỐI CẢNH THAY THƠ TẾT

Mười bản đối cảnh thay mặt cho thơ xuân  của nhà thơ xuất hiện trên số báo Bách Khoa chinh thức đón xuân ( số 402+403 xuân Giáp Dần, 11.01.1974) có thể chứa đựng điều mà thông thường thi nhân không tiện dàn trải vào ngày xuân.

Mười bài là cuốn phim quay chậm về những điều xẩy ra chung quanh và bên ngoài thế giới của nhà thơ, bên ngoài Gác Mây, dưới con mắt của người thiết tha đến chúng. Như thế, thoại của mười bài chính là bản thông tin những việc đã xẩy ra mà tác giả trở thành người đưa tin nhiệt thành nhất. Cảnh cũng còn là tấm gương người mượn để soi vào để thấy đất trời cau mặt với tang thương thay cho lòng người hờ hững. Cặp ngựa-trời (bọ ngựa) và voi-đất ( châu-chấu voi) nuôi trong nhà cũng có mặt thay cho thế giới khách quan được triệu vời không chỉ để làm chứng cho những đổi dời  mà còn mang theo nỗi trắc ẩn không thể bày tỏ.

Như thế, thi nhân đóng vai trò của ông tạo có tâm hồn thơ và cái nhìn mẫn thế, xét đời và xét người để che chở hoặc xót thương. Khi thi nhân mở cuốn sổ trần gian để theo dõi việc cũng là lúc mà những chuyện trong ngoài, lớn nhỏ không thiếu xảy ra.

Thi Hội Quỳnh Dao mừng 12 tuổi (1961-1973) tại Sài-gòn vào tuần giữa tháng mười một. Thi nhân Vũ cũng là thi-khách của hội thơ góp lời chúc tụng. Bài thơ của người hội-chủ tuổi quá 80 vẫn chứa chan ước vọng. Bao năm hội họp bao duyên bút  / Trước mái thư hiên nguyệt vẫn cài.

Bên ngoài là hội thơ quốc tế tổ chức tại Đài Bắc trong cùng thời gian. Nhà thơ Vũ có bài tứ tuyệt bằng chữ Hán và bài tự dịch ra tiếng Nôm nội dung cổ xúy hòa bình theo chủ đề của thi hội.

Thi thành, chính khí tự cao ngâm

Khước hữu Bồng Lai truyền hảo âm

Nhật Nguyệt trường sinh đàm thủy thượng

Đông Tây nhất phiến hòa bình tâm

Dịch nôm

Thơ vầng chính khí vút cao xanh

Giây phút Bồng-Lai đã ứng thanh

Nhật-Nguyệt trên hồ kia chẳng lặn

Đông Tây một trái tim hòa bình

Bài thứ nhất mở ra một hội tao phùng giữa thơ và những tâm hồn thơ trong và ngoài nước, như thể trao Thơ vai trò mai nhân của ước mơ, mong đợi. Mặc dầu thi nhân trong vai ông tạo, xem cuộc thế là trò chơi nhưng thơ vẫn bao dung và hào phóng bên người, trao gửi từng dấu hiệu đầu tiên của tin yêu, rung động vừa chớm của tơ lòng đi muôn ngả. Vàng đâu Tôn-nữ gieo quanh gác  / Thu đã Cẩm-tâm giãi khắp nơi ( Mười Bài Đối Cảnh, bài thứ nhất.) Có thơ nhưng khoảng cách địa lý giữa những người yêu thơ cũng không vì thế mà thu hẹp hay không còn. Quỳnh-viên đài đảo mấy trùng khơi. Thi nhân đã nói giùm cho những người không thể phó hội gặp nhau. Hội thơ giờ đây còn mang ý nghĩa của hội trùng dương không chỉ về mặt địa lý và những khoảng cách không kém khó khăn khác.

Bài 2 viết ra trong sự trông ngóng, đợi chờ mà thi nhân nghĩ rằng ngày và đêm tranh chấp việc đến trước hay sau. Biến cố đáng lưu ý nhất có lẽ là đây. Là ý nghĩa của không gian ba chiều được lặp lại mỗi khi con người nghi ngờ về sự có mặt của một chiều. Thời gian là cái thường bị chất vấn trước nhất vì thường xem là đầu mối của mọi cái thiệt thòi. Ngày đêm ai lại nỡ lòng chia  / Mà biết rằng khuya với chẳng khuya ( Mười Bài Đối Cảnh, bài 2.)

Bài 3 đối cảnh cho thấy cảnh không ngừng tiếp diễn dù thi nhân đã khép cửa lầu Mây. Tai ương đất trời là bão tố được loan ra nhưng may mà không đi xa hơn như dự đoán nhưng chuyện bên trong cõi diễn tiến ra sao thì cũng phải bó tay. Và, có lẽ vì thế mà câu ca hàm ý tương trợ “bầu thương bí” vẳng bên tai không chỉ bao hàm ý nghĩa đùm bọc mà thôi trong lúc này

gác chuyển năm màu nét vẽ mây

ngoài kia gió nổi hay trong này ?

súng chưa vừa miệng đang tìm đích

bão chẳng đành tâm đã mở vây

trứng ngựa đẻ xong trời lại đẹp

xác voi lột dở đất còn say

vẳng nghe ai hát “bầu thương bí”

trước mắt lênh đênh nước ngập đầy

Bài 4 là cảnh bão rớt đi qua mà dư ba của mưa gió cũng thấy hãi hùng. Nghe trời rung tự đáy lòng sâu. Thiên nhiên không đến nỗi vô tình và thơ càng tỏ ý nghĩa sứ mệnh của nhịp cầu giao cảm bốn phương giữa cảnh nghi ngờ, tranh chấp và ly tán.

Thư từ chốn hải ngoại kể lại câu chuyện có nội dung của một cuốn tiểu thuyết lớn rằng, một người bạn của tác giả lá thư phàn nàn việc anh gửi người bạn gái một cây đàn nhờ giữ hộ vì hành lý lên đường về xứ đã nặng. Chiếc đàn ấy từng được anh giữ bên mình trong suốt thời gian lưu lại Sài gòn. Nhưng cô gái đã bán cây đàn đi với giá khá rẻ và gửi lại anh tiền bán đàn. Anh ta trách người đã bán rẻ chiếc đàn mà không thấy nói tiếc chiếc đàn đã bị đổi chủ ( Lá thư Căm-Bốt 9.10.1973.) Phải chăng là với không ít người mình, mọi việc xảy ra đều được xét dưới con mắt thơ. Ý nghĩa thơ đều ít nhiều bao trùm lên suy nghĩ và hành động. Vì vậy họ không hờ hững với việc xem thơ là môi giới trong mọi tương quan

Cảng-Thơm chừng ướp say cơn gió

Vườn-Úc vừa nghe rộn tiếng chim

Hội ấy Đài-loan thơ Bạch-tuyết

Mộng nào Nhân-loại thuở Hoàng-kim ? ( bài 5, Mười Bài Đối Cảnh)

Và, thơ đã vắng từ đầu năm, chỉ còn thấy thư thay lời. Phải chăng thi-nhân vì thế phải viện đến tiếng tơ thay cho ngôn ngữ của thơ vốn mới là sở trường quen thuộc bấy lâu

âm thanh trống rỗng, còn chi nữa

gắng gượng chi cho hồn Nhạc đau

( Vũ Hoàng Chương, Ba Kiếp Lang Thang, Saigon 20.7.1973)

Bài 6 chỉ là câu chuyện của chiếc áo mới đầu năm nhưng là niềm mơ ước dung dị của bao người. Mơ ước không chỉ hóa thân trong chiếc áo mới vừa ý mà như con diều của tuổi thơ. Bay lên cao và đi xa, kéo theo mơ ước. Tuy rằng với thi nhân, chiếc áo mới chỉ gơi lại hình ảnh của giấc mộng xuân. Một giấc mộng kép.

Hoàng nhớ lại mùa xuân giữa mộng

Oanh mừng thêm áo mới đầu năm

Bài 7 dành cho việc hồi âm, nếu ta hiểu trọn ý nghĩa của một tiếng tơ hòa điệu. Tiếng nói của một tâm hồn thơ dành cho một tâm hồn đối ứng của thơ. Người đã lấy định mệnh làm tên cho tập thơ thứ nhất in năm 1958 tại Paris. Thơ lấy lang-thang làm bản vị nhưng chưa đủ để xưng danh một tâm hồn sống bằng trắc trở. Cái nghiệp phiêu bồng ấy chỉ để nhắc chừng người nửa đời ao ước khao khát một chỗ dừng chân. Một mái Vị-Ương được đặt tên cho từ mộng. Người có những vần thơ trữ tình từ thuở xa xưa, “ chứa đựng yếu tố tình yêu thanh khiết, trong trinh và duy ngã “ ( Nguyễn Đình Tuyến, Những Nhà Thơ Hôm Nay, 1967)

anh còn có dịp đi qua

thăm giùm em với xác nhà thân yêu

hôn giùm em những buổi chiều

nói giùm em

nói rất nhiều xót xa

( Anh Đi Ngang Qua Nhà Em, Paris 28.2.1962)

nhưng tình thực để cưu mang nỗi cô đơn mà có lần người chọn để tượng hình bằng chiếc xác hóa thạch của người phụ nữ nhiều ngàn năm trước. Một nỗi cô đơn có thể đồng đẳng với thi nhân nhưng chỉ được hóa thân bằng chiếc bách mất phương hướng lênh đênh ngoài nghìn trùng biển rộng. Nỗi cô đơn bủa vây người chặt chẽ như đày ải khiến một hành động giản dị chừng ấy cũng phải nhờ cậy, trông chờ người làm giúp.

Người cũng xem một thứ tình yêu, không như sa cơ, nhưng mệnh danh là Tử-địa do ngang trái và chắc chắn dìm người vướng chân xuống vực thẳm. Cuốn truyện mang tên như thế được ra đời vào tháng chạp cuối năm về một người nữ ký giả trong truyện với một người đàn ông có sự nghiệp, có gia đình, không phải là chuyện hiếm hoi nhưng gây sửng sốt nơi những người thấy rằng cái ngang trái vấp phải, là sự kết liễu sau cùng đối với trái tim kẻ lâm lụy.Với những kẻ tri âm, sự tương thông có ý nghĩa trăm lần lời an ủy. Tiếng đàn từng lay động tơ trăng hay chén trà sớm hương tan vỡ trong sương đều đến bên người thay lời tri kỷ. Thì dạo đàn lên thềm chị Nguyệt  / Rồi pha trà với nước sông Tương.

Bài thứ 7 này là khúc giao tình tuyệt diệu dưới trăng non bởi vì người thuật truyện bằng thơ muốn cho khúc tri âm phải được chép bằng thứ mực cung Hằng. Ảo huyền mà không huyễn hoặc

nửa kiếp lang thang bước đã chồn

mà chưa nỡ dại, chẳng đành khôn

dấn thân Tử-địa tìm sinh lộ

nhờ ánh Hoa-đăng giãi mộng hồn

thì dạo đàn lên thềm chị Nguyệt

rồi pha trà với nước sông Tương !

ngựa trời giữa Gác Mây còn ngóng

một ”dấu huyền” bay về cố hương

 

 76- NHÀ THƠ VÀO LỚP

Niên khóa 1974-1975 là năm mà các lớp 12, lớp cuối của bậc Trung học ở miền Nam chúng ta, đồng loạt đón chào nhà thơ Vũ. Thay vì chỉ lớp đệ nhị ( lớp 11) ban C trường Chu Văn An như nhà thơ cho biết là lớp học duy nhất ông còn đến với ba giờ mỗi tuần, trong cuộc nói chuyện với thính giả đài phát thanh vào đêm giao thừa năm Quý Sửu 1974 ( Bách Khoa, số 384, 2.4.1973)

Và, như thế, ông là người thầy duy nhất, được phép bình giảng thơ mình trước học trò hệt như khi nói về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du...

Chúng ta không rõ tâm trạng người  đứng trước lớp và người ngồi dưới lớp ta sao. Nhưng rõ rệt là lịch sử đã được thu ngắn lại để cho một sự nghiệp văn chương được tuyên nhận dù Thơ Say mới là tác phẩm đầu. Chưa phải là hòn đá tảng của sự nghiệp.

Người làm thơ bước vào lớp qua nẻo văn chương là chuyện thường xảy ra nhưng là khi mọi chuyện đã được thu về lịch sử. Chỉ có Nhất Linh và công cuộc đổi mới văn học của thế kỷ trước, là trường hợp đầu tiên được liệt kê là một tác giả nằm trong chương trình quốc văn lớp 11, khi sinh thời.

Sự việc còn đáng chú y hơn vì niên học 74-75 là năm đầu tiên môn Quốc Văn được thành lập trong năm cuối bậc Trung học. Báo chí cho thấy  những người lo soạn sách giáo khoa cho môn học này đã phải thất điên bát đảo ra sao khi chương trình học chưa được kiện toàn trước đó ( nb Hòa-Bình số 1781,14.7.1974, số 1782, 15.7.1974.)

Riêng giai phẩm Văn, sau khi in lại Thơ Say từ năm 1971, số báo đề ngày 20.8.1974 dành 60 trang viết về 3 nhà thơ được xem là đại biểu của xu hướng thơ mới đương thời: Thế Lữ ( Mấy Vần Thơ), Hàn Mặc Tử ( thơ Hàn Mặc Tử), và Vũ Hoàng Chương ( Thơ Say), người “ đại diện lẫy lừng và cuối cùng của giòng thơ tiền chiến còn ở giữa chúng ta.” Một hành động thiết thực như để cung ứng kịp thời cho người dạy và người học một số nội dung phong phú hơn mà cuốn sách giáo khoa có thể đề cập.

Lê Huy Oanh, một người dạy học và là tác giả thiên khảo luận, sau khi nhận định về phần đóng góp và thành tựu của từng tác giả tiêu biểu của xu hướng thơ cách tân,  đã đặt  cuộc đổi mới thơ vảo bối cảnh chung của dòng thơ, để nhận ra những dị biệt và tiến triển của dòng thơ hậu chiến so với dòng tiền chiến mà ba nhà thơ từng là đại biểu xuất sắc.

Riêng về Vũ Hoàng Chương ông xem uyên nguyên nỗi buồn của nhà thơ bày tỏ trong thơ không chỉ do từ thất vọng, mất mát, bất như ý. “ ... chẳng cần phải có cả một khối u tình mới thành một sự thất vọng.” Vì nhà thơ là con người đa tình đa cảm. Còn cái say đã gắn chặt với nhà thơ để trở thành bản ngã, không thể có chuyện tách rời. Và theo ông, yếu tố lãng mạn nơi con người Vũ rõ rệt hơn cả và gần gũi vói thế nhân hơn cả.

Điểm quan trọng hơn hầu như thuộc về nghệ thuật thưởng ngoạn là Lê Huy Oanh  xem nhà thơ Vũ , trước lẫn sau, “ vẫn luôn luôn giữ được những tình cảm ngây thơ, trong sáng, chân thật, những tình cảm khiến cho cả con người lẫn thơ của ông trong bất cứ trường hợp nào cũng có vẻ thanh quý.”

Nhận định mang tính chất khám phá trên không chỉ là quan niệm riêng của ông Lê Huy Oanh khi mà sự thẩm định thơ thường đòi hỏi nhiều hơn là sự đọc thông thường.

Ở một cách nhìn, số báo Văn này cung cấp người học thơ Vũ, cái nhìn phóng khoáng, mời gọi  của người đọc thơ, tương tự cái nhìn của người học trò qua cửa lớp

 

77- ĐINH NINH HAI MIỆNG MỘT LỜI

Anh chàng làm báo họ Đoàn ( sau lấy một bút danh khác) kể là, trong thời gian làm báo Sóng Thần, đã mang một món quà của Chu Tử, đến biếu nhà thơ Vũ tại Gác Mây vào khoảng chênh vênh giữa hai năm 1974-1975. Món quà khiến nhà thơ hài lòng không ít.

Cuộc gặp gỡ khởi đầu cho một tình cảm đáng ghi, kể từ khi ông hằng ngày cất công đem báo đến tận Gác Mây vì nhà thơ than thích xem báo nhưng không thể mua hơn mỗi ngày một tờ.

Nhà báo ghi nhận nơi nhà thơ thật chí tình tuy rằng ông thường nói ông không nhiều bạn.

Có lần, ông Vũ san sẻ thuốc cho Ngọc Thứ Lang, rồi nhờ ông trao cho người dịch Bố Già. Cũng theo Đoàn, nhà thơ Vũ tâm hồn thật trẻ. Thích chuyện trò với người trẻ mà kiến thức cổ văn rộng như Lê Cung Bắc.

Câu chuyên đáng ghi là vào một chiều cuối năm 1974, ông Vũ trao tặng ông một tập thơ viết tay, viết bằng đầu cây tăm trên giấy bản có nhan đề Song Kiều. Dày khoảng 20 trang, mỗi trang gồm 4 câu lục bát, nét chữ thật lớn.

Khoảng cuối năm 1973, nhà thơ Vũ đưa ra một trò chơi chữ nghĩa – một thứ “Tập Kiều.” Ông dùng thể thất –ngôn chứ không dùng lục bát. Cũng không “chặt”  một câu Kiều rồi “chắp” vào một câu khác ở cách xa. Không được “thêm” một chữ của mình để câu lục thành câu thất. Hay  “bớt” đi một chữ ở giữa câu bát. Quan trọng là miễn sao cho liền thông ý nghĩa ( Bách Khoa, số 396, 30.8.1973 và số 397, 19.9.1973.)

Ông đã làm được 22 bài thơ “Truyền Kiều” theo kiểu này để kỷ niệm Nguyễn Du, đặt tên là Song Song. Câu Tập Kiều loại này có để lại dư vị trong lòng người đọc hay không, ngoài cái tài xếp đặt khéo léo của người thuộc lòng Kiều theo cả hai dòng xuôi ngược

đâu bỗng không mua não chuốc sầu

sầu người, buồn cảnh, có vui đâu

trướng tô giáp mặt hoa đào vẻ

nào vạch da cây vịnh bốn câu

Cái thú vị là người dự trò chơi đôi khi là “nạn nhân” của “Truyền Kiều” chẳng hạn nhà thơ và Lãng Nhân

Câu nhà thơ Vũ bỡn Lãng Nhân:

một là đắc hiếu hai là đắc

đào vẽ mây trông tỏ lối vào

Câu Lãng Nhân đáp lại nhà thơ Vũ:

văn chương nết đất thông minh tính

đào gỡ ra rồi lại buộc vào

Tập thơ được tặng có lẽ đúng là tập Truyền Kiều của nhà thơ Vũ. Một trò chơi trí tuệ mà không dễ người nằm lòng Kiều có thể dự vào.

Tập thơ đã thất lạc theo lời ông Đoàn. Truyền Kiều cũng trở thành xa xăm như người làm nên chúng.

  78- LÒNG ĐÁ, BÀI CUỐI

Bài hồi ký về mấy tháng cuối với Vũ Hoàng Chương của Mai Thảo, chỉ một đoạn thôi, in vào chừng mười năm sau, đã là giai thoại cho bài thơ cuối của Vũ cho tạp chí Văn đề ngày 15.11.1974. Một điều không ai ngờ trước được. Không chỉ riêng cho Văn, nhưng phần lớn những bài thơ đặc sắc của nhà thơ đều đã xuất hiện trên tạp chí này như tình cờ. Mai Thảo nhắc đến bài thơ trong thời kỳ ông giữ việc “chủ trương”  tạp chí. Nhà thơ Vũ gặp bạn  chỉ reo lên là có thơ mới làm xong, còn Mai Thảo, thì dường như đã giữ trong lòng về nội dung bài thơ mới vừa nhận. “ Với những cõi thơ như Vũ Hoàng Chương phải vận dụng trí tuệ mới mong mở được lối vào. Thơ là trí tuệ. Không phải là rung động.” ( Chân Dung, tr.48) Và từ đó, Mai Thảo đưa ra những khẳng định về vị thế của thứ thơ sản phẩm của thời cuộc, chỉ là “ghi chép, và tường thuật.”

Thực ra, không hẳn nhà thơ của chúng ta đã nghiêng hẳn về sự chọn lựa nào giữa tư tưởng và hồn thơ. Chất trí tuệ trong thơ Vũ đã  bàng bạc trong những câu làm lay động trái tim vì xúc cảm, không những thế còn gợi ra chuyển động lung linh của mầu sắc nữa.

Hoa đợi trăng lên trả bóng hình

Kìa hoa run rẩy bóng rung rinh

Vầng trăng hiểu ý lên cao mãi

Đẩy bóng về hoa nhập với hình

( Giây Phút Đoàn Viên)

Thơ như một thứ cốc-tay, hương vị làm nên là do tỉ lệ, mức độ gia giảm của những thứ hợp thành. Đột ngột nhắc đến bài thơ mang sắc hương của suy nghĩ đầu mùa, có thể Mai Thảo đã vội nghĩ đến ưu thế của tư tưởng trong thơ Vũ, điều mà Vũ đã chứng tỏ khả năng và hiệu năng từ Tâm Tình Người Đẹp của năm 1961.

Trong Lòng Đá, Vũ đã làm mới ngôn-ngữ Việt như từng làm như thế ở mấy tập thơ đầu, và theo chiều hướng ngược lại. Ngôn ngữ giờ đây là thuần Việt và ước-lệ nhiều kiếp đã chấm dứt luân hồi

Không chuyến đi nào còn làm ta xúc động

kể cả chuyến ngược chiều lên tuổi mộng

vì ngay trong vòng tay đôi mươi

cũng chỉ là trống rỗng

Thì không còn chuyến đi nào làm ta ngạc nhiên

cho dẫu đi bằng không thuyền

khắp đâu đâu cũng chỉ là những mảnh

vỡ tan ra từ một khối thuyền quyên

Họa may còn chuyến đi vào hư vô

tên gọi văn chương của những nấm mồ

Đi chuyến ấy giòng đời ta tự xóa

ta  không còn gì cũng không còn là gì

ức triệu mảnh hồn ghen kia mới thỏa

mới chịu về nguyên mối tình si

mang hình phiến đá

 

Đá sẽ dựng cho Không-là-gì-hết

một phiến cao tận cùng sâu tận tuyệt

mà không chữ nào viết

không âm nào ghi

Cao sâu lòng đá phẳng lì

mải mãi chỉ riêng Nàng được biết

từ đầu những chuyến Gã ra đi

( Lòng Đá, Văn, 15.11.1974)

 79- ĐÀN LẠNH, MA KHÔNG DẠO

Trong hồi ký của mình ( Nửa Đêm Sực Tỉnh, Văn Nghệ thành-phố, 2001), Lưu Trọng Lư chỉ nhắc nhiều đến đời sống tình cảm riêng và rằng “ từ khi rời Hà Nội, rời Thanh Hóa, Huế, tôi đã cắt đứt môi trường văn nghệ sĩ.” Nhưng Vũ Hoàng Chương không thế.  Ông hầu như dành trọn hồi ký để tâm tình với cuộc đời thơ và những người làm nên giai điệu của khúc hợp tấu một đời, như cách đặt tên cho thiên hồi ký.

Vũ nhắc đến trường hợp ra đời của tập thơ đầu, Thơ Say ( mùa đông Canh Thin, 1940) do số giấy gán nợ của họ Lưu. Giấy in thơ là loại giấy bản xoàng xĩnh. Không rõ họ làm bạn với nhau trong trường hợp nào, khi Lưu sống, đi học, lập gia đình ở Huế và xứ Thanh. Và, dẫn đến lúc sống đàn đúm với một số bạn văn, thơ ở Hà-nội, thân thiết với Vũ đến mức “tiền tiêu chung, áo mặc chung” khi ở chung trong căn nhà phố Hội Vũ.

Dường như để tỏ không cạn tình, ông Lưu để lại mấy chữ trong tập hồi ký khi nhắc đến tên nhà thơ họ Vũ, “tôi vẫn giữ một niềm thương mến.”

Ngày 14.10.1975, tại Gác Bút, trong cuộc gặp mặt giữa  hai người bạn mà Vũ Ngọc Phan xếp bên nhau như chung một môn phái, Vũ đã trao tận tay bài thơ mà ông nói đã viết ra một năm trước. Thơ nhắc đến cái ý một bài thơ cũ của Lưu, mang tâm trạng của kẻ cảm khái lên đường theo tiếng gọi giang hồ, bất kể một gánh thê nhi. Lồng son lại để sổ con chim trời.

Bài thơ trên của Lưu, Giang Hồ, có trong tập Tiếng Thu (1939), ra đời trước Thơ Say một năm. Thời gian mà cả hai đều không ngại cho tiếng lòng dằn vặt hay thổn thức.

Trầm cũ đêm nay còn có ta

đốt lên chờ một tiếng đàn ma

trầm phai, đàn lạnh, ma không dạo

đêm xế về khuya lạc tiếng gà

Tiếng thơ Vũ trao cho Lưu không khác tiếng thở dài não nuột. Thương cho bạn đã xa vời giấc mộng lãng du. Trầm phai, đàn lạnh. Cả tiếng gà đánh thức chuyến đi cũng lạc lõng giữa trông chờ.

Thơ trao tay nhau vào ngày Trùng Cửu năm Ất Mão.

  80- DUYÊN THƠ VƯƠNG MÃI

Trên đây là tên bài thơ hiếm hoi Giản Chi viết để lại cho nhà thơ Vũ khi giã biệt nhau.

Sinh thời hai nhà ít gặp nhau. Suốt mấy bộ báo văn-chương, không gặp được một hàng nào liên quan giữa họ. Chỉ đến đầu năm 1973, sau khi giải Tuyên dương sự nghiệp Văn chương, Học thuật và Mỹ Thuật 1972, lần đầu tiên được công bố, tạp chí Bách Khoa làm cuộc phỏng vấn Giản Chi, người được đề cử đứng đầu ban Tuyển-trạch. Người ta mới biết rõ hơn về giải thương này và người lãnh việc cầm cân nẩy mực trong một cuộc thẩm định thật khó khăn và có thể gây bối rối. Và có thể giải được chú ý hơn khi nhà thơ Vũ được tuyên nhận sự đóng góp trong 30 năm qua trong lãnh vực văn-chương như một người tận hiến. ( Bách Khoa, số Tân Niên (387), 15.2.1973

Và chỉ khi Giản Chi cho công bố bài thơ gửi Vũ trong tập thơ duy nhất được in ra khá muộn màng, tập Tấc Lòng (1993), người ta mới biết giữa hai người một mối duyên thơ sâu đậm đến nghẹn ngào khi cần kể lại. 

Giản Chi cho biết ông đến thăm họ Vũ – theo lời nhắn trong thư - vào một ngày cuối thu Ất Mão (1975) tại nơi ở của ông Vũ ở Khánh Hội, nhà của gia đình người em vợ tức bà quả phụ Đinh Hùng, vào một chiều tối ảm đạm như lòng người.

Giản Chi không ngờ rằng ông cũng dùng con đường như Mai Thảo, trước hay sau, đến Gác Bút.

Cùng ngồi gọn trên chiếu đợi ấm nước sôi. Cùng nâng tách trà nồng hương vị bên nhau. Có lẽ, cùng có dự cảm về những ngày trước mặt. Và khi xuống gác biệt nhau, cùng có cái rười rượi của người từ giã. Giản Chi, còn có vẻ cay đắng hơn khi nhắc tới âm thanh lạ tai của tiếng nhạc bấy giờ.

Buổi gặp gỡ không ngờ là cuối cùng giữa hai nhà thơ lớn, còn là sự chia tay vĩnh viễn giữa hai tri âm.  Lối khuya thường hiu hắt nay thêm vẻ thê lương. Bóng người thêm lầm lũi trong kiếp đời gần tàn tạ. Đi vào bóng tối âm thầm khúc khuỷu của con đường lầy lội, người về còn xót xa hơn khi nhớ lại chương trình thơ trên làn sóng điện không xa

Ngõ hẹp thu già, nặng gió mưa

Cuộc tàn, ai gọi, có ai thưa

Duyên thơ một  thuở còn vương mãi

Kiếm cũ mười năm đã thấy chưa ?

Soi bóng đập gương tài mệnh quách

Cầm tay nhớ buổi tiếng hơi vừa

Lối khuya về khúc Tân thanh rộn

Thắt ruột Tao Đàn tiếng nói xưa

( Duyên Thơ Vương Mãi, Tấc Lòng, 1993)

Mùa thu Bính Thìn (1976), Giản Chi cất tiếng khóc cố nhân bằng tên các danh tác thơ. Tiếng khóc để đời vì điểm danh những văn chương di sản của một đời.

Con người của văn chương lẫm liệt trước gió mưa. Và, chỉ có văn chương là thực sự sống đời của thiết thạch

Vua trắng thăng hà bỏ trống ngôi

SAO BĂNG HĂM TÁM VẺ u hoài !

Tang trời cõi Việt đen MÂY kéo

Lệ đất RỪNG PHONG  đỏ lá rơi

Uy vũ xá gì mưa gió nặng,

Văn chương để lại núi sông dài

ĐÈN HOA ba chục năm ròng đợi

ĐỜI VẮNG AI RỒI, SAY với ai ?

( Khóc Vũ Bạch Vương, Tấc Lòng, 1993.)

 

    TRẦN MẠNH TOÀN