VÓ NGỰA VÀ CÁNH CUNG
Nguyễn Duy Chính
Ở trên là tác phẩm của
Vương Hoài Khánh (王懷慶 – Wang Huaiqing)
nhan đề Bá Nhạc (Bole, a Wise Old Man Who Knows
How to Choose Horses) - 1980. Sáng tác sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung
Quốc
Tranh sơn dầu, trưng bày tại National Art Gallery Collection,
Beijing 1980
Miêu tả cảnh Bá Nhạc đau lòng khi trông thấy một con tuấn mã bị bắt đi
kéo một chiếc cối xay lúa.
Trích trong The New Chinese Painting (1949-1986)
của Joan Lebold Cohen (Harry N. Abrams, Inc. 1987) tr. 78
Ngựa nghe
nói, tím gan, nổi phổi,
Liền chạy ra hầm hí vang tai :
"Ớ ! này, này, tao bảo chúng bay,
Ðố mặt ai dài bằng mặt ngựa ?
(Lục súc
tranh công)
LỜI MỞ ÐẦU
Mấy câu thơ dẫn thượng là phần mở đầu của Con Ngựa
trong tác phẩm Lục Súc Tranh Công học hồi đệ Thất (lớp 6) mà nay người viết còn
nhớ được. Con ngựa là một sinh vật quan trọng có ảnh hưởng lớn đến lịch sử phát
triển của loài người, chắc chắn phải có nhiều điều đáng nói hơn cái tự hào hết
sức lạc quan kia.
Ở nước ta, con ngựa không quan trọng bằng con
trâu, con lợn (heo) – và cũng hiếm có – nhưng ở Trung Hoa cũng như trong lịch sử
nhân loại, vai trò của nó to lớn hơn nhiều. Có lẽ vì ngựa không phải là một con
vật bản địa nên chúng ta ít thấy ngoài những con ngựa ở trường đua và mấy con
ngựa còm, đầu có một túm lông gà uể oải kéo xe thổ mộ khá thông dụng ở miền Nam
vài chục năm trước.
Trong ngôn ngữ thường ngày người Tàu chúc tụng
nhau bằng câu Mã Ðáo Thành Công (馬到成功) và khi nói tới một
nghệ thuật phi phàm ngưòi ta mô tả bằng bốn chữ Thiên Mã Hành Không (天馬行空). Người Trung Hoa cũng thường treo những bức tranh tám con ngựa dưới
nhan đề “Bát Tuấn Ðồ”.
Ngựa là một con vật ảnh hưởng nhiều đến văn hóa
Trung Hoa. Trong mười hai con giáp, con Ngựa tượng trưng cho năm Ngọ, nằm giữa
năm Tị (con Rắn) và năm Mùi (con Cừu theo người Trung Hoa và con Dê theo Việt
Nam). Trong văn chương và hội họa, ngựa lại càng quan trọng, nhiều thời kỳ con
vật này được coi như một đề tài phổ thông và nhiều danh sĩ nổi danh gắn liền với
tài vẽ ngựa như Hàn Cán (韓幹 - Han Gan), Vương Duy (王維 - Wang Wei), Lý Công Lân (李公麟 - Li Gonglin) đời
Ðường, Triệu Mạnh Phủ (趙孟頫 - Zhao Mengfu), Nhiệm Nhân Phát (任仁發 - Ren Renfa) đời Nguyên. Tuy nhiên nổi tiếng hơn cả có lẽ là họa sĩ
Giuseppe Castiglione, một nhà truyền giáo người Ý được giữ lại trong cung nhà
Thanh dưới Hán danh Lang Thế Ninh (郎世寧 - Lang Shining).
Ông vẽ nhiều bức tranh truyền thần màu rất đẹp, trong đó có những bức tranh vẽ
người Tây Vực tiến cống ngựa. Ngoài ra chúng ta còn thấy rất nhiều điêu khắc,
tượng, hình ảnh lịch sử có liên quan đến con vật, đóng góp một phần không nhỏ
vào việc tìm hiểu văn hóa cổ thời.
Ngựa trở thành một biểu tượng cho quyền quí và
thanh cao từ đời Ðông Chu khi người ta đề cập đến “thiên lý mã”, là những
con bảo câu có thể chạy nghìn dặm một ngày (khoảng 300 km ngày nay). Người nổi
tiếng nhất trong những tướng sư chuyên coi tướng ngựa là Tôn Dương (孫陽 - Sun Yang), sống vào khoảng thế kỷ thứ VII trước TL. Vì tài của ông,
người ta gọi ông là Bá Nhạc (hay Lạc – 伯樂 - Bole) là tên
chòm sao Scorpio được coi là cai quản các giống thiên mã trên trời. Bá Nhạc xem
xét xương và cấu trúc của con ngựa rồi có thể nói đúng các đặc tính của nó, và
ông chỉ cần liếc qua con ngựa nào trong chợ là con đó tăng giá ngay.
Người ta còn huyền thoại hóa rằng Bá Nhạc có thần
giao với giống ngựa nên một con bảo mã bị bắt phải kéo xe, trông thấy ông liền
hí lên khiến ông phải xuống vừa vỗ về con vật vừa khóc. Hàn Dũ đời Hán cũng đã
từng viết rằng nếu không có Bá Nhạc thì không có tuấn mã cũng như không có vua
hiền thì không có tôi trung để khuyến khích các bậc quân vương trọng dụng người
hiền tài.
Ngày nay còn truyền lại một cuốn Mã Kinh (馬經 - Classic of Judging Horses) tương truyền là do Bá Nhạc viết, trong
đó nói rằng thiên lý mã có mười lăm xương sườn thay vì mười như ngựa thường.[1] Chính vì thế nhiều họa sĩ đã
vẽ những bức tranh ngựa còm (emaciated horse) với dụng ý nhắc nhở con người là
gian khổ giúp chúng ta mạnh mẽ hơn.
Lịch sử nước Tàu, trong chính sử cũng như trong
tiểu thuyết đã nhắc nhở đến tên nhiều con ngựa nổi tiếng chẳng hạn con Xích Thố
của Quan Vũ trong Tam Quốc Chí, con Ô Truy của Hạng Vũ trong Tây Hán Chí, hay
con Hoàng Phiêu của Tần Quỳnh (Thúc Bảo) trong Thuyết Ðường. Trên thực tế những
con bảo mã đó không phải là yếu tố quyết định thành bại của chủ tướng như những
tiểu thuyết gia thêm mắm dặm muối, mà vai trò của loài ngựa như một phương tiện
di chuyển hay dụng cụ chiến tranh mới thực sự quan trọng. Cũng tương tự, cây
cung là dụng cụ săn bắn gắn liền với sinh hoạt của loài người không biết từ bao
giờ nhưng xuất hiện khắp mọi nơi, từ rừng sâu núi thẳm đến những quốc gia đã
văn minh nhưng cũng chỉ là một trong nhiều loại vũ khí khác nhau của con người
nguyên thủy.
Tuy nhiên, chỉ khi người du mục ở Trung Á biết kết
hợp sức mạnh và lợi điểm của cây cung liên hợp (composite bow) với sức di động
(mobility) của giống ngựa vùng mạc bắc, họ mới tạo thành được sức mạnh khủng
khiếp để trở thành một đế quốc hùng mạnh vào thế kỷ XIII, XIV. Ðế quốc đó như một
vết dầu loang, lan rộng sang khắp vùng Tây Á, tiêu diệt những quốc gia hết sức
bạo tợn và dũng mãnh trong thế giới Hồi giáo và Thiên Chúa giáo rồi theo đà
tràn xuống miền nam chiếm lĩnh cả một khu vực văn minh bậc nhất thế giới là nước
Trung Hoa.
Một điều lạ là sức mạnh tưởng như vô địch đó lại
bị chặn đứng bởi những quốc gia nhỏ bé vùng Ðông Nam Á, trong đó có Ðại Việt.
Những quốc gia đó có chung một mẫu số là biết khai thác cái sở trường của mình,
dựa lưng vào thành lũy thiên nhiên, dùng chiến tranh du kích để tiêu hao, lấy
trường kỳ nhàn nhã để chống với nhọc mệt.
Riêng trong bài này, chúng tôi muốn xuyên qua vai
trò giống ngựa và cây cung của những bộ tộc du mục để đưa ra cái tương phản của
khung cảnh thế giới vào thời đại Nguyên – Mông, cái ưu thắng của người biết vận
dụng phương tiện chiến tranh vào việc chinh phục những khu vực khác, đồng thời
cũng nhắc đến sự diệu dụng của một dân tộc còn rất sơ khai đã đem cái “đoản”
của mình để chống với cái “trường” của địch.
I/ VÓ NGỰA
A/ Nguyên Thủy Của Loài Ngựa
Theo những nhà khảo cổ và sinh vật học, ngựa là
dòng dõi của giống Eohippus thời thái cổ cách đây hơn 60 triệu năm. Khoảng một
triệu năm trước trở thành giống Equus caballus chính là thủy tổ của ngựa ngày
nay. Giống Eohippus chỉ nhỏ bằng con chồn, có bốn móng ở đằng trước, ba móng ở
chân sau, nguyên thủy có ở Bắc Mỹ nhưng sau đó lan ra khắp nơi trên thế giới.
Khoảng 10,000 năm trước, giống ngựa Bắc Mỹ tuyệt
chủng nhưng hậu duệ của nó còn lại ở châu Á và châu Âu. Ở châu Á, giống ngựa
hoang với cái tên khoa học dài ngoẵng là Equus przewalski przewalski poliakov
(gọi tắt là Prewalski, tên một đại tá người Nga gốc Ba Lan, tìm ra giống ngựa
hoang này ở Mông Cổ năm 1881) thủy tổ của giống ngựa Mông Cổ đã đóng một vai
trò quan trọng và là con vật thân cận nhất của những bộ tộc vùng sa mạc.
Người Tây Vực huấn luyện ngựa (đất nung đời Đường)
Nguồn: Hà Nam Văn Vật Tinh Hoa (1999)
Một trong những câu hỏi lớn đến nay vẫn chưa có
câu trả lời dứt khoát là con ngựa được thuần hóa (domestication) từ bao giờ? Tại
nhiều nơi người ta đã tìm thấy những chứng tích, tranh vẽ chứng tỏ con người đã
biết tới con ngựa từ lâu (khoảng 6000 năm trước TL) nhưng lại không chắc chắn rằng
con ngựa đã được nuôi như một loài gia súc hay cũng chỉ là một thú vật mà người
ta trông thấy trong thiên nhiên. Những khai quật mới đây cho thấy chỉ khoảng
4000 năm trước TL người ta mới biết dùng ngựa để kéo xe, trước đó có lẽ chỉ được
dùng làm thực phẩm. Trong những di chỉ mà người ta tìm thấy, người Ai Cập đã biết
cưỡi ngựa khoảng 2000 năm trước TL, tuy nhiên thời kỳ đó họ chỉ cưỡi trơn không
yên cương và chưa biết cách điều khiển con vật.[2]
Họ ngồi chàng hảng trên mông vì thời kỳ đó giống ngựa chưa đủ mạnh để ngồi
trên lưng. Phải đến khoảng thế kỷ thứ VIII trước TL, sau khi pha nhiều giống ngựa
khác nhau, người ta mới có được giống đủ tốt để có thể cưỡi và đủ linh động để
sử dụng cung tên khi di chuyển.
Ở Á Châu, các sử gia cho rằng loài ngựa chỉ được
nuôi làm gia súc chừng 5000 năm trước, sau các con vật như chó, dê, cừu, lừa,
bò … và những người du mục ở Trung Á, Ba Tư, Afghanistan … biết cách nuôi và huấn
luyện chúng trước hết. Một trong những ưu điểm của việc cưỡi ngựa là khi di
chuyển trên những cánh đồng cỏ rộng lớn, kỵ sĩ có vị thế ngồi cao hơn, có thể
nhìn được xa hơn và cũng chạy nhanh hơn. Người ta cho rằng cưỡi ngựa còn làm
cho con người cảm thấy uy nghi và tưởng như đã chinh phục được thiên nhiên.
Trong nhiều thời kỳ những dân tộc không biết cưỡi ngựa đã bị đè bẹp, và chính từ
hình ảnh một chiến sĩ trên lưng ngựa mà người Hi Lạp thời cổ đã tưởng tượng ra
con quái vật thân hình là ngựa, đầu người (centaur).[3]
Theo Franz Hancar, những con ngựa tốt được lai giống
đầu tiên là ở Tây Á, tại những quốc gia ngày nay dưới tên Kazakhstan,
Turmenistan, Uzbekistan, Tadzhikistan, Kirghizistan mà Hancar gọi chung là
Turan.[4]
Trên vùng núi Altai người ta đã tìm thấy sáu mươi
chín bộ xương ngựa còn nguyên vẹn và mười tám bộ xương khác không đầy đủ được
xác định vào khoảng thế kỷ thứ V trước TL bị đông cứng trong nước đá, gồm hai
loại chính: loại nhỏ cao chừng 122 cm, hơi nhỏ hơn loại ngựa hoang, loại lớn
cao chừng 143 cm, cao hơn một con ngựa Ả Rập hiện thời. Hancar cho rằng những
con ngựa này đã được tuyển chọn và lai giống kỹ càng.[5]
B/ Con Ngựa và Văn Minh Trung Hoa
1/ Sự đóng góp của Trung Hoa vào việc thuần hóa
và sử dụng ngựa
a/ Thắng cương
Người Trung Hoa đã được coi như đã đóng góp nhiều
phát minh quan trọng của kỵ thuật trong đó có cách thắng ngựa hữu hiệu bằng ức
(breast-strap harnessing system), bàn đạp chân (stirrup) và vòng cổ (collar). Với
chúng ta xem ra những sáng kiến này không có gì đặc biệt nhưng trên thực tế những
thay đổi đó đã làm cho kỹ thuật chiến tranh đi vào một giai đoạn mới, có ảnh hưởng
rất lớn đến vận mệnh lịch sử của thế giới. Cách thắng ngựa của người Trung Hoa
đã giúp cho con ngựa không bị nghẹt thở, làm giảm năng lực của con vật và những
xe kéo đã vượt xa những xe ngựa của phương Tây. Phải mất hơn một nghìn năm người
Âu Châu mới học được cách đóng cương một con ngựa của người Tàu.
Trên khắp thế giới, người ta biết thắng bò trước
khi thắng ngựa. Tuy nhiên vì ngựa chạy nhanh hơn nên người ta lập tức tìm cách
thắng ngựa sau khi đã thuần hóa và ngay từ đầu, con người thắng ngựa cùng một
phương pháp thắng bò. Hai con bò được buộc song song với một trục gỗ bằng một
cái ách để giữa cổ và xương gồ ở trên lưng.
Tuy nhiên hai giống vật có hình thể khác nhau, việc
áp dụng một cách máy móc đó đã đem lại những bất lợi và chính vì ngựa không có
cục bướu ở trên lưng như bò, người ta phải buộc xuống bụng thêm một đai vòng
qua cổ để giữ cho cái ách khỏi thụt lùi về sau. Kiểu buộc đó đã khiến cho con
ngựa bị nghẹt thở.
Vào đầu thế kỷ XX, Lefebvre des Noettes, một sĩ
quan kỵ binh người Pháp đã nghiên cứu về cách thắng cương của các dân tộc trên
thế giới trong nhiều thời đại và tái tạo những phương thức mà người xưa đã dùng
để buộc ngựa, ông đã viết về cách giàng cương bằng ức tạm dịch đại lược như
sau:
... Lối thắng cương cổ điển (mà chúng ta tạm
gọi là thắng bằng cổ và bụng) chỉ dùng được một phần nhỏ động lực của con vật,
không tạo được năng suất tổng hợp và vì thế hiệu năng rất kém... Cách thắng
cương này được dùng mãi cho tới thời Trung Cổ ở châu Âu, và dường như được dùng
khắp mọi nơi, khắp mọi nền văn hóa và đều thiếu hiệu quả như nhau cả. Chỉ có một
nền văn minh cổ đã thoát ra khỏi được phương pháp này và tìm ra một cách thắng
cương hữu hiệu, đó là Trung Hoa.[6]
Thí nghiệm của Lefebvre des Noettes cho thấy hai
con ngựa nếu thắng bằng lối quàng qua cổ (throat-and-girth) chỉ kéo được khoảng
nửa tấn trong khi một con ngựa thắng theo lối mới có thể kéo được 1 tấn rưỡi
nghĩa là hiệu năng tăng gấp sáu lần.
(b) là cách thắng ngựa hữu hiệu của người Trung Hoa
Người Tàu thay đổi lối thắng ngựa từ bao giờ cho
đến nay chưa ai dám xác quyết nhưng có thể đã có từ thời Chiến Quốc thế kỷ thứ
IV trước TL. Một trong những giả thuyết là người Trung Hoa vẫn thường dùng sức
phu phen để kéo thuyền đi ngược dòng sông và có thể chính từ đó họ cảm nhận được
rằng nếu choàng sợi đai qua cổ con vật thì nó sẽ bị ngộp thở và sức kéo giảm đi
nhiều và từ đó đưa đến việc cải thiện phương pháp thắng ngựa.[7]
Từ phương pháp thắng ngựa bằng ức, người Tàu cũng
chuyển qua một vòng đai vòng qua cổ và sử dụng thay thế cho một cái xương gồ
trên lưng như trâu bò để máng chiếc ách. Ðây là cách tương tự như phương thức
hiện nay người ta dùng và được coi là phương pháp hiệu quả hơn cả.
b/ Kỵ thuật (thuật cưỡi ngựa)
Người ta phỏng chừng người Trung Hoa biết cưỡi ngựa
vào khoảng thế kỷ thứ VII trước TL và tới đời Hán kỵ binh đã trở thành một
trong những sức mạnh chính của quân đội. Sự tương đồng về hình dáng của yên
cương tìm thấy tại Siberia ở thế kỷ thứ V trước TL với những hình ngựa đào được
trong mộ của Tần Thủy Hoàng cho ta biết rằng người Trung Hoa đã vay mượn từ miền
bắc.
Tuy nhiên người Trung Hoa cũng như người Việt
chúng ta là giống dân nông nghiệp sống định cư, không chuyên về cưỡi ngựa và
người dân thường nuôi trâu bò để canh tác chứ không dùng ngựa như Âu Mỹ. Một điểm
quan trọng nữa là ngựa không dễ nuôi như trâu bò và tốn phí hơn. Chính vì thế nhiều
thời đại triều đình Trung Hoa không đủ ngựa cho kỵ binh. Trong khi đó những dân
tộc du mục ở vùng thảo nguyên biết cưỡi ngựa từ khi còn tấm bé. Nhìn vào lối phục
sức diêm dúa, quần chùng áo dài của người Tàu ở thời Ðường, thời Tống chúng ta
thấy ngay đó không phải là những y phục thuận tiện cho kỵ thuật.
Cưỡi ngựa đời Đường (gốm sứ ba màu)
Nguồn: Hà
Nam Văn Vật Tinh Hoa (1999)
Khi nghiên cứu về binh pháp, cách dùng binh bao
giờ cũng phản ảnh sự tiến triển của võ khí, điều kiện kinh tế và quyền lực
chính trị của thời đại. Thời xưa, khi thần quyền còn mạnh, binh bị tập trung
vào khả năng của giới vương hầu còn thường dân chỉ là những nô lệ hay nói đúng
ra, là một trong những sở hữu của giai cấp thống trị. Ngay từ thời Chiến Quốc,
người Trung Hoa đã dùng đến kỵ binh và nhiều chư hầu đã học hỏi phương pháp chiến
đấu của người Hung Nô. Một trong những điểm nổi bật của thời kỳ này là khi nhà
Chu lật đổ nhà Thương, họ đã dùng chiến xa như một vũ khí chiến lược giúp họ việc
chuyển quân, chuyển lương thực vũ khí nhanh hơn và nhờ đó họ đã có thể sử dụng
nhiều chiến thuật mới và đã đánh bại được đối phương mặc dầu lực lượng ít hơn.
Nhiều học giả cũng đưa ra giả thuyết rằng chính vì sử dụng chiến xa mà thanh kiếm
đã được cải thiện và loại hai lưỡi (double-edged) đã được thay thế bằng những
loại chủy thủ ngắn hơn, tương tự như dao găm, và dùng giáo dài là vũ khí chính
yếu.[8] Mặc dù ngay trong Tôn Tử
binh pháp đã có nhắc đến việc sử dụng chiến xa nhưng phải đến Tôn Tẫn binh pháp
đã nhắc đến một cách khá chi tiết (chương 7, 18) và nhấn mạnh vào sự quan trọng
của nó đối với vấn đề quân sự.[9]
Một cách tổng quát, ngay từ thời Chiến Quốc, kỵ
binh đã được sử dụng như một vũ khí chiến lược vì có nhiều ưu điểm “... kỵ
binh có thể tản ra rồi hợp lại, phân tán rồi tập trung. Kỵ binh cũng có thể gom
lại một điểm hẹn trước cách xa hàng trăm, có khi hàng nghìn dặm... ”[10]
c/ Bàn đạp (馬豋 mã đăng)
Cái bàn đạp (stirrup) cũng quan trọng không kém,
nếu không có bàn đạp này, kỵ sĩ chỉ dùng ngựa để di chuyển chứ không đủ ổn định
để chiến đấu.[11] Ở vào thời nay chúng ta
không thể nào hình dung được một phát minh nhỏ bé như thế có ảnh hưởng thế nào
với lịch sử nhưng từ khi người ta chỉ biết dùng ngựa để kéo xe, đến khi có thể
cưỡi trên lưng con vật, rồi đến khi huấn luyện, trang bị và tập cho nó quen được
với chiến đấu là một tiến trình dài của nhân loại. Có tác giả đã cho rằng phát
minh ra cách thắng ngựa bằng vòng ức (breast-strap harnessing system), hay bàn
đạp chân cũng quan trọng không kém gì việc làm được giấy và tìm ra thuốc súng.
Ðó là bốn phát minh quan trọng nhất của người Trung Hoa có ảnh hưởng đến lịch sử
thế giới.[12]
Dùng ngựa để cưỡi tuy có thể giúp người ta di
chuyển nhanh hơn nhưng vẫn không thể chiến đấu được nếu không ổn định. Bàn đạp
cũng có thể giúp cho những chấn động nơi bàn tọa khi cưỡi ngựa di chuyển xuống
chân giảm thiểu những ảnh hưởng cho xương sống và bắp thịt lưng khiến cho kỵ sĩ
có thể ngồi lâu không mỏi. Chính vì thế việc phát minh ra cái bàn đạp được coi
là một khám phá quan trọng vào bậc nhất cho thuật kỵ mã. Có điều sao lại mất một
thời gian lâu đến thế trước khi nghĩ ra phụ tùng giản dị này thì vẫn còn là một
điều khó hiểu đối với các nhà nghiên cứu.
Trước khi có cái bàn đạp, cách duy nhất của người
kị sĩ có thể làm là kẹp chặt hai chân và giơ tay giữ ghịt bờm con vật khi chạy
nhanh. Người Roma (La Mã) thì nghĩ ra cái chỗ vịn để cầm ở yên ngựa.
Cái bàn đạp nguyên thủy có lẽ chỉ vì người ta muốn
lên xuống ngựa cho an toàn, nhất là khi có mang theo binh khí. Năm 552 trước
TL, vua xứ Persia (Ba Tư) là Cambyses khi lên ngựa đã rủi ro bị ngã và chết vì
chính binh khí của mình. Những kỵ sĩ tài ba thì có thể nắm bờm rồi nhảy lên, hoặc
có khi người ta dùng ngay ngọn giáo của mình để làm sào chống. Cũng có khi bên
hông ngọn giáo có một cái cán đâm ngang (như trong hình mũi giáo của Phù Sai)
dùng để làm điểm tựa để đặt chân vào rồi nhảy lên ngựa.
Cho đến nay khi nghiên cứu về sự phát triển của
chiếc bàn đạp, các học giả đồng ý rằng lúc đầu phụ tùng này chỉ dùng để giúp
người ta lên yên, do đó chỉ gắn vào một bên của yên ngựa. Bàn đạp hai bên xuất
hiện vào khoảng thế kỷ thứ IV sau TL và từ đó lan rộng ra nhiều nơi khác kể cả
các nước ngoài như Cao Ly (Ðại Hàn), Nhật Bản và Việt Nam ta.
Sau khi bàn đạp trở thành một phụ tùng không thể
thiếu của tọa kỵ, việc chế tạo binh khí cũng thay đổi. Ngoài các loại võ khí
dài như thương, giáo, kích, đại đao … ngay cả bội kiếm (kiếm đeo trên người) cũng
được đúc dài hơn và khôi giáp cũng cải biến cho phù hợp với tình trạng mới.
Chính vì thế, việc phát minh ra bàn đạp đã ảnh hưởng không phải chỉ đối với thuật
cưỡi ngựa mà cả trong hình thức chiến đấu và phương tiện chiến tranh.
d/ Móng ngựa (蹄鐵 đề thiết)
Móng ngựa (đề thiết) bằng sắt cũng là một phát
minh để làm tăng hiệu lực của con ngựa. Người Trung Hoa có câu: “Vô thiết tức
vô đề, vô đề tức vô mã” 無鐵即無蹄, 無蹄即無馬(không có móng sắt
thì móng thật vô dụng, móng vô dụng thì ngựa cũng hết xài) nói lên tính chất
quan yếu của chiếc móng sắt mà người ta đóng vào dưới chân cho móng thật của
con ngựa khỏi mòn khi chạy lâu.
Theo Lý Thiết Cầm, người Trung Hoa đã biết đóng
móng ngựa từ thế kỷ thứ V sau TL và trong những mộ đời Tấn đã có minh họa. Nhiều
người cũng cho rằng kỹ thuật này sau đã truyền qua Tây phương và được cải biến
để trở thành một phụ tùng quan trọng của con ngựa.[13]
e/ Giáp trụ
Sau khi đã biết dùng ngựa để cưỡi, người ta nghĩ
ngay đến việc bảo vệ con vật cho khỏi bị sát hại khi giao chiến. Ðó là lý do tại
sao những bộ giáp trụ dùng cho ngựa được chế tạo. Trong những hình vẽ trong
hang đá tìm thấy ở Ðôn Hoàng (Dunhuang), giáp trụ của ngựa bao trùm toàn thể
con vật, trừ tai, mõm, chân và đuôi. Người cưỡi ngựa cũng mặc áo giáp. Giáp của
ngựa gồm sáu bộ phận rời, làm bằng da hay sắt, lại được tô màu rằn ri. Mã giáp
được tìm thấy từ thời Tam Quốc rồi tiếp tục phát triển đến đời Tùy, Ðường.
2/ Con Ngựa trong Lịch Sử Trung Hoa
a/ Thời Thượng Cổ
Ở Trung Hoa lúc đầu người ta chỉ dùng ngựa để kéo
xe và có lẽ những chiếc xe ngựa đầu tiên cũng từ những người du mục ở quan ngoại
đem vào mà những dân tộc này rất có thể cũng bắt chước những giống dân từ Trung
Á hay Bắc Phi. Cỗ xe ngựa đầu tiên người ta đào thấy thuộc về đời Thương (khoảng
1600 – 1100 trước TL). Tuy nhiên nhiều học giả lại cho rằng có thể xe ngựa có từ
vài trăm năm trước đó mặc dù không còn di tích gì. Cỗ xe này tương tự như những
cỗ xe tìm thấy ở Hắc Hải (Black Sea) và biển Caspian, và ngoài ra cũng tìm thấy
nhiều khí giới ở chung quanh khiến người ta cho rằng xe này là một loại chiến
xa chứ không phải dùng để chuyên chở không mà thôi.
Những con ngựa thời đó cao chừng 133 đến 143 cm [14], đầu to, xương thô giống
như giống ngựa hoang ở Trung Á ngày nay. Thời đó người ta thắng ngựa dọc theo một
cái càng ở giữa và dùng một loại ách (yoke) để kềm ngựa lại vì họ chưa biết
cách buộc ngựa bằng cổ và đai (throat-and-girth type harness)[15]. Cũng có người cho rằng chiến
xa được du nhập khi người Trung Hoa giao chiến với các bộ lạc ở miền Bắc nhưng
các học giả không cho rằng việc đó giản dị như thế. Muốn sử dụng ngựa trong trận
mạc, nhất là kéo các chiến xa thì trước hết người ta phải thủ đắc được thuật huấn
luyện, biết cách nuôi và trị bệnh, biết cách điều khiển và thắng cương, chế tạo
bánh xe … Những kỹ thuật đó không phải một ngày một buổi mà xong và đòi hỏi một
thời gian dài trước khi có thể sử dụng chiến xa.
Cũng có thể có những trao đổi kỹ thuật vì ngay từ
thời cổ, giới quí tộc các nước vẫn thường kết hôn như một hình thức hòa hiếu và
việc trao đổi dụng cụ, tặng phẩm hay kỹ thuật có thể kèm theo. Dầu sao chăng nữa,
nghe thì có vẻ ghê gớm nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng chiến xa thường thường
dùng hai hay bốn ngựa, điều khiển đã cồng kềnh lại bất tiện vì chỉ có thể sử dụng
tại những vùng bình nguyên rộng rãi, khô ráo và bằng phẳng nhưng không đắc dụng
tại những vùng núi đồi hay ẩm thấp. Chiến xa lại dễ bị lộ, dễ bị tấn công và
phá hủy, chưa kể người ngồi trên xe có khi mất mạng vì chính phương tiện của
mình một khi bị địch quân phát hiện. Do đó về phương diện chiến đấu thực sự,
chiến xa không phải là một phát minh vĩ đại như chúng ta thấy trong các phim ảnh
mà có thể nói chỉ là đồ trang sức để tăng thêm uy nghi cho tướng lãnh mà thôi.
b/ Ðời Hán
Thời nhà Hán (206 trước TL – 220 TL) danh tướng
Trung Hoa dưới cái tên Phục Ba tướng quân là Mã Viện (馬援) (14 trước TL – 49 TL), người đã đánh bại hai bà Trưng, cũng là một
người rất sành sỏi về ngựa đã đưa ra một nhận định rất sâu sắc: “Ngựa là căn
bản của binh bị, là nguồn lợi lớn của quốc gia”. Ông ta đã từng làm thái
thú Lũng Tây, cầm binh đánh nhau với rợ Khương nên hiểu được vai trò của con ngựa
trong chiến đấu và mối đe dọa to lớn của những bộ tộc du mục bên ngoài dãy
Thiên Sơn. Cũng vì thế, những triều đại Trung Hoa bỏ rất nhiều tài nguyên và
nhân lực xây Vạn Lý Trường Thành chỉ để ngăn ngừa vó ngựa Hung Nô.
Những tàu ngựa đầu tiên mà người Trung Hoa gây giống
và nuôi được chính là từ giống ngựa hoang Mông Cổ, pha với những con ngựa mua từ
Trung Ðông. Ngay từ đời thượng cổ khi bị cái họa xâm lăng của người rợ Khuyển
Nhung, người Tàu không những phải nghiên cứu và tập luyện cách cưỡi ngựa (trước
kia họ chỉ biết dùng ngựa để kéo xe) trong chiến đấu mà còn phải học cách nuôi
ngựa để có đủ sức chống lại quân địch.
Nạn bắc xâm đe dọa khiến cho người Trung Hoa học
được của những bộ tộc du mục kỹ thuật chiến tranh, từ việc dùng ngựa để kéo xe,
đến các vũ khí bằng kim loại, và rồi thuật kỵ mã. Nhu cầu dùng kỵ binh đã khiến
triều đình Trung Hoa phải mua rất nhiều ngựa từ nước ngoài vì ngựa bản địa của
người Tàu phẩm chất kém xa ngựa của kẻ thù.[16]
Khi Võ Ðế lên ngôi đã đem đại quân ra đánh Hung
Nô, đuổi được họ về sa mạc Gobi nhưng cũng tổn thất nặng nề, có trận chết sạch
cả chục vạn quân. Võ Ðế lại sai người đi tìm mua các giống thiên mã (heavenly
horses) và năm 138 trước TL đã sai Trương Khiên (張騫 - Zhang Qian) đi sứ
mưu tính liên minh với nước Ðại Nhục Chi (Yuezhi) để chống lại Hung Nô. Trương
Khiên đã vượt hơn 3000 km, mất khoảng 12 năm và có lúc đã bị Hung Nô cầm tù
nhưng sau cùng cũng tới đích, nay là khoảng Afghanistan nhưng vua nước này
không còn tha thiết với chuyện này nữa. Dẫu sao Trương Khiên đã đem về nhiều
tin tức thu thập được trong chuyến viễn hành đặc biệt là về giống “hãn huyết
mã” (blood-sweating horses) của vùng Ferghana (người Trung Hoa gọi là Ðại
Uyển) ở Trung Á (nay thuộc về Uzbekistan, Tajikistan, và Kyrgyzstan). Giống ngựa
này bị một loại ký sinh có tên là Parofiliaria multipupillosa khiến cho
khi chạy nhanh mồ hôi toát ra có trộn lẫn máu. Theo mô tả, giống ngựa này chính
là tổ tiên của giống Turanian và Akhal-Teke ngày nay.[17]
So sánh với những giống ngựa mà Trung Hoa có thời
kỳ đó, giống ngựa Ferghana cao to hơn nhiều. Chính vì thế, một mặt Võ Ðế muốn
có những ngựa tốt dùng trong quân đội, mặt khác lại đi tìm thiên mã, thần mã
mong được cưỡi lên núi Côn Lôn là nơi thần tiên cư ngụ ngõ hầu trường sinh bất
tử. Ông sai đại tướng Lý Quảng Lợi (李廣利 - Li Guangli) đem
6,000 kỵ binh, 20,000 lính sang cướp ngựa. Tuy nhiên chiến dịch này không thành
công và tướng sĩ nhà Hán chết gần hết. Ba năm sau, ông lại sai Lý Quảng Lợi đem
60,000 quân với 30,000 con ngựa, dẫn theo một đoàn gia súc 100,000 con để làm
thực phẩm. Lần này họ Lý đem về được 50 con hãn huyết mã và khoảng 1,000 con ngựa
giống.[18]
Cũng trong chiến dịch đánh Ferghana, Trương Khiên
đã đi qua nước Ô Tôn (Wusun) là nơi cũng có nhiều ngựa tốt, lai giống giữa ngựa
Ferghana với ngựa Mông Cổ. Nhà Hán sụp đổ đưa đến việc người Tiên Ti (Xianbei)
xâm lăng, chiếm lấy miền bắc Trung Hoa. Người Tiên Ti cũng là một giống Hung Nô
thuộc sắc tộc Ðột Quyết (Turk), rất thiện thuật kỵ mã, đã xây dựng được một quốc
gia hùng mạnh trên lưng ngựa.
c/ Ðời Ðường
Ðến đời Ðường (618-907), một triều đại được coi
như huy hoàng và thành tựu vào bậc nhất của Trung Hoa, việc giao thương với bên
ngoài rất thịnh đạt. Trường An, thủ đô của nhà Ðường là một khu vực thị tứ đứng
vào bậc nhất của thế giới, dân số lên đến trên một triệu người trong nội thành
và khoảng một triệu khác ở ngoại ô có diện tích lên đến gần 30 dặm vuông (80 km2).[19]
Họ Lý sáng lập nhà Ðường vốn là một thế gia ở miền
tây bắc có nhiều liên hệ hôn nhân và huyết thống với người Hồ nên quen thuộc với
ngựa. Chính sách đời Ðường tương đối cởi mở và phóng khoáng, nhiều tư tưởng và
tôn giáo từ ngoài du nhập vào Trung Hoa. Trường An có rất nhiều đền đài của đạo
Hồi, đạo Do Thái, đạo Thiên Chúa (Nestorian Christianity). Phật giáo thời kỳ
này thịnh trị, chùa chiền mọc lên như nấm. Trong kinh đô có nhiều khu vực cộng
đồng thiểu số và ngoại nhân của người Hồi Hột (Uighurs), Ðột Quyết (Turks), Tạng
(Tibetans), Sogdians... và có đến 300 sứ bộ của các nước khác đem đến buôn bán
không những sản phẩm từ bên ngoài mà còn du nhập vào Trung Hoa nhiều kỹ thuật mới
về nhiều bộ môn như âm nhạc, luyện kim, thuốc men, chưa kể nhiều trò chơi và
trò giải trí như múa hát, đánh cờ...
Con đường Lụa (Silk Road) kéo dài từ Trường An đến
tận Kashgar được binh đội bảo vệ và dọc theo thông lộ này nhiều thành phố mọc
lên, nhiều thương đội (caravan) qua lại rất sầm uất. Nhà Ðường đã bành trướng
và chinh phục nhiều quốc gia Tây Vực đồng thời mở những con đường giao thông,
buôn bán ra Trung Á, xây dựng những trung tâm thương mại lớn ở Kucha, Khotan,
Yarkand, Kashgar, Kushar, Tukmak và Karashahr. Một công chúa (Văn Thành) được gả
cho vua Tây Tạng để gây tình hòa hiếu.[20]
Khi nhà Ðường mới thành lập, họ chỉ có độ 5,000
con ngựa. Thế nhưng chỉ 50 năm sau, triều đình đã có tới 706,000 con trong đó
có khoảng 50,000 con do các nước Tây Vực tiến cống. Ngựa được chia thành đội, với
tên khác nhau theo phẩm chất (phi mã, long mã, phong mã) và theo từng loại (chiến
mã, ngự mã, dịch mã). Nếu mã phu làm mất hay làm chết ngựa sẽ bị tội nặng. Cưỡi
ngựa được coi là một thú tao nhã dành riêng cho giới quí tộc trong triều, còn
dân chúng và các giới công thương bị cấm. Trong triều còn có những đội huấn luyện
ngựa làm trò cho vua quan coi (dancing horses), biết nhảy múa theo điệu nhạc.
Vào thời đó đàn bà tương đối tự do và bình đẳng với nam giới, cũng được cưỡi ngựa
và tham dự những trò chơi. Giới quí tộc, nhất là đàn bà, thường hay chơi polo
-- một trò chơi nhập cảng từ Ba Tư -- trên lưng ngựa.
Những tác phẩm nghệ thuật đời Ðường hiện nay còn
có được cho ta thấy con ngựa là một trong những đề tài quan trọng, là nguồn cảm
hứng cho thi nhân và họa sĩ, đồng thời cũng miêu tả khá nhiều những sinh hoạt của
người Trung Hoa cách đây hơn một nghìn năm. Qua những tác phẩm nghệ thuật còn
lưu lại được tới hôm nay chúng ta thấy đời Ðường hình tượng ngựa bằng gốm, kim
loại khá nhiều và tranh vẽ ngựa, mã phu là một đề tài thông dụng.
Một trong những vì vua nổi tiếng nhất của nhà Ðường
là Ðường Huyền Tông (唐玄宗) thường được quen thuộc hơn với cái tên Ðường
Minh Hoàng. Vua Huyền Tông sinh năm 685, lên ngôi năm 27 tuổi (712) và đã đưa
nước Tàu vào một thời kỳ thịnh trị văn minh cao độ. Khi ông còn nhỏ, triều đình
nằm trong tay vị nữ vương nổi tiếng, Võ Tắc Thiên. Mẹ ông bị giết, các thân tộc
bị tù đày nên khi lên ngôi, Ðường Huyền Tông đã làm một cuộc cách mạng triều
chính và cải tổ hành chánh. Ông cũng là người tài hoa, thơ hay, vẽ giỏi, có thể
nói là cầm kỳ thi họa đều gồm đủ.
Tuy nhiên khi về già ông lại vùi mình vào những
hoạt động mang màu sắc tôn giáo thần bí, pha trộn giữa đạo Lão và Mật tông (Phật)
đầy bùa ngải, phù phép. Vì họ Lý là họ nhà vua nên Lão Tử (Lý Nhĩ) được đề cao
như tổ tiên của hoàng tộc, đạo Phật bị đưa xuống hàng ngoại giáo từ bên ngoài
truyền vào.
Khoảng đầu thập niên 740 khi ông đã gần 60, Ðường
Huyền Tông say mê một người con dâu (vốn là vợ của một hoàng tử, con trai ông)
họ Dương nên tuyển nàng vào cung với danh hiệu Thái Chân đạo sĩ. Càng ngày gia
đình họ Dương càng được sủng ái, giữ nhiều trọng trách trong triều đình. Dương
phi cũng đặc biệt thân cận với một viên tướng to béo, thô lỗ gốc Tây Vực là An
Lộc Sơn nên nàng nhận y làm con nuôi để dễ dàng ra vào cung cấm.
Thời kỳ đó cũng là lúc nhà Ðường bắt đầu suy vi
trong khi các nước chung quanh lại lớn mạnh. Ðạo Hồi (Islam) ở phương Tây đã
phát triển thành một thế lực và năm 751 người Ả Rập đánh bại quân Tàu ở Trung
Á, kiểm soát Con Ðường Lụa làm gián đoạn đường giao thông từ Trung Hoa sang Ấn
Ðộ và phương Tây nên những tướng lãnh vùng biên ải được nhiều quyền hành và
cũng độc lập hơn. An Lộc Sơn nhân cơ hội đó nổi dậy tự lập làm vua rồi tiến
quân về kinh đô, tàn sát thành Khai Phong, lấy được Lạc Dương rồi vây hãm Trường
An khiến Vua Huyền Tông và văn võ bách quan phải chạy về Ba Thục (Tứ Xuyên).
Quân sĩ nổi loạn và yêu cầu nhà vua phải giết
Dương phi khiến ông đành phải ra lệnh thắt cổ người thiếp yêu dấu. Cuộc đời
Dương phi và mối tình với Ðường Minh Hoàng đã được Bạch Cư Dị (白居易) viết thành một bài thơ dài nhan đề “Trường Hận Ca” (長恨歌). Sau biến cố này, vua Huyền Tông phải nhường ngôi cho con để làm
Thái Thượng Hoàng cho tới khi chết.
Ngựa đời Ðường được trang sức bằng nhiều món khác
nhau, đuôi ngựa được tết thành một cục nhỏ, bờm cũng được cắt xén thành nhiều
kiểu. Cũng như nhiều bộ môn khác, kỵ thuật và phụ tùng đời Ðường đã trở nên rất
chi li phức tạp, viết thành sách vở. Ngoài ra trong triều đời Huyền Tông còn huấn
luyện riêng 100 con ngựa tốt để làm trò. Năm 729, triều đình định ngày sinh nhật
của Ðường Minh Hoàng là ngày khánh nhật quốc gia gọi là Thiên Thu Tiết
(Thousand-Autumn Holiday). Ngày đó ngoài duyệt binh còn cả múa hát vui chơi mà
đặc biệt nhất là các xảo thuật của đoàn ngựa tạo thi hứng cho nhiều danh sĩ mà
thơ văn còn truyền đến ngày nay. Ðoàn ngựa này nhiều người vẫn coi là cao điểm
của văn minh đời Ðường.
d/ Ðời Tống
Sau đời Ðường, nước Tàu rơi vào cảnh loạn lạc 53
năm mà sử gia gọi là đời Ngũ Ðại ở miền Bắc và Thập Quốc ở miền Nam. Ðến năm
960, một tướng lãnh của nhà Hậu Chu là Triệu Khuông Dẫn bình định được đất nước
lên ngôi là Tống Thái Tổ.
Đời Tống (960-1279), nước Tàu lên cao về văn hóa
nhưng lại xuống thấp về binh bị và quân sự, ngựa không còn được coi trọng như
tiền triều. Về học thuật và văn hóa, người Trung Hoa đạt đến cực thịnh về nhiều
mặt, nhiều ngành nghề và kỹ thuật mới được phát minh trong đó có ngành in mộc bản
(wood block printing). Kinh tế cũng phát triển và nhiều công trình kiến trúc và
nghệ thuật còn tồn tại đến ngày nay.
Tuy nhiên triều đình thi hành một số chính sách
khiến cho ngày càng suy yếu. Binh lính nay trở thành một nghề thấp kém nhất
trong xã hội. Nhà Tống lại chủ trương giao hiếu với các rợ phương bắc bằng đường
lối mua chuộc, mỗi năm triều cống cho họ vàng bạc và tơ lụa để họ khỏi xâm
lăng. Họ không còn những đoàn ngựa chiến như đời Ðường và cũng không còn tuyển
được những đoàn quân chịu đánh thuê cho họ thành thử mỗi lần giao tranh quân Tống
đều thua, khiến cho phải nhượng bộ về đất đai hay gia tăng cống phẩm. Mặc dù
người Trung Hoa vẫn dùng lụa và trà để đổi ngựa nhưng không mấy khi được những
giống tốt.
Tuy hết sức mềm dẻo về mặt ngoại giao, kể cả việc
vua Tống nhận làm anh em, thân tộc kết nghĩa (về sau thì phải triều cống xưng
thần) với những quốc gia miền bắc nhà Tống vẫn bị người Kim (Nữ Chân) xâm lăng
năm 1127 và phải thiên đô về Hàng Châu cho tới khi bị người Mông Cổ chinh phục.
e/ Ðời Nguyên
Cho tới thế kỷ thứ XII, những bộ tộc du mục ở
vùng Trung Á vẫn sống rời rạc. Chỉ đến khi Thiết Mộc Chân (Temujin) tức Thành
Cát Tư Hãn (Genghis Khan) kết tập họ lại dưới quyền chỉ huy duy nhất của ông
vào đầu thế kỷ XIII thì người Mông Cổ mới trở thành một lực lượng quân sự vĩ đại
mà cái ưu điểm chính của họ là con ngựa và thuật kỵ mã. Ngựa là phương tiện di
chuyển, bạn đồng hành, và cũng là thực phẩm của chiến sĩ Mông Cổ và có thể nói
họ là những kỵ sĩ số một của thế giới thời đó, “... có thể sống mười ngày
liên tiếp trên yên ngựa, chỉ uống máu ngựa hút từ một động mạch con vật”.[21]
Ngựa Mông Cổ là giống rất chịu đựng và dai sức,
tuy chỉ cao từ 130 đến 140 cm nhưng lại rất nhiều. Giống ngựa này lại dễ nuôi,
ăn thuần cỏ không cũng đủ và vì thế rất ít tốn kém. Chỉ đến khi họ chiếm được Bắc
Kinh năm 1251 thì mới có thêm những bảo mã vùng Ferghana và sau này triều đình
nhà Nguyên giữ độc quyền nuôi ngựa.
Các cách bắn
cung trên lưng ngựa của kỵ sĩ sa mạc
Người Mông Cổ biết rằng sức mạnh của họ chủ yếu
là kỵ binh nên luôn luôn chú trọng đến việc duy trì một lượng lớn số ngựa nuôi.
Mỗi người lính Mông Cổ phải tự chăm lo cho bầy ngựa của mình, mỗi con ngựa phải
được nuôi từ nhỏ cho tới khi đủ năm tuổi mới cưỡi được và có như thế mới tuyệt
đối tuân lệnh người cưỡi nó. Ðó chính là yếu tố quan trọng để dùng ngựa trong
chiến đấu, kỵ sĩ và tọa kỵ là một. Ngựa đực đều bị thiến (gelding) để khi hành
quân không nổi cơn bất tử khi thấy ngựa cái và chỉ những con đực khỏe mạnh nhất
mới được giữ lại làm giống.
Ngựa Mông Cổ lại được huấn luyện sao cho kỵ sĩ có
thể bắn cung đủ mọi hướng trong khi chạy nhanh và sao cho thật ổn định khiến
cho xạ thủ không bị trở ngại. Một ưu điểm của tư thế đó là khi chạy nhanh con
ngựa bao giờ cũng nhoài đầu về trước khiến cho cung thủ không bị vướng víu, có
thể quay ngang quay dọc, trái phải một cách tự do.
Quân đội Mông Cổ được chia thành từng đơn vị theo
lối thập phân, mười người thành một đội, có các thập phu trưởng, bách phu trưởng,
thiên phu trưởng trông coi. Mỗi người mang theo nhiều con ngựa để thay đổi và họ
có thế tiến binh với tốc độ 100 dặm một ngày. Khi chiến đấu cũng như khi đi săn
họ sắp thành đội hình để bao vây quân địch. Di động nhanh, biến trá và với chiếc
cung mạnh, kỵ binh Mông Cổ có thể sát hại một địch thủ cách họ 100 đến 200 mét
và vào thế kỷ thứ XIII trở thành một binh đội có ưu thắng tuyệt đối không nơi
nào đương cự nổi. Họ lại học hỏi nhanh chóng kỹ thuật dụng gián (espionage) và
chiến tranh tâm lý (psychological warfare) nên thủ đắc rất sớm những ưu điểm của
những vùng bị chinh phục nên càng lúc càng qui mô. Họ cũng rất biến trá, biết
dùng nghi binh, dụ địch và thường tấn công bất ngờ.
Ðối với chiến mã, Ghenghis Khan có những qui luật
nghiêm nhặt để dưỡng sức cho tọa kỵ. Ngựa phải được hoàn toàn tự do, không yên
cương, không ràng mõm, không chở đồ nặng và chỉ được thắng giàm vào giờ phút cuối
cùng trước khi xung trận. Những ai vi phạm bị chém đầu ngay tức khắc.
Ngoài việc dùng trong chiến đấu, ngựa còn đóng một
vai trò quan trọng trong việc truyền tin. Theo Marco Polo, một người Ý làm việc
trong triều đình nhà Nguyên 17 năm thì tin tức, lệnh lạc có thể truyền đi khắp
nơi trong lãnh thổ chỉ mất vài ngày. Nhà Nguyên cho dựng hơn một vạn dịch trạm,
cách nhau từ 40 đến 48 km dọc theo những trục lộ giao thông chính. Mỗi dịch trạm
đều có nuôi ngựa tốt và mỗi nơi do dân chúng sở tại phải cung đốn khoảng 400 ngựa
khác, trong đó 200 con thả rong và 200 con hiện dịch sẵn sàng nhận lệnh để truyền
tin. Ngoài ra còn một số trâu bò để chuyên chở những vật nặng và thuyền bè để
di chuyển trên các thủy đạo. Trước khi đến trạm kế tiếp, người đưa tin phải
rung chuông để bên kia sẵn sàng nhận tin và lên đường ngay lập tức, không chần
chờ. Phương pháp này khiến cho lệnh lạc có thể được truyền đi trên 250 dặm (khoảng
400 km) trong một ngày. Tuy nhiên hệ thống dịch trạm chủ yếu là để dùng cho hệ
thống phòng thủ của triều đình chứ không phải cho tư nhân và dân chúng nếu muốn
đưa tin cho nhau vẫn phải dùng phương tiện riêng của mình vì thời kỳ đó người
Trung Hoa chưa thành lập một hệ thống công cộng.
Triều đình nhà Nguyên kiểm soát việc nuôi ngựa rất
chặt chẽ, những ngựa trong dân chúng thường chỉ là ngựa thiến hay ngựa cái được
pha giống với lừa để sinh ra con la, một loài vật vô tính, không sinh sản chỉ
dùng trong chuyên chở và kéo xe. Ngựa tốt hầu hết là trong cung vua hay dùng
vào dịch trạm.
g/ Ðời Minh
Ðến đời Minh, vai trò của con ngựa trong việc
chuyên chở đã giảm vì thời đó thủy đạo tại Trung Hoa đã mở mang. Tuy vậy, triều
đình mỗi năm phải nhập cảng khoảng 10,000 con ngựa giống từ bên ngoài và thường
dùng trà để đổi lấy ngựa của các dân tộc miền Tây Vực. Trong khoảng 20 năm sau
khi nhà Minh thành lập, họ đã có khoảng 1,600,000 con nhưng cũng chưa đủ dùng.
Hỏa khí và thuốc nổ tuy cuối đời Minh đã được sử dụng trong quân đội như không
hiệu quả lắm và không tiện dụng bằng cung nỏ khi ngồi trên lưng ngựa.
h/ Ðời Thanh
Sang đời Thanh, người Trung Hoa lại bị cai trị bằng
một dân tộc miền Bắc vốn dĩ quen thuộc với cưỡi ngựa bắn cung không khác gì người
Mông Cổ. Người Mãn Châu (tức Nữ Chân) vốn không phải là dân du mục mà sống bằng
săn bắn, nông nghiệp, đánh cá nhưng sau khi bị người Khất Ðan cai trị đã học được
thuật kỵ mã và thuật bắn cung.
Khi họ chiếm được Trung Hoa, những vua đầu tiên
đã nổi tiếng là minh quân và thành lập được một đế quốc hùng cường. Họ cũng duy
trì được một lực lượng kỵ binh thiện chiến. Những vua nhà Thanh cũng nhiều người
có tài dùng binh, giỏi cưỡi ngựa, điển hình là vua Khang Hi (1661-1722) là một
hoàng đế có tài, từng nhiều lần thân chinh đánh giặc. Vua Càn Long (1736-1795)
là người rất thích tuấn mã nên các quốc gia Tây Vực thường chọn ngựa tốt đem tiến
cống. Ngoài Giuseppe Castiglione (Lang Thế Ninh), một họa gia cũng thuộc dòng
Jesuit là Jean-Denis Attiret đã để lại mười bức tranh vẽ mười con tuấn mã của
vua Càn Long.
Các vua nhà Thanh cũng hay tổ chức những buổi săn
bắn để tập luyện cho binh sĩ, vừa cưỡi ngựa, vừa bắn cung. Chỉ đến thế kỷ thứ
XIX, khi các nước Âu Tây đã phát triển nhiều về các loại vũ khí mới, kỵ binh
Trung Hoa mới không còn hữu hiệu.
II/ CÁNH CUNG
Cây cung có lẽ là một trong những khí giới phổ
thông nhất của loài người. Dường như bất cứ dân tộc nào, bộ lạc nào khắp năm
châu đều có cây cung. Thành thử chúng ta không thể biết được nguyên thủy nó từ đâu.
Ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, cung nỏ đã xuất hiện trong những truyện thần
thoại như truyện Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời hay truyện chiếc nỏ thần của An
Dương Vương.
Khổ nỗi cung nỏ cũng như tên đều dễ bị hủy hoại
theo thời gian nên ít khi người ta tìm được một cây cung còn nguyên vẹn của thời
xưa. Cây cung cũ nhất mà người Trung Hoa tìm thấy vào khoảng thời Chiến Quốc mặc
dầu chữ viết đã đề cập đến loại binh khí này từ thế kỷ thứ XV trước TL trên những
xương thú hay mai rùa.
A/ Cung Liên Hợp
Cây cung dùng trong chiến trận không phải chỉ làm
bằng gỗ mà ghép thêm sừng và gân (sinew), dán bằng a dao (keo nấu bằng xương).
Vì a dao có thể bị chảy khi dính mồ hôi nên người ta cố gắng tránh tiếp xúc với
lòng bàn tay, chỉ khi nào dương cung mới phải chạm vào và có thể có một mảnh
đúc bằng đồng để bảo vệ.
Theo John Keegan, chiếc cung đó được chế tạo như
sau:
... Cung liên hợp (composite bow) bao gồm một
thanh gỗ mỏng (slender strip of wood) – có khi là nhiều thanh được ép lại với
nhau – mà phần lưng (phía ngoài) được dán sát vào một sợi gân động vật dẻo suốt
chiều dài, còn phần bụng (phía trong) thì dát bằng những thanh sừng, thường là
sừng bò rừng (bison). Keo được nấu bằng gân trộn với da (a dao), thêm một phần
xương và da cá và phải mất hơn một năm mới khô hẳn và được trét trong những nhiệt
độ và ẩm độ thật chính xác … rất nghệ thuật cả về việc chế tạo lẫn thực hiện,
phần lớn trong một phương thức thần bí, bán tôn giáo.[22]
Cung liên hợp khởi thủy gồm năm mảnh gỗ mộc hay gỗ
ép – phần tay cầm ở trung tâm, hai cánh cung, và hai ngọn cung. Những mảnh này
sau khi đã được ráp lại với nhau sẽ được chưng trong hơi nước để uốn thành một
vòng cung, ngược chiều với khi căng giây, và những lớp sừng mỏng sẽ được dán
vào bụng. Cây cung lại được bẻ tiếp tục cho thành một vòng tròn và dây gân sẽ
được dán vào lưng. Cây cung cứ được giữ như thế cho đến khi nào tất cả mọi bộ
phận dính chặt với nhau thì mới tháo ra và căng giây thử lần đầu.
Căng một cây cung liên hợp đòi hỏi cả sức mạnh lẫn
khéo léo. Sức kéo, thường thường tính bằng pounds, [23]
khoảng chừng 150, trong khi cung làm bằng gỗ non chỉ cần độ vài pounds thôi.[24]
Cho đến nay, các học giả vẫn tranh luận về loại
cung liên hợp này có từ bao giờ và người ta đoán rằng có lẽ đã xuất hiện từ
thiên niên kỷ thứ III trước TL. Tuy nhiên việc chế tạo nên một kiểu cung như thế
hẳn là không phải ngày một ngày hai và cũng như chiếc xe ngựa, một dụng cụ phức
tạp hẳn đã qua nhiều thời kỳ thử nghiệm kéo dài hàng chục năm, có khi hàng mấy
trăm năm không chừng.
Cung liên hợp đó còn được dùng cho mãi đến tận thế
kỷ thứ XIX trong Bát Kỳ Quân của nhà Thanh và chỉ được thay thế khi thấy cung
tên không thể nào chống được với súng đạn của người Âu Tây.
Trong khi đó, tới thời Trung Cổ, người Âu Châu
tuy cũng áp dụng cách uốn cung ngược nhưng lại dùng cung dài và chỉ sử dụng được
khi xạ thủ đi bộ. Trái lại, cung liên hợp ngắn, khi giương lên chỉ dài khoảng từ
đầu đến ngang lưng rất thích hợp cho chiến xa hay cưỡi ngựa. Nói tóm lại cung
liên hợp là phương pháp để tăng cường tụ lực và sức đàn hồi mà một loại vật liệu
riêng rẽ không thể có được. Ðó là một phát kiến kỹ thuật của dân sa mạc rồi được
người Trung Hoa bổ túc thành một kỹ thuật phức tạp, một võ khí lợi hại trong
nhiều thế kỷ và được chép vào kinh điển.
Cung liên hợp bắn một mũi tên ngắn và nhẹ – tốt
nhất là khoảng một ounce (chừng 30 gram) – nhưng nhắm ở khoảng 300 m vẫn chính
xác, có thể xuyên qua áo giáp trong khoảng 100 m. Vì nhẹ nên xạ thủ Mông Cổ
mang được đến 50 mũi tên và có thể bắn như mưa vào phía địch mỗi khi tấn công.[25]
Theo sách vở muốn làm được một cây cung phải mất
bốn năm, từ việc tìm kiếm vật liệu đến tạo hình, dán gân dán sừng và những thứ
linh tinh khác, mỗi việc đều mất hàng năm mới qua giai đoạn kế tiếp.
Cổ thư cũng phân biệt rõ ràng bảy loại gỗ
dùng để làm cánh cung theo thứ tự: tốt nhất là gỗ chá (cudrania tricuspidata)
tương tự như cây dâu, thứ đến là gỗ ý, rồi đến gỗ yểm (dâu núi), gỗ cam, mộc
qua[26] (chaenomeles lagenar), gỗ
kinh (mận gai) và sau cùng là tre. Nói chung phải là những vật liệu dẻo và có sức
đàn hồi cao. Gỗ cũng phải kiếm loại gỗ già, gõ nghe kêu, màu sậm và không gần gốc,
không có mấu, thớ phải thẳng. Gỗ phải cắt vào mùa đông khi cây đang thu liễm
khí lực, chắc hơn vào mùa xuân, mùa hạ khi cây đang tăng trưởng. Trên lý thuyết
thì như vậy nhưng thực tế cung chỉ chế tạo bằng tre già, thường được cắt vào
mùa đông mà người ta cho rằng sẽ đỡ bị mối mọt.
Sừng thú phải được cưa vào mùa thu, lúc đó sau
mùa hè, thú vật no đủ, sừng chắc và phải thẳng, tránh loại sừng xoắn hay cong
quẹo. Những con vật ốm yếu không thể lấy sừng vì hay bị rỗng và thớ không săn.
Người ta cũng phân biệt sừng gần xương đầu thì dẻo
và mỗi đoạn sừng lại dùng vào một mục đích, tùy theo màu sắc mà có cá tính khác
biệt. Vấn đề là sừng phải đủ mềm để khỏi bị xước (splintering) nhưng lại cũng cần
đủ cứng để khi giương cung có thêm lực.
Keo (a dao) gắn cung phải đỏ và để lâu năm cho thấm
vào các thớ gỗ. Mỗi loại da thú cho một loại keo khác màu và chỉ dùng da một số
loài vật để gắn cung mà thôi.
Gân cần những sợi dài, tước ra thành sợi rồi gắn
vào cánh cung bằng keo. Gân thường lấy dọc theo xương sống con bò, mỗi con bò
có thể có được đến ba mươi lượng gân, phơi khô rồi mới tước nhỏ thành sợi, người
du mục dùng làm dây cung nhưng người Hán chỉ dùng để tăng cường đạn lực của
cánh cung.
Cánh cung phải được cưa dọc theo thớ gỗ, những đoạn
vướng mắt phải bào nhẵn, uốn bằng cách hơ trên lửa nhưng không để lửa quá già.
Cung uốn và tẩm luyện đúng cách sẽ rất dẻo dai, giương lên thì cong vòng nhưng
khi tháo dây ra thì sẽ ngược trở lại như cũ. Cũng như thanh kiếm, chế tạo một
cây cung tốt đòi hỏi sự khéo léo và kỹ lưỡng mà người chuyên môn bảo là đạt được
tam quân (three balances) và cửu hòa (nine harmonies). Cung tốt cần
sáu tiêu chuẩn: nhỏ nhưng mạnh, chắc chắn do thợ lành nghề chế tạo, không yếu
đi khi dùng lâu, trời nóng trời lạnh cũng không thay đổi, dây cung bật lên tiếng
thanh, cung căng cứng và thẳng thắn. Nghệ thuật chế tạo cung tuy có những tiêu
chuẩn từ lâu nhưng mãi đến đời Nguyên mới được Ðào Tông Nghi (Tao Zongyi) viết
xuống thành lề luật nhất định.
Sau khi hoàn thành người ta treo cung lên cao,
thường là trong bếp từ nửa tháng cho tới hai tháng để cho những chất keo thấm
vào thớ gỗ. Hong khô xong mới đem xuống đánh bóng, trét thêm keo hay sơn.
Theo Trịnh Chú, nghệ nhân phải biết tính toán,
cánh cung để riêng sức kéo cần một thạch (khoảng 27.8 kg) thì khi thêm gân vào
sẽ tăng lên hai thạch, thêm một lớp sừng lên thành ba thạch. Chế tạo một chiếc
cung ba thạch, phải có chiều dài là ba thước (khoảng 90 cm).
Muốn đo sức nặng của cung người ta treo quả cân
vào dây cung cho đến khi tới đúng như khi giương cung. Cung cho người khỏe có
thể tới ba thạch (120 cân), người yếu thì chỉ được hai thạch rưỡi hay hai thạch.
Dưới nữa chỉ được một thạch rưỡi.
Cung chế tạo cho mỗi giai cấp, mỗi thứ bậc có độ
dài khác nhau, cho nhà vua phải khoảng chừng 122 cm. Ngoài ra cung lại phải
theo tác người, theo tính nết, theo sức lực. Người tính trầm khác với người
tính nóng, người mập khác với người gầy, rất chi li tiểu tiết. Có loại chế tạo
để tập bắn hay săn chim chóc, có loại đủ mạnh để bắn xuyên qua giáp trụ. Người
ta lại còn phân biệt cả những loại cung đã cũ, cần phải tái tạo, nếu thay gỗ có
tên khác mà thay gân cũng có tên khác.
Theo Thiên Công Khai Vật của Tống Ứng Tinh đời
Minh, dây cung làm bằng tơ tằm, chập hai chục sợi làm lõi, sau đó mới dùng dây
quấn chung quanh (như dây đàn hiện nay), chia thành ba khúc cách quãng nhau để
khi không dùng đến thì gấp lại tiện việc cất giữ. Nơi dây cung dùng dể tra vào
mũi tên người ta còn dùng da bò hay gỗ mềm dán vào gọi là “điếm huyền” (lót
dây cung) để dây cung bật vào thân cung không bị hư. Ở nhiều nơi khác, dây cung
thường làm bằng ruột thú vật phơi khô và sao tẩm. Người ta dùng ruột cừu, ruột
dê, ruột hươu, ruột mèo... làm dây cung. Cũng có khi người ta dùng dây gai bện
lại nhưng phải dùng một loại lá cây thoa lên cho các sợi gai tết lại với nhau.
Những cung thủ Mông Cổ và kỵ binh bao giờ cũng mang theo một hay nhiều bộ dây để
phòng hờ.
Cánh cung như vậy đã trở thành một sản phẩm phức
tạp, kỹ thuật cao. Thành thử việc bảo trì cũng rất chi tiết. Xạ thủ không thể để
cung bị ướt hay ở nơi ẩm thấp, cũng không được hơ trên lửa cho khô và có lẽ đây
cũng là một trong những yếu tố mà vó ngựa Mông Cổ phải chùn bước ở phương nam
nơi khí hậu nóng và ẩm, có những cơn mưa lũ kéo dài nhiều ngày.
Cách giương
cung
B/ Cung Bắn Ðạn và Nỏ
Ngoài chiếc cung được coi như vũ khí chính yếu có
tác dụng sát hại tầm xa của người xưa, chúng ta không thể không nhắc đến loại
cung bắn đạn và nỏ.
Cung bắn đạn (hay hoàn – pellet) nhiều người cho
rằng còn được sử dụng trước cả cung. Trên nhiều mảnh giáp cốt văn có vẽ hình
chiếc cung không có tên nhưng được hiểu như dùng để bắn đạn. Cung bắn đạn thường
nhỏ và yếu, khi kéo dây thường kéo lệch ở một bên (cả về phương hướng lẫn vị
trí trên sợi dây) chứ không phải ở giữa và nhắm sao cho viên đạn bay ra không
trúng tay cầm. Thành thử bắn đạn còn khó hơn bắn cung dùng tên.[27] Người ta dùng đạn để bắn
chim và thường chỉ làm chúng bị thương ngõ hầu bắt sống đem về nuôi.
Chiếc nỏ được đề cập đến từ thời Xuân Thu và nhiều
văn thơ đã nhắc đến những bộ tộc thiểu số dùng nỏ trước cả đời Chu. Ðến thời
Chiến Quốc, người Trung Hoa đã xây dựng nhiều đội quân chuyên dùng nỏ. Nỏ dễ sử
dụng và ít phải tập luyện hơn, lại có thể dùng toàn thân để giương (người lính
đạp hai chân lên cánh nỏ, hai tay cầm dây kéo). Tuy nỏ bắn chính xác nhưng có
cái bất tiện là chậm hơn giương cung. Thành thử khi dùng nỏ, quân đội thường phải
chia thành ba nhóm chia ra ba nhiệm vụ, giương nỏ, lắp tên và phát xạ thì mới
có thể bắn liên tục.
Nỏ chia ra làm hai loại, lớn và nhỏ.
Loại nhỏ còn gọi là thủ nỗ dùng cho kỵ binh hay bộ binh cầm. Loại lớn phải để
trên một cái giá gỗ sức bắn mạnh hơn nhưng từ đời Minh thì người ta không còn
dùng nỏ lớn nữa mà thay bằng súng thần công. Ðời Tống có Thần Tí Nỗ ghi trong Mộng
Khê Bút Ðàm của nhà khoa học trứ danh Thẩm Quát và Khắc Ðịch Nỗ có thể bắn hai
hoặc ba mũi tên một lượt. Ngoài ra còn có nỏ Gia Cát Lượng là loại bắn được mười
mũi tên liên tiếp nhưng uy lực rất yếu chỉ ra xa độ hai chục bước nên được dùng
trong dân gian để bắn kẻ trộm.[28]
Việc sử dụng nỏ trong quân đội rất có thể liên
quan đến việc người Trung Hoa biết đúc đồng để dùng làm lẫy. Lẫy nỏ là một bộ
phận cơ khí nhỏ cần bền bỉ nên khi đúc bằng đồng sẽ tốt hơn làm bằng gỗ. Gần
đây người ta đã tìm thấy những dụng cụ bằng đồng tại Ðông Nam Á có niên đại còn
cao hơn cả tại Trung Hoa đến mấy trăm năm,[29]
cũng như kỹ thuật đúc đồng của các dân tộc sống ở miền nam (kể cả Việt Nam) thời
cổ có nhiều điểm vượt trội. Keith W. Taylor cho rằng nỏ là do những dân tộc ở
miền nam Thái Bình Dương (Austroasiatic peoples) truyền sang Trung Hoa vào khoảng
thế kỷ thứ III, thứ tư trước TL.[30] Phát kiến đó có điểm phù hợp
với truyền thuyết của nước ta về chiếc lẫy nỏ của An Dương Vương. Cũng theo
Stephen Selby, người ta đã đào được lẫy nỏ bắn liên châu tại mộ thời Chiến Quốc
ở Tần Gia Chủy, tính ra thì cũng xuất hiện đồng thời với chiếc nỏ thần ở nước
ta.
Theo Taylor trước đây nhiều học giả vẫn cho là
truyện nỏ thần có thể chỉ là một huyền thoại xuất phát từ Trung Hoa nhiều thế kỷ
sau khi nước ta bị Bắc thuộc[31] để giải thích những
biến chuyển chính trị tại phương nam mà họ không biết rõ. Thế nhưng những di chỉ
mới đào được cho thấy rằng người Việt đã biết dùng nỏ từ thời xa xưa có thể còn
trước cả người Tàu.[32] Các nhà khảo cổ Việt Nam đã
tìm thấy hàng vạn mũi tên đồng ở Cầu Vực năm 1959 chứng tỏ tổ tiên chúng ta đã
có những loại vũ khí sát thương lợi hại từ hơn 22 thế kỷ trước.[33] Ngoài ra cũng còn đào được
hai lẫy nỏ bằng đồng tại Bắc Việt Nam.[34]
Hay là người Việt thời đó đã biết dùng nỏ liên
châu trong thời chiến nhưng vì tính chất sát hại cao của võ khí này nên cấm sử
dụng trong thời bình?
Hay là Thục Vương đã cất những bộ phận nỏ ở nhiều
nơi khác nhau và những chiếc lẫy nỏ bằng đồng bị gián điệp của Triệu Ðà vô hiệu
hóa nên khi lâm trận loại vũ khí chiến lược này không còn sử dụng được?
Nếu quả thực sự có truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy
thì đó cũng vẫn là những nghi vấn lịch sử mà chúng ta chưa hiểu nổi.
C/ Tên
Nói đến cung không thể không nói đến tên. Theo
Thiên Công Khai Vật, tên ở miền bắc (Trung Hoa) thường làm bằng hoàn liễu (một
loại lau), ở miền nam thì vót bằng tre còn ở ngoài sa mạc thì dùng gỗ hoa.[35]
Ðầu mũi tên (thốc) thường làm bằng kim khí hoặc bằng
xương thú, có khi bằng đá gắn vào cán sao cho trọng tâm ở vào vị trí 1/3 hay
2/5 của chiều dài mũi tên (tính từ mũi nhọn). Tên bắn chim thì có trọng tâm
3/7. Sách vở và di chỉ khảo cổ tìm thấy đến mấy chục loại mũi tên hình dáng to
nhỏ khác nhau, mỗi loại mũi dùng vào một mục tiêu riêng biệt. Người Mông Cổ đúc
hình lá đào, người Hán lại đúc hình ba cạnh.
Ðể định phía nào là đầu, phía nào là cán người ta
thường vót tên rồi thả xuống nước để xem tỉ trọng. Mũi tên khi bắn ra không chạy
thẳng mà phải mất một quãng lượn lên lượn xuống theo hình sine[36] và nếu độ đàn hồi
của mũi tên không đều, mũi tên bay ra sẽ không chính xác. Chính vì thế vót tên
cũng là một kỹ thuật nhiều công phu. Tuy nhiên đi sâu vào tiểu tiết sẽ quá chi
li nên chúng tôi không đề cập đến.
Mũi tên bay ra nhanh chậm thẳng cong là do lông
chim gắn ở đuôi. Lông chim điêu là tốt nhất, chim ưng thứ nhì, diều hâu thứ ba.
Người mình thì dùng lông ngỗng, lông vịt. Người ta bảo rằng điêu vũ tiễn không
bị cản gió, nhanh lại thẳng, còn phương nam dùng lông ngỗng hay bị lệch hướng.
Cưỡi ngựa cũng như bắn cung đã trở thành một đạo
(cung đạo) và Khổng Tử đã đề cập đến trong lục nghệ (lễ nhạc xạ ngự thư số). Bắn
cung đứng dưới đất đã rắc rối mà bắn cung trên lưng ngựa còn phức tạp hơn nhiều.
Có rất nhiều kỹ thuật khác nhau khi giương cung, buông tên, bắn tên trên lưng
ngựa, bắn thẳng, bắn ngang, bắn dưới bờm ngựa, bắn ngược trở về sau, bắn khi đứng
trên bàn đạp... với rất nhiều qui luật chặt chẽ mà người Trung Hoa đã qui định
trong sách vở. Một cung thủ hay một kỵ binh ít ra cũng có những dụng cụ sau
đây: bao đựng tên, tên các loại, cung, hộp đựng dây cung phòng hờ, bao đựng
cung và nhẫn bảo vệ ngón tay cái. Người Mông Cổ dùng ngón tay cái để kéo dây và
muốn tránh da thịt trực tiếp cọ sát với dây cung họ dùng một chiếc nhẫn bao
ngón tay cái (chỉ cơ). Chiếc nhẫn đó có thể làm bằng da, xương, sừng, gỗ, ngọc
ngà hay kim loại.
Trong lịch sử và truyền thuyết nhiều xạ thủ, cung
thủ như Hậu Nghệ, Bàng Mông bắn mặt trời, Dưỡng Do Cơ bách bộ xuyên dương, Lã Bố
Viên Môn xạ kích... đã được nhắc đến một cách thần kỳ. Theo Hán Thư – Nghệ Văn
Chí thì đã có nhiều tác giả soạn những sách vở nói về phép bắn cung (xạ pháp).
Trương Sơn và Bùi Tứ Vinh trong Trung Hoa Võ Thuật Ðại Từ Ðiển (Giang Tô
khoa học kỹ thuật xb, 1994) và Lưu Thân Ninh trong Trung Quốc binh thư tổng
mục (Quốc Phòng đại học xb, 1990) thì người Trung Hoa đã từng có 7 cuốn
sách,[37] chẳng hạn như Bàng Mông xạ
pháp (逄蒙射法), Ngụy Thị xạ pháp (魏氏射法), Vương Vi xạ pháp (王圍射法) … Phép bắn cung
qua nhiều đời đã trở thành thiêng liêng gần giống như một hình thức “tôn
giáo” (cung đạo). Trong Liệt Nữ Truyện của Lưu Hướng (劉向) đời Hán, một người đàn bà biện hộ cho chồng là thợ làm cung bị kết
án tử hình vì chiếc cung y chế tạo nhà vua dùng thử bắn không xuyên qua được một
lần áo giáp:
... Tiện thiếp nghe nói rằng (phép bắn
cung đúng phải là): Tay trái vươn ra (vững chãi) chẳng khác gì đẩy một tảng đá,
tay phải (nhẹ nhàng) như vịn vào cành cây, tay phải buông tên mà tay trái chẳng
hề rung động …
Tả thủ như cự thạch,
hữu thủ như phụ chi, hữu thủ phát chi, tả thủ bất tri
左手如拒石,右手如附枝,右手發之,左手不知.
Người ta còn bảo rằng khi giương cung, cung thủ
phải theo một số trình tự vận khí của môn khí công để cho tinh thần được thư
giãn (relax). Trong Bát Ðoạn Cẩm cũng có câu ca quyết “tả hữu loan cung tự xạ
điêu” (左右彎弓似射雕) chính là nói về trạng thái này. Thích Kế
Quang đời Minh (戚繼光) cũng đã phụ chú một
câu trong Liệt Nữ Truyện (không thấy trong chính truyện) là:
... Nộ khí khai
cung, tức khí phóng tiễn (怒氣開弓,息氣放箭)
(nín hơi - gồng cứng
người - khi giương cung, thở ra - thả lỏng thân hình - khi buông tên)
Câu này được coi như yếu chỉ của phép bắn
cung đời Minh và cả dưới đời Thanh sau này.[38]
Thi bắn đời Thanh
Tập bắn (đời Thanh)
Trích trong
Treasures of China (diary 1990)
Victoria and Albert Museum
Một bộ cung tên [đời Thanh]
III/ VÓ NGỰA MÔNG CỔ VÀ CUỘC NAM CHINH
A/ Sơ Lược Lịch Sử Mông Cổ Chinh Phục Trung
Hoa
Kể từ năm 1206, khi Thành Cát Tư Hãn (Genghis
Khan) được các bộ lạc Mông Cổ tôn lên làm Ðại Hãn (gurkhan) có nghĩa là chúa tể
của các bộ lạc. Khi đó người Mông Cổ chỉ chừng một triệu rưỡi nhưng Thành Cát
Tư Hãn đã tập trung được toàn bộ lực lượng vì ngoài các chiến sĩ từ 14 đến 60
thì đàn bà trẻ con cũng được dùng trong các lực lượng hậu cần, tiếp liệu. Người
Mông Cổ thiện chiến vì được huấn luyện ngay từ khi còn bé:
... Khi lên ba, một đứa trẻ đã được mẹ dạy cưỡi
ngựa bằng cách buộc nó lên lưng ngựa. Ðộ một năm sau nó có được chiếc cung tên
đầu tiên. Khí hậu trên thảo nguyên gió lộng, mùa hè thì nóng cháy da, mùa đông
thì lạnh thấu xương bắt nó phải tự tồn. Nó có thể đi liên tiếp mười ngày không
một bữa ăn, chỉ sống bằng sữa khô hay sữa lên men cùng với thịt bò hay thịt cừu.
Nếu cần nó có thể rạch một mạch máu ngay trên cổ con ngựa đang cưỡi để hút máu.[39]
Những chiến sĩ của Genghis Khan phải trung thành
tuyệt đối, nếu cần phải hi sinh tính mạng cho chủ. Genghis Khan xâm lăng Trung
Hoa nhưng bị chặn lại nên phải chuyển qua chiếm lãnh các nước chung quanh trước
rồi dùng dân chúng và quân sĩ các nước này tiến trước làm bia đỡ đạn. Chính vì
thế, những số lượng dùng trong các cuộc xâm lăng chép trong sử sách, chúng ta
phải hiểu rằng lực lượng Mông Cổ chỉ là một phần nhỏ còn đa số là dân bản xứ bị
xua lên thí mạng.
Genghis Khan chết năm 1227, hai năm sau hội đồng
hoàng tộc mới đề cử được người con ông ta là Oa Khoát Ðài (Ogodei) lên kế vị.
Ogodei chiếm được miền bắc Trung Hoa và quân Mông Cổ bành trướng qua tận Trung
Ðông và Ðông Âu, đi đến đâu chém giết và tàn sát một cách dã man đã tạo nên những
ấn tượng kinh hoàng trong lịch sử. Ogodei chết năm 1241, con là Guyug lên thay.
Guyug chết năm 1248 và nhờ sự khôn khéo của Sorghaghtami Beki (vợ Tolui, con
trai út Genghis Khan), con trai của Ðà Lôi (Tolui) là Mông Kha (Mongke) lên kế
vị năm 1251 và khi ông ta chết năm 1260 thì em là Hốt Tất Liệt (Kublai) lên
thay.
1/ Chiếm đóng Trung Hoa
Ðến lúc này, người Mông Cổ đã chinh phục một nửa
Trung Hoa, chiếm cả Ðại Lý (Vân Nam ngày nay) và các nước lân cận như Thổ Phồn,
Tây Hạ, tới sát biên giới nước ta.
Trong khi Genghis Khan chủ trương bành trướng và
tắm máu những nơi nào kháng cự lại thì Kublai Khan tương đối có sách lược văn
hóa lâu dài. Ông chủ trương thành lập một đế quốc với sứ mạng thiên tử, xây những
lâu đài hùng tráng ở Ðại Ðô (Bắc Kinh) và mềm dẻo hơn trong việc chinh phục. Tầng
lớp quí tộc và tướng lãnh Mông Cổ khi đó đã bắt đầu hội nhập với văn minh Trung
Quốc và thực hành nhiều định chế của dân định cư, khác với nếp sống cố hữu của
dân du mục.
Một trong những câu hỏi nhiều người thường nêu ra
là tại sao người Mông Cổ lại có thể chinh phục được những khu vực rộng lớn như
thế mà không đâu đương cự nổi?
Ðứng trên phương diện phát triển, con ngựa và
cánh cung đều là những kỹ thuật tối ưu của thời đó. Trong khi những đoàn quân
khác bị hạn chế bởi tốc độ, phần lớn là bộ binh, tuy có ngựa hay voi nhưng chỉ
là một số ít, nặng phần trình diễn hơn là thực lực chiến đấu, người Mông Cổ đã
đào tạo được một đội ngũ thần kỳ, người và ngựa là một.
Những con ngựa đó được các chiến sĩ nuôi dưỡng trực
tiếp từ khi còn nhỏ, ngoan ngoãn và thân cận. Họ có thể ngồi liên tiếp trên
lưng ngựa mười ngày liền, ăn ngủ trên đó. Nếu cần họ cắt thịt để dưới yên để
cho thịt được “dần” mềm rồi ăn sống.[40]
Mỗi chiến sĩ thường mang theo một đàn (có khi đến 18 con) để thay đổi khi cần
nên tốc độ di chuyển của họ rất nhanh khiến cho nhiều nơi thấy họ ào ào kéo tới
tưởng như thiên binh thần tướng trên trời đổ xuống. Ngựa Mông Cổ lại dễ nuôi,
chỉ ăn cỏ cũng sống được nên vấn đề binh lương tiếp liệu giảm thiểu hẳn. Chiến
sĩ Mông Cổ nếu cần có thể uống máu, ăn thịt tọa kỵ của mình nên quân đội không
phải cồng kềnh những binh đội phụ thuộc, hoàn toàn có thể tập trung để chiến đấu
trong khi quân đội những nơi khác chỉ sử dụng thực sự vào khoảng 1/3 nhân lực.
Quân Mông Cổ lại sinh sống rất giản dị, thường bằng những lều có thể di chuyển
bằng xe, không phiền toái như nhiều quân đội khác.
Người Mông Cổ lại biết tổ chức quân đội thành những
đội hình (formation), giáp công nhiều mặt khiến cho địch thủ không biết đường
nào mà chống đỡ. Họ học hỏi được nhiều chiến thuật, chiến lược của các nước bị
chinh phục và nhất là sử dụng những kỹ thuật mới. Nhiều chuyên viên Trung Ðông,
nhất là những người Muslim, lúc đó là cao điểm của khoa học thế giới đã được điều
động trong những cuộc tấn công, điển hình là Ðại Lý và Thổ Phồn nên đến nay vẫn
còn sống rải rác trong khu vực Nam Trung Hoa. Khi tấn công vây hãm thành Tương
Dương, hai kỹ sư Iraq rất nổi tiếng là Ala al Din và Isma’il đã đóng góp rất
nhiều. Theo sử sách họ đã sử dụng những loại vũ khí chiến lược khác như tháp di
chuyển, máy ném đá và cả địa lôi để công thành. Khi chiếm được nước Kim thì họ
học được cách dùng hỏa tiễn và khi chiếm được Trung Hoa thì lại có thêm một đội
hải thuyền hùng hậu.
Mặc dầu vũ khí của họ có nhiều loại, kể cả gươm
giáo, búa, lao nhưng chủ yếu vẫn là cây cung. Họ có thể bắn cung từ nhiều góc độ,
xoay chuyển ngang dọc trên lưng ngựa, và vẫn sử dụng một cách điêu luyện khi
phóng ngựa với tốc độc cao. Phối hợp vũ khí sát thương tầm xa và linh hoạt
trong di chuyển, uy lực của một đội quân Mông Cổ tăng theo lũy tiến. Chính vì
thế người ta đã kết luận rằng vào thế kỷ XII, XIII quân Mông Cổ bao gồm những
phát kiến quân sự cao cấp nhất, kết hợp được nhiều kỹ thuật và tinh hoa khác
nhau. Họ cũng biết chế tạo những bộ áo giáp rất tiện dụng bằng da và kim loại.
Cây cung như đã trình bày, không phải chỉ là một đoạn tre hay gỗ được vót ra mà
là một kết hợp kỹ thuật có nhiều ưu điểm, gọn nhẹ mà mạnh. Cung tên vẫn còn được
sử dụng mãi về sau vì súng ống trong giai đoạn đầu bất tiện và không linh động
bằng.
Chính vì thế, nghiên cứu về đế quốc Nguyên Mông
cho đến nay vẫn là một đề tài được nhiều học giả quan tâm.
Người Mông Cổ chinh phục Trung Hoa chia ra làm ba
thời kỳ:
a/ Thời kỳ đầu đánh chiếm nước Kim[41] là một chiến dịch khá dài
và hao tổn vì nước Kim khi đó cũng là một quốc gia hùng mạnh có nhiều kỹ thuật
cao. Người Mông Cổ chỉ thắng thế khi đã áp dụng được một số học hỏi mới trong
cách vây hãm và công đả thành trì, kể cả việc dùng thuốc nổ.
b/ Khi tiến xuống miền Nam Trung Hoa, người Mông
Cổ gặp phải một khu vực hoàn toàn khác hẳn. Văn hóa Trung Nguyên đã đạt tới một
thời kỳ thịnh vượng cao điểm trên nhiều mặt, dân chúng đông đúc, đất đai màu mỡ.
Việc tiến đánh nhà Tống kéo dài đến 43 năm trong khi vẫn phải cầm cự ở nhiều
nơi khác chưa hoàn toàn ngã ngũ. Cuộc chiến kéo dài và người Mông Cổ đã thiết lập
một căn cứ địa ở Qaraqorum theo khuôn mẫu kinh đô, mặc dù có nhiều bất tiện, nhất
là đường sá xa xôi cách trở.
Giữa thời kỳ đó, Ðại Hãn Ogodei từ trần khiến cho
người Mông Cổ đánh lẫn nhau tranh giành địa vị. Mongke lên làm Ðại Hãn, em trai
là Hulegu cai trị vùng Trung Ðông còn Kublai chỉ huy quân lực vùng bắc Trung
Hoa. Kublai được chỉ định đi vòng qua phía Tây tấn chiếm Ðại Lý (tức Nam Chiếu
trước đây) là một quốc gia bao gồm nhiều bộ lạc (cùng giống với những người thiểu
số miền bắc nước ta ngày nay) để bao vây nhà Tống từ hai mặt bắc và tây.[42] Họ chia quân ra bốn mặt
đánh vào, Mongke từ tây bắc, Kublai từ chính bắc, Uriyangkhadai từ tây nam và một
đạo quân khác từ chính tây. Ðại Hãn Mongke bất ngờ từ trần năm 1259 khiến cho
chiến dịch phải tạm thời ngừng lại và Kublai phải quay về Mông Cổ để hội đồng
hoàng tộc (quriltai) tuyển chọn Ðại Hãn.
c/ Những tranh chấp giữa Kublai và người em Arik-boke
khiến cho ông phải quyết định thành lập triều Nguyên năm 1260 và lên ngôi lấy
hiệu là Nguyên Thế Tổ. Kể từ lúc này, đế quốc Mông Cổ chia ra hai vùng, phía
Trung Ðông do em trai của Kublai là Hulegu cai trị, phía đông là lãnh thổ nhà
Nguyên.
Năm 1264, Kublai Khan lại tiếp tục chiến dịch còn
bỏ dở là thanh toán nốt phần còn lại của nhà Tống. Dưới tay ông ta có hai đại
tướng lừng danh là Bayan Temur, con trai của Uriyangkhadai[43]
người Mông Cổ và Arigh Khaya, [44]
người Uighur (Hồi Hột hay Ðột Quyết). Người Mông Cổ bị nhiều trở ngại trong việc
hành quân ở miền nam Trung Hoa và phải tuyển mộ người Hán để điền khuyết, nhất
là bộ binh.
Bayan vây hãm thành Tương Dương (Hsiang-yang)
trong nhiều năm liền. Thành này do một viên tướng nhà Tống là Lữ Văn Hoán (Lu
Wen-huan) kiên trì chống giữ. Thành Tương Dương nằm bên cạnh giòng sông Hán và
người Mông Cổ phải vận dụng nhiều kỹ thuật mới để công thành, kể cả đại pháo.
Nhiều chuyên gia các nơi được đưa đến để yểm trợ kỹ thuật, trong đó có các kỹ
sư từ Triều Tiên, bắc Trung Hoa và cả tận Ba Tư.
Tới tháng ba năm 1273, thành Tương Dương bị phá vỡ,
Lữ Văn Hoán phải đầu hàng. Quân Mông Cổ liền tiến xuống vây hãm kinh đô nhà Tống
ở Hàng Châu. Kinh đô lúc đó rất trù phú, dân chúng vào khoảng hơn một triệu với
nhiều dinh thự, phố xá sầm uất, lại thêm một hệ thống kinh đào và 12,000 cây cầu
bắc ngang.[45]
Năm 1274, vua Ðộ Tông nhà Tống từ trần, mấy tháng
sau bà Thái Hậu (nhiếp chính một thiếu quân – vua Cung Tông) đành phải giao ấn
tín đầu hàng để tránh một cuộc tàn sát tương tự như ở Chương Châu hai năm trước
đó. Tuy nhiên còn một số thần tử vẫn tiếp tục chiến đấu ở miền rừng núi phía
nam, tôn phò hai ông vua nhỏ (Ðoan Tông và Bỉnh Ðế). Năm 1279, sau trận đại chiến
hỏa công với hơn 200,000 quân và 1000 chiến thuyền bị hoàn toàn thất bại, nhà Tống
chấm dứt. Một số tàn quân chạy sang hàng nhà Trần nước ta.
2/ Những chiến dịch xâm lăng khác
Người Mông Cổ đã lên đến cao đỉnh của lực lượng
sau khi chiếm được toàn bộ Trung Hoa. Ngoài số lượng quân sĩ đông đảo – trong
đó một số đông là quân nhà Tống về hàng – họ còn có thêm những kỹ thuật chiến đấu
mới do việc tuyển mộ được nhiều thợ giỏi từ Trung Ðông và Trung Hoa. Họ sử dụng
những lực lượng của các khu vực vừa chiếm được để tiến hành nhiều cuộc viễn
chinh khác tấn công các quốc gia ngoài biển và vùng Ðông Nam Á. Năm 1274 khi mới
đánh bại nhà Tống, họ huy động một hạm đội hàng trăm chiến thuyền và hơn bốn vạn
quân tấn công Nhật Bản, tuy đã đổ bộ được lên vịnh Hakata nhưng vì thời tiết xấu
lại phải lui ra. Một trận bão tiếp theo làm đắm hơn 200 chiến thuyền, 13,000
người bị chết đuối khiến quân Mông Cổ phải rút về.
Bảy năm sau, khi nhà Nguyên đã dẹp được tàn quân
nhà Tống, họ tập trung được hơn một nghìn chiến thuyền và đem 170, 000 quân
chia làm hai cánh nam bắc tấn công vào Nhật Bản một lần nữa. Hai bên giao chiến
từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1281 chưa phân thắng bại. Ðến giữa tháng 8, 1281 một
trận bão khác nổi lên khiến cho hai đạo quân của nhà Nguyên lại bị tổn thất nặng
nề. Từ đó, người Mông Cổ bỏ ý định bành trướng ra phía đông mà quay về tập
trung lực lượng đánh vào Chiêm Thành (Champa), Ðại Việt, và Miến Ðiện (Burma) ở
phương nam nhưng đều chuốc nhiều thảm bại.
Nhiều sử gia cho rằng mặc dù những cuộc chinh phạt
ở miền nam không mấy rực rỡ nhưng thực tế người Mông Cổ phải khó khăn gấp bội
các cuộc tiến quân vũ bão trước đây vì ngoài sự chống cự dũng mãnh của các dân
tộc ở vùng Ðông Nam Á họ lại phải đối phó với khí hậu khắc nghiệt, núi rừng hiểm
trở và phải tổ chức những đường dây tiếp liệu rất qui mô. Vì sử sách chép mỗi
nơi một khác nhưng nếu chỉ nhìn vào những người chỉ huy các đoàn quân này như
Uriyangkhadai, Arigh Khaya … đều là những tướng lãnh hàng đầu của nhà Nguyên
thì chắc chắn những chiến dịch đó không phải nhỏ. Dẫu rằng sau cùng các quốc
gia này vẫn phải thần phục và triều cống người Mông Cổ nhưng thực tế vó ngựa của
đoàn quân bách chiến đã bị chặn đứng mà thành lũy điển hình chính là quân dân
nhà Trần của nước ta.
B/ Chiến Thắng Của Ðại Việt
1/ Bối cảnh sinh hoạt
Những sử gia đã đưa ra nhiều lý do chủ quan và
khách quan để giải thích hiện tượng người Mông Cổ thất bại tại Việt Nam. Có người
thì cho rằng khả năng quân sự và tình đoàn kết dân tộc của người Việt Nam là yếu
tố chính trong khi cũng có người lại nhấn mạnh đến tài lãnh đạo của những danh
tướng triều Trần.
Là người Việt ai ai cũng hãnh diện về ba lần đánh
thắng quân Nguyên (chưa kể một lần đánh bại một phái đoàn của Sài Thung đưa Trần
Di Ái về nước năm 1282). Tuy nhiên sử thế giới dường như không biết đến (hoặc
biết rất ít) về những chiến thắng này, còn quốc sử chép theo lối biên niên nên
chỉ ghi những sự kiện chính yếu mà không để cập gì đến những chi tiết và bối cảnh
xã hội. Hơn thế nữa, tầm nhìn của các sử gia thời trước dẫu sao cũng hạn chế
trong phạm vi địa phương và chưa có những tác giả nghiên cứu qui mô về giai đoạn
này. Cho đến nay, hai công trình nghiên cứu đáng kể nhất của thời cận đại là
tác phẩm của Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (Hưng Ðạo Vương, Saigon
1950) và của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm (Cuộc Kháng Chiến Chống Xâm Lược
Nguyên Mông thế kỷ XIII, nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội, 1972) mặc dầu một
số vấn đề vẫn chỉ biện luận theo khuôn mẫu từ trước nên lắm khi khiên cưỡng.
Vào thế kỷ thứ XIII, nước ta chỉ là một quốc gia
rất nhỏ ở vùng Ðông Nam Á, diện tích kém xa những nước lân cận như Khmer hay
Pagan (Miến Ðiện ngày nay) và có lẽ cũng chẳng hơn nước Chiêm Thành. Người Việt
tập trung ở vùng lưu vực sông Hồng Hà (khi đó một phần lớn vùng duyên hải còn
là đầm nước mặn) và một vài tỉnh cận nam thuộc vùng Nghệ Tĩnh ngày nay. Dân số
chỉ độ 2 đến 3 triệu người.
Về phương diện kinh tế, Ðại Việt không phải là một
khu vực màu mỡ nhưng về phương diện chiến lược thì lại quan trọng mà nhà Nguyên
chủ trương tấn công để làm bàn đạp chiếm các đảo ở miền nam Thái Bình Dương và
đế quốc Khmer (khi đó gọi là thời kỳ Angkor kéo dài từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ
thứ XV TL) rồi sau đó đánh vào Ấn Ðộ theo nhiều mặt giáp công. Thành thử nước
ta trở thành một miếng xương chặn ngay cổ họng đường tiến quân mà nhà Nguyên phải
tính đến.
Vào thời kỳ đó, đế quốc Khmer rất cường thịnh, có
một nền văn minh khá cao mà điển hình là di tích Angkor Wat còn tồn tại đến
ngày nay. Họ có liên hệ với nhiều quốc gia, kể cả sứ thần gửi qua nhà Tống. Năm
1177, người Chiêm Thành đem thủy quân tấn công vào đế quốc Khmer, theo đường sông
Cửu Long đến Biển Hồ chiếm kinh đô của người Khmer. Hai bên giao chiến nhiều trận
mãnh liệt cho tới khi vua Jayavarman VII phản công, đem quân đánh vào Chiêm
Thành bắt vua Chiêm (1190), sáp nhập cả nước Chiêm vào lãnh thổ Khmer (từ 1203
đến 1220). Tới cuối thế kỷ XIII, đế quốc Khmer rất phồn thịnh đã được mô tả là
“giàu có và sang trọng” (rich and noble).[46]
Cũng vào thời kỳ đó, nước Ðại Lý (Vân Nam hiện
nay) bị quân Mông Cổ xâm chiếm, thổ dân bỏ trốn xuống vùng bắc Thái Lan lập nên
vương quốc Sukhothai, kinh đô ở Chiang Mai. Chỉ trong vòng 100 năm họ đã thành
một vương quốc rộng lớn và kế đó là vương quốc Ayutthaya đã làm chủ khi vực này
cho tới tận thế kỷ XVIII.
Riêng phía nam nước ta là Chiêm Thành (Champa),
khi đó cũng là một quốc gia có lãnh thổ đáng kể. Cũng vì thế nhà Nguyên đã tính
việc đánh thẳng xuống Chiêm Thành rồi xâm lăng Ðông Nam Á. Tuy nhiên, trước khi
phải dùng binh lực, nhà Nguyên luôn luôn muốn những dân tộc ở phương Nam phải
khiếp sợ mà tự nguyện thần phục nên vua Mông Cổ đã sai sứù sang chiêu dụ Chiêm
Thành và Ðại Việt nhưng không thành công. Vua Chiêm tuy vẫn mang cống phẩm sang
triều đình nhà Nguyên nhưng lại không chịu đáp ứng những yêu sách của họ. Năm
1281, Kublai đã sai Sogatu (唆都 - Toa Ðô)[47]chuẩn
bị hơn 300 chiến thuyền đem quân sang đánh Chiêm Thành để tấn công Ðại Việt từ
mặt nam. Quân Mông Cổ công đả nhiều thành lũy, khi được khi thua nhưng trong ba
năm không đạt được kết quả như ý cho tới khi bị triệu hồi về tiếp tay với đoàn
quân của Thoát Hoan[48] (脫歡) từ Nam Trung Hoa sang đánh nước ta (đánh Ðại Việt lần thứ hai).
a/ Xâm lăng Ðại Việt lần thứ nhất
Năm 1257, sau khi chiếm được Ðại Lý trong vòng 15
tháng, Kublai sai đại tướng Uriyangkhadai xâm lăng Ðại Việt lần thứ nhất.
Cũng như nhiều dân tộc Âu Châu khác chưa từng thấy
cả một đoàn quân trên lưng ngựa, hình ảnh một đoàn kỵ binh ào ào chắc hẳn mang
đến cho binh lính Ðại Việt nhiều nỗi kinh hoàng. Quân ta dùng voi để ngăn chặn
quân Mông Cổ từ Vân Nam tiến sang khiến cho ngựa của địch lồng lên không chịu
tiến. Người Mông Cổ phải xuống ngựa đánh trả bằng tên lửa khiến voi ta phải lùi
lại, giày xéo cả lên quân nhà Trần. Vua Thái Tông ngự giá thân chinh cũng không
ngăn nổi giặc. Quân Mông Cổ tiến thẳng một mạch tới lấy luôn Thănh Long rồi thừa
thắng tàn sát tất cả dân chúng trong thành, khiến vua nhà Trần phải bỏ kinh đô
chạy về Thiên Mạc (Hưng Yên). Tình thế nao núng, thái úy Trần Nhật Hiệu đã muốn
hàng, nhưng Thái Sư Trần Thủ Ðộ nhất định không chịu.[49]
Vua nhà Trần vội vàng sai Hưng Ðạo Vương đem quân trấn giữ các nơi hiểm yếu.
Sau khi thử thách một vài trận đánh theo lối
chính qui, nhà Trần thấy ngay đó không phải là sở trường của mình để có thể chống
với địch, nếu áp dụng thì cũng sẽ cùng chung số phận với những nước khác nên
nhanh chóng chuyển sang lối đánh du kích, dựa vào thiên nhiên hiểm trở, tiêu
hao dằng dai, lấy đoản chống trường.
Chẳng bao lâu quân Nguyên một mặt bị quân ta bao
vây tiêu diệt, mặt khác không hợp thủy thổ nên liên tiếp thua to, trong số
100,000 quân chỉ còn 20,000 sống sót chạy về nước.[50]
Phải nói rằng lần xâm lăng nước ta lần thứ nhất
người Mông Cổ quá khinh địch, cũng chưa chuẩn bị một cách qui mô. Có lẽ họ nghĩ
Ðại Việt không thể nào hơn được Ðại Lý nên tiến binh như vũ bão, tưởng rằng sẽ
chinh phục được nước ta trong một thời gian ngắn để đánh tập hậu vào nhà Tống từ
miền nam. Ngờ đâu tuy họ chiếm được thành Thăng Long nhưng lại không chinh phục
được Ðại Việt nên khi rút về bị quân ta truy kích khiến phải chuốc lấy thảm bại.
b/ Xâm lăng Ðại Việt lần thứ hai
Sau lần xâm lăng này, người Mông Cổ phải tập
trung nỗ lực chiếm nốt giang sơn nhà Tống nên nước ta được yên thân trong 30
năm để củng cố lực lượng mặc dầu trên hình thức vẫn phải thần phục, coi như thuộc
quốc của nhà Nguyên, bằng lòng để cho người Mông Cổ đặt quan giám trị (Ðạt Lỗ
Hoa Xích) để qua lại giám sát vua quan ta.
Người Mông Cổ một mặt tiếp tục đánh nhà Tống, mặt
khác vẫn tìm cách kiểm soát Ðại Việt chặt chẽ hơn, đòi hỏi những điều kiện mà bất
cứ một thuộc quốc nào của họ đều phải thi hành như vua phải sang chầu, nạp các
sổ đinh sổ điền để họ dễ khống chế. Tuy nhiên vua nhà Trần đã khôn khéo tránh
né tất cả những điều kiện bất lợi và tiếp tục củng cố thực lực để phòng bị quân
Nguyên sang xâm chiếm một lần nữa. Trong thời gian hòa hoãn ấy, nhà Trần áp dụng
một chính sách tương đối linh hoạt mà chúng ta có thể phân tính như sau:
- Trung ương tập quyền và thống nhất chỉ
huy: Khi triều Trần mới thành lập, nước ta chia
ra làm nhiều mảnh, mỗi nhóm cát cứ một vùng. Quốc Oai thì có giặc Mường, Hồng
Châu thì có Ðoàn Thượng, Bắc Giang thì có Nguyễn Nộn, nghĩa là nhà Trần chỉ
kiểm soát được khu vực châu thổ sông Hồng trở về nam mà thôi. Triều đình
vì không dẹp nổi cũng đành phải chia đất phong vương, tưởng có lúc đã
nguy. May về sau Nguyễn Nộn chết nước ta mới thống nhất được.[51] Kinh nghiệm cho thấy
những quốc gia khác bị xâm chiếm thường phải đầu hàng khi người lãnh đạo bị
bắt, bị giết. Nhà Trần đã xây dựng một hệ thống bán chính thức thứ tự và cấp
đẳng kế thừa, vừa theo hình thức huấn luyện tại chỗ vừa bảo đảm là sự chỉ
huy sẽ thống nhất và liên tục. Làm vua một thời gian rồi truyền ngôi cho
con để lên làm Thái Thượng Hoàng là một hình thức tập việc, xác định ngôi
thứ để khỏi lâm vào cảnh tranh giành địa vị hay đàn bà thính chính như đời
Lý, có thể gây ra mầm họa mất ngôi về tay họ khác.
- Ðịa phương tự trị và độc lập chiến đấu: Tuy quyền chỉ huy tối cao vẫn tập trung trong tay triều đình
nhưng các thân vương và tướng lãnh khá nhiều quyền độc lập. Cứ xem văn
chương và phong khí đời Trần chúng ta nhận thấy thời kỳ đó quân dân hào
hùng, chuộng thực dụng, tuy mới lập quốc chưa lâu nhưng đã có ý muốn tự đứng
riêng một cõi trời Nam, chẳng hạn khuyến khích việc làm thơ, viết văn bằng
chữ Nôm. Quốc gia khi đó bên cạnh những khu vực do các thân vương cai trị,
có quân đội riêng[52] lại có các thổ hào,
châu mục là những sắc tộc thiểu số cũng được sinh hoạt một cách riêng rẽ.
Ta có thể nói thời đó tuy vẫn trung ương tập quyền nhưng địa phương lại tự
trị.
- Pháp trị: Ðời Trần nặng về hình pháp, dù đối xử với kẻ thù hay với người
thân cũng rất nghiêm nhặt. Trần Thủ Ðộ giết sạch tôn thất nhà Lý để trừ hậu
hoạn và ngay cả anh em trong nhà cũng không tha nhau. Ai phạm tội trộm cắp
đều phải chặt tay, chặt chân hay voi giày. Có thể nói nước ta khi đó còn rất
thuần phác, không lễ nghi phiền toái như Trung Hoa, tuy gắt gao nhưng có lẽ
đó cũng là thói quen nên đời Lý, đời Ðinh, đời Tiền Lê thời nào cũng có những
vụ tàn sát mặc dù vẫn coi là những giai đoạn thịnh trị trong sử sách. Ðiều
đó cũng dễ hiểu vì sử chỉ chép những biến cố mà không chép về đời sống thực
tế của dân chúng. Hơn thế nữa, sử quan bao giờ cũng chép cái hay của một
triều đại mà không chép cái dở.[53]
Một câu hỏi cũng cần đặt ra là hệ thống làng xã của
miền Bắc đời Trần như thế nào? Có thể nói tính hợp quần là một tính bẩm sinh của
con người nên những người có cùng một mẫu số, hoặc tiếng nói, hoặc huyết thống
có khuynh hướng sống gần gũi. Những truyền thuyết về trăm trứng trăm con và một
số truyện cổ cho thấy dân tộc Việt Nam từ xưa vốn dĩ không phải là một dân tộc
thuần nhất mà là nhiều giống người khác nhau, tuy có nhiều điểm tương đồng
nhưng cũng không hoàn toàn giống hẳn. Truyền thuyết đó được đặt ra để củng cố một
tín niệm chung là những dân tộc đó có cùng một nguồn gốc, Bách Việt chỉ có
nghĩa là rất nhiều dân tộc sống chung trong một khu vực.
Chính vì những lý do đó, cuộc kháng chiến đời Trần
mang những hình thái hết sức đặc biệt và biến thiên, bao gồm nhiều mặt trận
chính trị lẫn quân sự.
Sau khi vua Trần Thái Tông mất (1277)[54] vua Thánh Tông liền nhường
ngôi cho con rồi lên làm Thái Thượng Hoàng. Thái tử Trần Khâm lên ngôi tức là vua
Nhân Tông.
Nguyên triều nghe tin nước ta có vua mới liền sai
Lễ Bộ thượng thư Sài Thung sang trách về việc không xin phép triều đình nhà
Nguyên. Khi đó miền nam Trung Hoa đã thuộc về người Mông Cổ. Sài Thung ngạo nghễ,
vua quan ta đành phải dịu ngọt thoái thác những yêu sách của địch. Ðến năm
1282, vua Trần sai Trần Di Ái đem cống phẩm và những người tài giỏi sang nộp,
Nguyên chủ bèn phong cho Trần Di Ái làm An Nam quốc vương rồi sai Sài Thung đưa
về. Quân ta đón đánh ở ải Nam Quan, Sài Thung bị bắn mù một mắt phải chạy về
Tàu.
Vua nhà Nguyên giận lắm bèn sai con là Tojan (ta
dịch là Thoát Hoan theo âm Hán Việt, khi đó đang làm Vân Nam Vương chúa tể nước
Ðại Lý cũ) và Arigh Khaya tổ chức một đội quân đông đảo, chuẩn bị lương thực,
khí giới rồi mượn cớ nhờ đường sang đánh Chiêm Thành để tiến vào nước ta. Quân
Nguyên chia làm hai đường bộ và thủy, do Thoát Hoan tấn công từ Lạng Sơn xuống
và từ Chiêm Thành do Toa Ðô đánh lên. Sách vở chép là tổng cộng quân Nguyên lên
đến 500,000 người.[55]
Cuối năm 1282, vua Nhân Tông liền triệu tập các
vương hầu và bách quan ở Bình Than (Bắc Ninh) để bàn kế chống giữ.[56] Cuối năm sau (1283), Hưng Ðạo
Vương Trần Quốc Tuấn – lúc này đã ngoài 50 - được phong làm Tiết Chế thống lĩnh
các đạo thủy bộ. Tháng 8 năm 1284, Hưng Ðạo Vương hội hết quân sĩ các nơi ở bến
Ðông Bộ Ðầu được cả thảy 200,000 người rồi chia ra đóng giữ các nơi hiểm yếu.
Vua ta nghe được quân Nguyên đã tập trung tại miền
Nam Trung Hoa sắp sửa kéo sang, thế giặc rất mạnh, nên vội vàng xin hoãn binh để
thương lượng lại nhưng Nguyên chủ không bằng lòng vẫn tiếp tục phát binh. Thượng
Hoàng Thánh Tông thấy vậy liền cho triệu tập các bô lão dân gian tại điện Diên
Hồng (1-1285) để bàn nên hòa hay chiến. Tất cả đồng thanh quyết chiến.
Xem như thế nhà Trần đã có ba năm để hoạch định kế
sách chống giặc Nguyên. Hội nghị Bình Than (1282) có thể nói là một hội nghị
chính trị giữa vua nhà Trần và các cấp chỉ huy địa phương để lập kế hoạch chiến
đấu trên toàn quốc trong đó bao gồm nhiều đại biểu lực lượng quân sự trung ương
và địa phương. Một năm sau đó (1283), Trần Quốc Tuấn mới được phong làm Tiết Chế
nhưng không rõ sự lựa chọn đó căn cứ vào những tiêu chuẩn nào? Vì khả năng hay
vì vai vế trong họ nhà Trần?[57] Cuộc duyệt binh
Ðông Bộ Ðầu (1284) là một cuộc tổng kiểm điểm lực lượng toàn quốc và cuối năm
Giáp Thân vua nhà Trần tổ chức hội nghị Diên Hồng để tham khảo ý kiến toàn dân
lần cuối cùng. Sách vở chép đây là một hội nghị kỳ lão nhưng rất có thể là một
hội nghị đại biểu những người uy tín của mọi tầng lớp và thành phần trong dân
chúng, chứ không nhất thiết phải là những người già nhất nước. Cũng nên thêm rằng
vào thời kỳ đó trên đất nước ta có nhiều sắc dân, tuy người Việt chiếm đa số và
có ưu thế nhưng các lực lượng miền thượng du cũng không kém phần quan trọng,
thành phần kỳ lão hẳn phải có mặt các tộc trưởng, tù trưởng những sắc dân thiểu
số. Chính vì thế, khi áp dụng chính sách “thanh dã”, người Việt mới rút
lên thượng du một cách an toàn vì ít ra họ cũng có chung nhiều mẫu số văn hóa
và sinh hoạt. Nói đúng ra, dân ta và các bộ tộc thiểu số có mức sống không khác
nhau bao nhiêu.
Nhiều người vẫn cho rằng hội nghị Diên Hồng là hội
nghị chủ chốt để phá giặc Nguyên mà quên rằng nếu không có hội nghị Bình Than
và cuộc điểm binh Ðông Bộ Ðầu thì hội nghị Diên Hồng không mang một ý nghĩa gì
cả. Hội nghị toàn dân chỉ là kết quả chung cuộc một khi đã có hội nghị chính trị
và hội nghị quân sự đi trước, nếu không đó chỉ là những khẩu hiệu rỗng tuếch vô
nghĩa như hiện nay người ta lạm dụng.
Tuy nhiên một điều rõ rệt, các tôn thất nhà Trần
– kể cả Hưng Ðạo Vương – tuy vẫn chủ trương những trận đánh qui mô có tính
chính thức nhưng vẫn không bỏ qua kế sách lâu dài. Do đó, ngay từ đầu vua Nhân
Tông đã hạ chiếu cho các nơi:
Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc
ngoài đến thì phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn
tránh vào rừng núi, không được đầu hàng.[58]
Quả nhiên quân ta thua to liên tiếp trong những
trận đánh chính diện, nhiều lần tưởng nguy đến nơi. Quân giặc đi đến đâu tàn
sát đốt phá đến đấy. Hưng Ðạo Vương phải chạy về Vạn Kiếp khiến vua Nhân Tông
đã tính đến chuyện chịu thua. Hưng Ðạo Vương phổ biến Binh Thư Yếu Lược do ông
soạn và đưa ra lời kêu gọi trong bài Hịch Tướng Sĩ có lẽ cũng ở vào thời điểm
này (nhưng có lẽ chỉ phổ biến giới hạn tới mức tướng lãnh, thân vương là thành
phần biết chữ). [59]
Quân ta tập hợp binh lực lên đến hai mươi vạn,
khí thế lại lên. Quân Nguyên chia ra làm hai mặt thủy bộ tiến tới, bộ binh do
Thoát Hoan và Arigh Khaya còn thủy binh do Ô Mã Nhi (Omar) chỉ huy. Nhà Trần lại
phải lui binh.[60] Các cánh quân Nguyên liền
xiết vòng vây để chuẩn bị tấn công vào Thăng Long nên Hưng Ðạo Vương phải sai
quân chặn đánh để bảo vệ triều đình rút lui ra khỏi kinh thành. Thoát Hoan chiếm
được thành Thăng Long nhưng đóng binh ở bên ngoài.[61]
Vua nhà Trần và các tướng lãnh rút về Thiên Trường
(Nam Ðịnh). Toa Ðô khi ấy từ mạn Chiêm Thành lại được lệnh tiến ra Nghệ An, hợp
cùng quân của Ô Mã Nhi hai mặt đánh vào Thiên Trường và quân của Thoát Hoan từ
đường bộ kéo xuống ba mặt giáp công khiến vua tôi nhà Trần lại phải lui về
Thanh Hóa. Thế giặc quá mạnh, quân ta chống không nổi, nhiều nơi phải đầu hàng.
Một dũng tướng là Trần Bình Trọng bị giặc bắt nhưng ông thà chết chứ không khuất
phục. Tình hình hết sức nguy ngập vì quân Nguyên đã chiếm được các nơi hiểm yếu
khiến cho ngay cả tông thất nhà Trần như Trần Ích Tắc, Trần Tú Viên cũng bỏ
theo địch. Vua Nhân Tông phải sai người đem em út Thượng Hoàng là công chúa An
Tư[62] (tức là cô của vua) dâng
cho Thoát Hoan để cầm chân giặc.
Nhà Trần liền chuyển sang thế đánh du kích cầm cự
dằng dai, bao vây chia cắt địch thành nhiều đơn vị không liên lạc được với nhau
và khai thác ưu điểm của ta là dùng đường thủy chặn đánh những lực lượng tiếp
viện. Trần Nhật Duật đánh tan quân Toa Ðô từ Nghệ An về Hải Dương (sử gọi là trận
Hàm Tử). Trần Quang Khải phá giặc ở Chương Dương (sử gọi là trận Chương Dương)
khiến cho Thoát Hoan phải bỏ Thăng Long chạy về Bắc Ninh. Hưng Ðạo Vương tự
mình dẫn binh phá quân Nguyên ở Tây Kết (sử gọi là trận Tây Kết), giết được Toa
Ðô, Ô Mã Nhi phải bỏ chạy về Tàu. Quân ta thừa thắng các mặt giáp công đánh tan
quân Thoát Hoan ở Vạn Kiếp khiến y phải chui vào ống đồng chạy trốn về nước.[63]
c/ Xâm lăng Ðại Việt lần thứ ba
Nguyên Thế Tổ nghe thấy Thoát Hoan đại bại giận lắm,
lập tức tập trung toàn lực, gom góp các chiến thuyền đang định dùng để tấn công
Nhật Bản chuẩn bị nam chinh lần nữa rửa thù. Hai năm sau (1287) Thoát Hoan lại đem
300,000 quân, 500 chiến thuyền và 17 vạn thạch lương chia ra ba mặt thủy bộ tiến
vào nước ta. Lúc đầu quân Mông Cổ tiến như vũ bão, chiếm được nhiều căn cứ hiểm
yếu, quân ta phải rút về Thanh Hóa. Quân các lộ cầm cự giằng giai khiến cho địch
thiếu hụt lương thực phải kêu gọi viện binh đem sang.
Nghe tin đó, Trần Khánh Dư phục binh chặn đánh ở
Vân Ðồn, lấy được lương thực khí giới rất nhiều khiến cho các nơi đều nao núng.
Tuy nhiên quân địch các mặt đều bị chặn đánh, họ không sao liên lạc được với
triều đình nhà Nguyên để xin tiếp viện nên Thoát Hoan bèn tính chuyện rút lui bằng
đường thủy.
Hưng Ðạo Vương nghe tin đó bèn sai quân đóng cọc ở
sông Bạch Ðằng rồi khiêu chiến cho địch đuổi theo, nhử quân Nguyên đến chỗ đóng
cọc mới đánh quật lại. Quân Mông Cổ thua to, các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp,
Tích Lệ Cơ đều bị bắt. Bên ta lấy được hơn 400 chiến thuyền cùng vô số tù binh.
Thoát Hoan nghe tin vội vã dẫn quân chạy về lại bị quân ta đánh chặn, tướng tá
bị chết gần hết chỉ còn một nhóm nhỏ về được Tư Minh.
... Thấy tình thế mấy vạn đại quân chắc chết
ở An Nam, Thoát Hoan bất đắc dĩ lại phải tính đường triệt thoái. Quân An Nam bốn
bề đổ ra tấn công như vũ bão, bắn tên độc. Quân Mông Cổ chết rất nhiều, phó
soái A Bát Xích cũng tử trận. Thoát Hoan may mắn chạy được, lại thảm bại thêm lần
nữa. Nguyên Thế Tổ hết sức thất vọng, điều Thoát Hoan sang trấn thủ Dương Châu,
suốt đời không cho nhập triều.[64]
Cứ theo sử Tàu, nhà Nguyên còn đem quân sang đánh
nước ta lần thứ tư nhưng lại không thấy chép trong Nam sử, chúng tôi dịch ra
sau đây:
Tuy thế, Nguyên Thế Tổ (Kublai) đối với việc
thất bại ở An Nam vẫn hậm hực mãi. Ðến năm Chí Nguyên thứ hai mươi tám (1291),
vua Nhân Tông Nhật Huyên nước Nam mất, truyền ngôi cho con là Nhật Thuyên.
Nguyên Thế Tổ lại sai sứ yêu cầu Nhật Thuyên vào triều nhưng Nhật Thuyên không
chịu sang, chỉ sai người mang đồ tiến cống. Thế Tổ không bằng lòng nên năm Chí
Nguyên thứ ba mươi (1293) lại sai Tể Tướng Xích Hắc Mê Thất (Yijmis) cùng đại
tướng Sử Bật, Cao Hưng... đem quân sang đánh An Nam nhưng chẳng được việc gì phải
rút về. Ðây là lần hưng binh cuối cùng vì năm sau Nguyên Thế Tổ mất,
Nguyên Thành Tông Thiết Mộc Nhĩ tức vị bãi bỏ chiến dịch đánh An Nam. Vả lại An
Nam và Chiêm Thành đều đã sai sứ sang chầu, giữ lễ cung kính, chiến dịch đánh
An Nam của Nguyên triều đến đây chấm dứt. Tổng cộng Mông Cổ sang đánh An Nam,
Chiêm Thành từ năm 1257 đến 1294 (Chí Nguyên thứ ba mươi mốt) là 34 năm,[65] bốn lần xuất chinh cả thẩy, kết quả hao binh tổn tướng, thương vong rất
nhiều, chỉ được cái tiếng phiên thuộc xuông, nhưng thực ra là được chẳng bõ mất.[66]
2/ Tại
sao ta lại đánh thắng được quân Mông Cổ?
Cho đến nay khi đọc sử chúng ta ít ai để ý đến giữa
cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất (1257) và lần kế tiếp (1287) có một khoảng cách
30 năm, nước ta đã có ba đời vua đồng thời nhà Nguyên cũng có những biến chuyển
chính trị và quân sự rất lớn. Trong ba mươi năm đó, người Mông Cổ đã chuyển biến
từ một nền văn minh sa mạc sang nền văn minh định cư, với những tổ chức hành
chánh qui mô trong khi Ðại Việt gấp rút chuẩn bị những cơ cấu chiến đấu. Khách
quan mà nói, cuộc xâm lăng lần thứ nhất là một loại thuốc chủng ngừa vì chính từ
đó, vua tôi nhà Trần đã có dịp định lượng lại sức mạnh của quân địch và tìm ra
phương thức giải quyết, hay ít ra những biện pháp để trắc nghiệm cách thức tối
ưu đánh bại quân Nguyên.
Từ một xã hội cát cứ nhiều mảnh mún, mỗi khu vực
là thế lực của một thân vương, 30 năm bị nhà Nguyên cai trị ( ít ra cũng trên
hình thức vì họ đã đặt quan giám trị Ðạt Lỗ Hoa Xích – một hình thức Thái Thú –
tại nước ta), nhà Trần đã gấp rút đi từ phân quyền sang tập quyền để thống nhất
chỉ huy về tổ chức, nhưng trên mặt quân sự lại gần như hình thức liên bang
trong đó những đơn vị nhỏ từ làng xã đến thái ấp của vương hầu đều có thể chiến
đấu một cách độc lập không lệ thuộc vào tiếp liệu từ trung ương. Chính vì thế
quân Mông Cổ đã rơi vào một trận chiến tiêu hao không lối thoát, luôn luôn phải
đối phó với những tấn công bất ngờ trong một chiến dịch dai dẳng.
a/ Tính lưu động quân sự (mobility) vốn dĩ là chủ
lực của quân Mông Cổ đã không thể áp dụng ở Việt Nam vì vào thời kỳ đó, chúng
ta chưa có những hệ thống đường huyết mạch. Sự lưu thông của Việt Nam hồi thế kỷ
thứ XII, XIII vẫn là những kinh rạch và đường mòn từ làng này sang làng khác.
Vó ngựa Mông Cổ hoàn toàn không thể phát huy được ưu điểm của nó là tính lưu động,
phân tán nhanh, tập trung nhanh, tấn kích bất ngờ bằng lực lượng lớn như tại
các vùng thảo nguyên. Ở nước ta, họ gặp phải những cánh đồng ngập nước, những
làng xã biệt lập và thường chỉ chạm trán với những đơn vị nhỏ, đánh du kích một
cách lén lút. Quân Mông Cổ hoàn toàn rơi vào bị động, không thể áp dụng những
chiến thuật mà họ đã thành công khi chinh phục các quốc gia khác, chưa kể lam
sơn chướng khí gây ra bệnh tật chết chóc.
b/ Sự tàn nhẫn (brutality) của quân Mông Cổ chỉ
có tính uy hiếp đối với những thành lũy được xây dựng chắc chắn. Người Mông Cổ
khi đó đã có nhiều kinh nghiệm công thành, sử dụng thang dây, súng bắn đá, kể cả
một số chiến thuật tấn công, phòng ngự theo kiểu Âu Châu nhưng lại hoàn toàn
không áp dụng được ở Việt Nam. Tuy nhiên những cuộc công hãm (siege) không thể
thực hiện được khi nước ta chưa có những đô thị qui mô như tại Cận Ðông hay
Trung Hoa. Mỗi khi quân địch tới, dân ta thường sử dụng chiến thuật “thanh
dã”, nói nôm na là “vườn không nhà trống”, tự mình đốt phá nhà cửa,
làng mạc rồi rút vào rừng, khiến cho đối phương lúng túng khi chỉ đối diện với
những khu xóm không người ở và luôn luôn phải đề phòng bị tấn công bất ngờ.
c/ Một trong những yếu tố quyết định của các trận
đánh lớn mà người Mông Cổ thực hiện là việc sử dụng đại quân, với nhiều đội
binh khác nhau, mỗi đội chuyên về một phương diện. Ðại quân Mông Cổ lại không
thể áp dụng ở Việt Nam khi không có một hệ thống đường sá đủ lớn. Vũ khí quan
trọng nhất của họ là cánh cung đã không còn có thể sử dụng được ở một vùng đầm
lầy như Việt Nam. Người Mông cổ kết hợp hai ưu điểm của họ là tính di động
nhanh của vó ngựa và tầm bắn xa của cây cung nên đã đạt được sức mạnh tối đa
nơi những khu vực rộng rãi và trống trải. Miền Bắc là đất tân bồi, tiễn đạo bị
lũy tre, bờ đất chặn đứng và ưu thế tấn công từ xa không còn hữu hiệu. Từ thế
chủ động trên trận địa, người Mông Cổ đã thành thế bị động, luôn luôn phải canh
chừng và đề phòng thổ dân dùng cung nỏ bắn trộm và tiêu diệt lẻ tẻ. Từ vai trò
di động chiếm lấy tiên cơ trong chiến đấu, họ trở thành những lực lượng đồn trú
cố định.
- Nếu tập trung tại một khu vực,
họ bị tấn công bằng lối du kích không sao ngăn ngừa được. Cố thủ như thế trong
thời gian dài sẽ bị dịch tễ và lam sơn chướng khí không còn khả năng chiến đấu.
- Nếu trải rộng để kiểm soát
diện địa, họ bị phân tán thành từng đơn vị nhỏ và càng dễ bị tiêu diệt hơn.
Ðể ngăn ngừa những người du mục trên vùng thảo
nguyên tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt số thực phẩm và tài sản, những nông dân ở
Âu Châu phải đào hào đắp lũy, với những tháp canh trông chừng kẻ cướp, còn ở Á
Châu thì hàng triệu người thiệt mạng để xây một bức tường thành hàng vạn dặm từ
đông sang tây để ngăn chặn các giống rợ bắc phương.[67]
Thế nhưng bức tường thành vĩ đại kia không ngăn nổi
quân xâm lăng từ phương Bắc tràn xuống mà cái lũy tre của làng xã Việt Nam lại
chặn được vó ngựa quân Nguyên. Ông cha ta không đắp thành cao hào sâu, cậy vào
binh cường tướng nhuệ lấy cứng chống cứng mà lấy địa thế hiểm trở, lấy thiên
nhiên khắc nghiệt làm vũ khí chính, lấy quyết tâm toàn dân làm sức mạnh – cái
mà Hưng Ðạo Vương đã gọi là “kẻ kia cậy có tràng trận mà ta thì cậy có đoản
binh” mà gốc là “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước đấu sức lại
mà đánh”.[68]
Sự bành trướng của đế quốc Mông Cổ không phải chỉ
trong một thời gian ngắn mà kéo dài hàng trăm năm, mỗi giai đoạn lại có những đặc
tính riêng. Ðế quốc đó bắt đầu bằng sự xuất hiện của Genghis Khan (Thành Cát Tư
Hãn) ở đầu thế kỷ thứ XIII và chỉ kết thúc khi thời đại huy hoàng của họ chấm dứt
vào đầu thế kỷ thứ XV nghĩa là tròn 200 năm. Chiến thắng của Ðại Việt vào cuối
thế kỷ XIII, khoảng 80 năm sau khi Thiết Mộc Chân lên ngôi Ðại Hãn, ở vào cao
điểm bành trướng của đế quốc Nguyên - Mông. Lẽ dĩ nhiên, khi đó sức mạnh và chiến
lược của người Mông Cổ không còn hoàn toàn như cũ mà đã thay đổi theo tiến
trình phát triển của họ. Chính vì thế chúng ta cũng nên nhìn lại vấn đề một
cách vô tư hơn để tìm ra nguyên nhân chủ quan và khách quan đã dẫn tới sự thành
công của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ XIII. Nhận định sơ khởi cho chúng
ta một số chủ điểm như sau:
1/ Quân Nguyên đã mất đi sự tinh nhuệ và thuần nhất
của thời kỳ đầu sau hiện tượng tuyết lăn (avalanche) mỗi lần chiếm được vùng
nào lại hội nhập tù binh vào lực lượng của mình, sử dụng quân đội mới thu dụng
làm mũi nhọn tấn công. Ðoàn quân 50 vạn của Thoát Hoan chắc chắn không phải là
hoàn toàn quân Mông Cổ mà đa số là binh sĩ các vùng mới chiếm đặc biệt là người
Trung Hoa. Thành phần đó gốc nông dân bị bắt buộc tòng chinh, chẳng những không
thiện chiến, tâm lý lại dao động, dễ mất tinh thần hoàn toàn lệ thuộc vào tiếp
liệu từ hậu cần nên một khi bị mất lương thực liền hoảng hốt, thua chạy cũng
không có gì lạ.
2/ Quân Nguyên sau khi chiếm được Trung Hoa đã du
nhập và áp dụng một số qui tắc địa phương, từ một đội ngũ lưu động, linh hoạt của
sa mạc chuyển sang thành tổ chức chính qui, được chỉ huy và tiếp vận theo những
tiêu chuẩn nhất định, mất hẳn những ưu điểm cố hữu. Tổ chức mới trở nên cồng kềnh
hơn trong khi lại tiềm phục nhiều mầm bất ổn nội tại khi đem quân xuống phương
nam. Quân đội của họ bao gồm nhiều nhóm tàn quân thu phục được khi đem quân
đánh chiếm miền Nam nước Tàu, trong đó hàng quân của nhà Tống chiếm một lực lượng
khá lớn, người Mông Cổ chỉ đóng vai trò chỉ huy.[69]
Trong số đó, một số đông là phu phen vận tải
lương thực. Nhà Nguyên phải thiết lập nhiều trạm tiếp vận, cách nhau 30 dặm
(khoảng 15 km) và một dịch trạm mỗi 60 dặm (30 km). Trong một lá thư của quan
chức nhà Nguyên gửi triều đình có đề cập đến những khó khăn như sau:
Ngay từ thời cổ, khi điều binh thì luôn
luôn phải sao cho hợp với thiên thời. Trung Nguyên đất phẳng, vậy mà ta cũng vẫn
phải tránh cái nóng mùa hè. Còn như Giao Chỉ là nơi oi nồng (feverish) ôn dịch
(pestilential), khí hậu nơi đây khiến cho quan quân thiệt hại còn nhiều hơn cả
đối phương tấn công. Nay ta lại điều binh xuống vào tháng bảy, trước khi tới được
An Nam đã chết mất khá nhiều, thế thì khi gặp địch làm sao mà đối phó? Xứ Giao
Chỉ lại chẳng có gạo thóc, thủy đạo bất tiện, không thể không tiếp tế bằng đường
bộ nhưng lại không có ngựa, bò, xe cộ. Mỗi người có thể mang được 5 đấu, nhưng
trên đường đi phu cũng phải ăn, thành thử quân chỉ còn được một nửa. Cho nên nếu
như muốn gửi tới 100,000 thạch gạo thì phải dùng đến 40 vạn phu để chuyên chở,
mà gạo đó cũng chỉ đủ ăn 1 đến 2 tháng mà thôi... [70]
Cũng vì thế tinh thần của đoàn quân này không
dũng mãnh như quân đội Mông Cổ trong thời kỳ lập quốc còn ở ngoài sa mạc.
3/ Sự bành trướng của triều Nguyên đã đến mức tối
đa, không còn đủ sức để quản trị những vùng đất mới, trở thành một quả bóng đã
quá căng dễ bị chọc thủng. Lực lượng nhà Nguyên chia ra phòng thủ và trấn giữ tập
trung ở vùng Trung Á và bắc Trung Hoa gần triều đình, các vùng biên cảnh tương
đối lỏng lẻo.
4/ Quân Ðại Việt khai thác được địa hình, địa lợi
kể cả yếu tố thiên thời, khí hậu và nhất là áp dụng một chiến thuật hoàn toàn
tương phản với quân Nguyên, trì cửu, tiêu hao để chờ địch tự hủy. Ngoài ra cũng
có thể kể đến khí hậu ẩm thấp, viêm nhiệt miền Bắc nước ta đã khiến cho cung nỏ
của địch bị hư hỏng, mất đi sức mạnh ưu thế của họ khi ra trận.
5/ Tinh thần bất khuất, trên dưới một lòng và sự
lãnh đạo sáng suốt của các vương hầu, tôn thất và tướng lãnh Ðại Việt, nhất là
tài chỉ huy của chiến lược gia Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ðiểm đẹp nhất của
lịch sử phá Nguyên – Mông là sau khi thắng trận không có cảnh tranh giành ngôi
thứ, công lao, bè nọ đảng kia giết hại lẫn nhau.
Cho đến thời gian này, người Mông Cổ đã chiếm miền
Bắc nước Tàu được 30 năm và thành lập triều Nguyên được 13 năm, áp dụng nhiều tổ
chức và văn hóa Trung Hoa.
Dưới nhãn quan lịch sử triều đại, khi ghi chép lại
cuộc chiến đời Trần các sử gia chỉ chép những biến cố quan trọng nhất của từng
năm, coi như đó là kết quả sau cùng của toàn bộ các hoạt động. Thực tế, cuộc
chiến “cả nước đấu sức lại mà đánh” kia là một cuộc chiến trải rộng,
toàn bộ, liên tục và những trận đánh lớn tiếng tăm, những địa danh lừng lẫy chỉ
là tiêu biểu và sử sách ít ai nhắc đến những chiến đấu địa phương của từng
vùng, những sáng tạo tùy thuộc vào khung cảnh cá biệt để tạo nên một sức mạnh tập
thể, hoàn thành chiến công oanh liệt vào bậc nhất của chúng ta vào cuối thế kỷ
XIII. Có lẽ chính vì thế mà cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của Việt Nam
đã không được các sử gia thế giới nhắc đến nhiều như thất bại của của người
Mông Cổ trong chiến dịch chinh phục Nhật Bản hay Java bằng đường thủy.
Chiến thuyền
Mông Cổ
IV/ KẾT LUẬN
Có lẽ ít ai nghĩ được rằng Vó Ngựa và Cánh Cung
là hai phương tiện chính yếu của người Mông Cổ và họ là những người đầu tiên
phát động chiến tranh một cách qui mô, có tính toán, có tổ chức
(highly-planned-and-organised war). Nhìn xa hơn nữa, đây là những vụ ăn cướp tầm
vóc lớn mà những tên đầu sỏ lại được lưu danh thiên cổ.
Nghiên cứu về nông thôn Việt Nam ở miền Bắc chúng
ta thấy chỉ chừng một trăm năm trước, đời sống người Việt Nam vẫn còn ở trong
tình trạng rất thô sơ, phương ngôn phương ngữ rất đa dạng, tập quán cũng khác
nhau, nhiều nơi còn duy trì những tục lệ từ thời thái cổ. Những làng xã bé nhỏ
đó sống tập trung thành những ốc đảo, mỗi làng độ vài trăm dân, đời sống hết sức
giản dị gần như biệt lập, có tiếng nói và tập quán riêng. Vì khung cảnh nhỏ bé
đó, việc anh em thân tộc lấy lẫn nhau cũng không phải là chuyện lạ và chính vì
thế khi nhà Trần đưa tập tục bản xứ của họ vào triều đình, quần chúng không cảm
thấy đó là một hình thức bại hoại nhân luân.
Mỗi làng đều có lũy tre bao bọc, là một chiến lũy
kiên cố ngăn chặn vó ngựa. Chính vì không có những cơ cấu chỉ huy tối cao như
những quốc gia khác, quân Mông Cổ đã không thể nhận định đâu là đại bản doanh của
Ðại Việt để tập trung tiêu diệt và việc thanh toán lẻ tẻ từng làng một đã không
thành công khi người Việt sử dụng phương pháp vườn không nhà trống, địch tiến tới
đâu đều phá hủy làng mạc bỏ vào rừng rồi tấn công ngược trở lại bằng chiến thuật
du kích.[71] Với những vũ khí làm bằng
tre, bằng gỗ, cung tên, nỏ, câu liêm, mã tấu... người Việt Nam đã tập trung
toàn bộ lực lượng chiến đấu liên tục và trải rộng khiến cho quân Mông Cổ luôn
luôn bị rơi vào thế thụ động chờ bị tấn công.
Hơn thế nữa, khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt của miền
Bắc nước ta đã khiến cho quân địch bị bệnh tật rất nhiều, và đó là lý do chính
yếu họ phải chấp nhận thua cuộc.
Robert B. Asprey trong tác phẩm Chiến Tranh
Bí Mật (trong Bóng Tối) (War in the Shadows) đã nhận định về cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên-Mông của Việt Nam như sau:
... Người Việt Nam, như sau này họ cũng thường
hay làm như thế, từ bỏ các thành thị đi vào vùng núi đồi, để mặc kinh thành cho
quân xâm lăng đốt phá. Thế nhưng người Mông Cổ, không quen với vùng nhiệt đới
và bệnh tật đã bị thất bại vì thủy thổ; sau khi tấn công mà không đi đến đâu, họ
đành rút lui...
... Năm 1284, họ tấn công Việt Nam lần thứ
ba. Và lần này xuất hiện một nhân tài kiệt xuất: Nguyên soái Trần Hưng Ðạo, người
đã “... rút vào rừng núi, viết bộ Binh Thư Yếu Lược (Essential Summary of
Military Arts) và huấn luyện sĩ tốt để chiến đấu du kích trường kỳ – quân địch
phải chiến đấu ở xa căn cứ địa một thời gian dài... Ta phải làm chúng suy yếu bằng
cách dẫn dụ chúng vào những trận đánh cù cưa, một khi mũi nhọn của chúng đã bị
bẻ gãy, lúc đó chúng sẽ dễ dàng bị tiêu diệt”.[72]
Thời kỳ đó dân ta còn rất sơ khai, chưa văn minh
bằng những quốc gia láng giềng. Những di chỉ cho thấy chúng ta mặc dầu có một bản
sắc riêng nhưng vẫn còn khá thuần phác, chỉ đến thời kỳ Trịnh Nguyễn phân
tranh, nhu cầu củng cố lực lượng quân sự của hai bên mới khiến cho Việt Nam có
được một số hải cảng và du nhập được phần nào văn minh từ bên ngoài. Vào thế kỷ
thứ XVIII, Lê Quí Ðôn đã viết như sau:
... Vì nước ta là nơi nóng nực ẩm thấp,
nhân dân lúc bình thường không đội khăn, không đi giày, động tác mới được thuận
tiện, việc này đã thành thói quen rồi, không thể thay đổi được nữa.[73]
Việc cởi trần mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
không phải vì lý do kinh tế rất thịnh hành cho cả đàn ông lẫn đàn bà. Sứ nhà Tống
đã chép là cả vua Lê Hoàn cũng cởi trần đóng khố. Sứ nhà Nguyên là Trần Cương
Trung cũng ghi nhận là ngay giữa cung đình nhà Trần vẫn có “người đóng khố
bao, cởi trần... đàn bà đi chân không... mười người con trai đều cởi trần...”,
còn trong dân gian thì “dân đều đi chân không … da chân họ rất dày, trèo núi
như bay, chông gai cũng không sợ”.[74]
Thành thử người mình đã được gọi là giống dân “sơn răng chằng đít chít đầu”.
Dân ta cũng không quá câu nệ về chuyện phô bày thân thể, đọc những truyện tiếu
lâm, văn thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến … và quan sát sinh hoạt nông thôn
chúng ta thấy người Việt khá thoải mái trong việc ăn mặc, khác hẳn người Trung
Hoa.
Ngay cả tổ chức triều đình của Việt Nam cũng rất
đơn sơ. Tuy vẫn có chức vụ nhưng ngoài việc công ra, vua tôi đều thân cận như
sinh hoạt dân gian, không có kiểu cửu trùng chín bệ với mọi loại lễ nghi như
phương Bắc:
... Ðời nhà Trần, tuy quan lại thì nhiều,
nhưng vua quan có ý thân cận với nhau. Hễ khi nào vua đãi yến, các quan uống rượu
xong rồi thì ra dắt tay nhau mà múa hát, không có giữ lễ phép nghiêm khắc như
những đời sau.[75]
Hơn thế nữa, các vương hầu lại biết nhường nhịn
nhau, điển hình là chuyện Hưng Ðạo Vương tắm cho Trần Quang Khải hay chuyện
Tĩnh Quốc Vương Quốc Khang[76] sau đây:
Mùa đông, tháng 10 (năm 1268), vua cùng anh
là Tĩnh Quốc Ðại vương Quốc Khang cùng vui đùa trước mặt Thượng Hoàng. Thượng
hoàng lúc bấy giờ mặc áo vải bông trắng. Tĩnh Quốc múa điệu múa của người Hồ,
Thượng hoàng cởi áo ban cho. Vua cũng múa điệu múa ấy để xin chiếc áo của Thượng
hoàng. Quốc Khang nói: “Cái quí nhất là ngôi hoàng đế mà tôi còn không tranh với
chú hai, nay đức chí tôn ban cho một vật nhỏ mọn này mà chú hai cũng định lấy nốt
chăng?”. Thượng hoàng cả cười nói: “Thế ra mày coi ngôi vua và cái áo xoàng này
chẳng hơn kém gì nhau ư?”. Khen ngợi hồi lâu, Thượng hoàng liền cho Tĩnh Quốc
cái áo ấy.[77]
Những hình ảnh còn giữ được vào thời đầu thế kỷ
XX cho ta thấy đến lúc này lính hầu, thị vệ còn đi chân đất, mặt mũi ngây ngô,
các quan văn, quan võ chưa có cái uy nghi của một đại quốc. Trong một tranh vẽ
về sinh hoạt của nước ta thời Trịnh Nguyễn phân tranh của người ngoại quốc sinh
sống ở Kẻ Chợ (Thăng Long), những người khiêng kiệu cho vua Lê tại một đám rước
đầu xuân đều cởi trần đóng khố.
Tuy một số thành phần quí tộc và có học thủ đắc
được một số tư tưởng và lễ nghi Trung Hoa, đại đa số quần chúng sinh sống chủ yếu
tại nông thôn và rừng núi vẫn còn ở trong tình trạng rất giản phác. Nếu đứng
trên phương diện phát triển sự giản dị có thể là một trở ngại nhưng về phương
diện chiến đấu lại là một ưu điểm, khi lẩn lút cũng như trong di động.
Thế nhưng những chiến thắng đời Trần không mấy
vang dậy và bị hòa loãng vào những cuộc chinh phạt nho nhỏ của người Mông Cổ
sau khi thành lập triều Nguyên và chỉ được các học giả thế giới nghiên cứu đến
khi lối đánh du kích trở thành một sách lược chiến đấu của kẻ yếu chống kẻ mạnh,
dùng kỹ thuật sơ khai chống kỹ thuật tinh kỳ ở thế kỷ XX và được áp dụng ở nhiều
nơi dưới cái tên chiến tranh nhân dân hay chiến tranh dấy loạn. Phương thức chiến
đấu – trường kỳ tiêu hao và khi cần rút lui, tránh những mũi nhọn của địch quân
để bảo toàn lực lượng[78] -- đã được áp dụng một cách
triệt để và đưa lên thành một bảo điển trấn quốc. Có lẽ chính vì thế mà hơn một
thế kỷ sau, chúng ta chỉ bị Bắc thuộc 20 năm trong khi trước đây phải mất gần
1000 năm mới giành được quyền tự chủ.
Tháng 3/2003
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Asprey, Robert B. War in the Shadows, The
guerrilla in history, 2 vol. New York: Doubleday & Company, Inc. 1975.
2. Bronowski, J. The Ascent of Man.
Boston: Little, Brown and Company, 1973.
3. Chambers, James. The Devil’s Horsemen – The
Mongol Invasion of Europe. New York: Atheneum 1985.
4. Dersin, Denise (ed.) What Life Was Like in
the Land of the Dragon – Imperial China AD 960-1368. Richmond: Time-Life
Books, 1998.
5. Edwards, Elwyn Hartley. Encyclopedia of The
Horse. London: Octopus Books Limites, 1977.
6. Edwards, Elwyn Hartley. Horses, The visual
guide to over 100 horse breeds from around the world. New Yok: Dorling
Kindersley, 1993.
7. Harrist, Jr. E. Robert. Power and Virtue,
The Horse in Chinese Art. New York: China Institute Gallery, 1997.
8. James P. Delgado. “Relics of the Kamikaze:
Excavations off Japan’s coast are uncovering Kublai Khan’s ill-fated invasion
fleet” Archaeology Magazine, Jan-Feb 2003.
9. John Keegan. A History of Warfare. New
York: Alfred A. Knoff, Inc., 1993.
10. Kentucky Horse Park. Imperial China, the Art of the Horse in
Chinese History. Kentucky: Harmony House Publishers, 2000.
11. Nguyễn Khắc Thuần. Việt Sử Giai Thoại (tập 3). Việt Nam:
nxb Giáo Dục, 1997.
12. Nicolle, David. The Mongol Warlords – Genghis Khan, Kublsi
Khan, Hulegu, Tamerlane. London: Brockhampton Press, 1990.
13. Ôn Thiên (溫天). Thần Dữ Vật Du – Xảo Ðoạt Thiên Công Ðích
Trí Tuệ (神與物遊-巧奪天工的智慧) Ðài Bắc: nxb Lâm Uất, 2000.
14. Paludan, Ann. Chronicle of the Chinese Emperors, The
Reign-by-Reign Record of the Rulers of Imperial China. London: Thames &
Hudson Ltd., 1998.
15. Sawyer, Ralph D. Sun-Pin, Military Methods of the Art of War.
New York: Barnes & Noble Books, 1995.
16. Sawyer, Ralph D. Sun-Tzu, The Art of War. New York: Barnes
& Noble Books, 1994.
17. Selby, Stephen. Chinese Archery (Xạ Thư Thập Tứ Quyển) (射書十四卷). Hong Kong: Hong Kong University Press, 2000.
18. Taylor, Keith Weller. The Birth of Vietnam. London:
University of California Press, 1983.
19. Thorndike, Joseph J. Jr. ed. Discovery of Lost Worlds. New
York: American Heritage Publishing Co., 1979.
20. Thorndike, Jr. J. Joseph ed. Misteries of the Past. New
York: American Heritage Publishing Co., 1977.
21. Tống Ứng Tinh (宋應星). Thiên Công Khai Vật 天工開物 (Sái Nhân Kiên biên soạn 蔡仁堅編撰) Ðài Bắc: Thời Báo
Văn Hóa, 1983.
22. Trần Chí Bình (陳致平). Trung Hoa thông sử (中華通史) q. 8. (Nguyên Sử) Ðài Bắc: Lê Minh văn hóa, 1978.
23. Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược. Saigon: Trung Tâm Học Liệu,
Bộ QGGD, 1971.
24. Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Lịch Sử Việt Nam, tập I 2nd
ed. Hà Nội: nxb Khoa Học Xã Hội, 1976.
25. Viện Khảo Cổ Học, Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Hùng Vương dựng
nước, tập II (Hà Nội: nxb KHXH, 1972) và tập III (Hà Nội: nxb KHXH, 1973)
26. Needham, Joseph. Science & Civilisation
in China.Volume IV: Physics and Physical Technology. Part 2: Mechanical
Engineering. Cambridge University Press, 1965.
27. Hà Nam (Văn Vật Quản Lý Cục) (河南文物管理鯉局). Hà Nam Văn Vật Tinh Hoa (河南文物精华) Tàng Phẩm Quyển (藏品卷). Hà Nam: Văn Tâm
xbx, 1999.
[1] Thực ra ngựa
có đến 18 đôi xương sườn mặc dầu một vài chủng loại hiếm hoi có 17 hay 19 đôi.
[2] John
Keegan, A History of Warfare, 1993 p. 177
[3] Bronowski,
J., The Ascent of Man, 1973 tr. 80
[4] Bill Cooke,
The Horse in Chinese History, 2000 tr. 29
[5] Bill Cooke,
sđd tr. 29
[6] Joseph
Needham, Science and Civilisation in China, vol. 4, Physics and Physical
Technology, part 2: Mechanical Engineering (England: Cambridge University
Press, 1965) tr. 304-5
[7] Bill Cooke,
sđd tr. 35
[8] Ralph D.
Sawyer, Sun Tzu, The Art of War, 1994 tr. 72
[9] … Now
chariots and cavalry are the army’s martial weapons. Ten chariots can defeat
one thousand men; one hundred chariots can defeat ten thousand men. Ten
cavalrymen can drive off one hundred men, and one hundred cavalrymen can run
off one thousand men. Ralph D. Sawyer, Sun Pin, Military Methods of the Art
of War 1995, tr. 174 (Ch. 17, Ten Questions, Thập Vấn)
[10] Bill Cooke,
sđd tr. 38
[11] Bill Cooke,
sđd tr. 28
[12] Xin phân biệt
với bốn phát minh quan trọng nhất của người Trung Hoa với nhân loại là thuốc
súng, giấy, kim chỉ nam và nghề in. Theo Lionel Casson thì có thể người Trung
Hoa đã cải tiến lối lên ngựa bằng ngón cái do các dân tộc đi chân không những
nơi khí hậu nóng như Ấn Ðộ rồi truyền qua Trung Hoa theo các phái đoàn Phật
giáo. “The Horse in History” Joseph J. Thorndike, Jr. ed. Discovery of Lost
Worlds, (American Heritage Pub, 1979) tr. 73.
[13] Ôn Thiên, Thần Dữ Vật Du – Xảo Ðoạt
Thiên Công Ðích Trí Tuệ , 2000 tr. 172
[14] Chiều cao của ngựa tính từ xương giáp mình
và cổ (withers) xuống tới đất, thường được đo bằng hand, 1 hand khoảng 4
inches, 10 cm. Ở đây chúng tôi tính luôn bằng cm cho dễ hiểu.
[15] girth là đai buộc yên xuống dưới bụng
[16] Ngựa bản địa
của Tàu và của Việt Nam là giống ngựa thồ, dẻo dai nhưng nhỏ bé, dùng để chuyên
chở thì được nhưng không thuận tiện cho việc cưỡi hay chiến đấu
[17] Giống ngựa
này cao to và hùng tráng, chạy nhanh, dẻo dai có thể chạy một mạch 360 km trong
ba ngày mà không phải uống nước nhưng tính khí hơi dữ tợn, thường được gây giống
làm ngựa đua (Elwyn H. Edwards ed., Encyclopedia of The Horse, 1977) tr.
67
[18] Bill Cooke,
sđd tr. 43
[19] Ann
Paludan, Chronicle of the Chinese Emperors, 1998 tr. 106
[20] Ann
Paludan, sđd tr. 92
[21] Sandra
Olsen, ed. Horses through Time (Boulder, Colo.: Robert Rienhart
Publisher, không đề năm) tr. 95 dẫn lại theo Bill Cooke trong Imperial
China, The Art of the Horse in Chinese History tr. 28
[22] J.
Guilmartin, Turkish Archery and the Composite Bow, 1947 (trích lại theo
John Keegan, sđd tr. 162)
[23] Người Âu
Tây tính bằng pound, còn người Trung Hoa tính bằng thạch (1 thạch độ chừng 27.8
kg)
[24] John
Keegan, sđd tr. 162-3
[25] John
Keegan, sđd tr. 163
[26] Stephen
Selby trong Chinese Archery 2000 dịch là gỗ đu đủ (carica papaya) nhưng
trong Từ Nguyên thấy mộc qua là một loại cây mọc thành bụi, rụng lá mùa đông,
mùa xuân ra lá non rồi ra hoa hồng hoặc trắng, khá đẹp. Từ Hải nói là một loại
dây leo thuộc họ tường vi nghĩa là một loại hồng dại. Ðiều này hợp lý hơn vì loại
hồng leo rất dai, nếu đủ già có thể làm cánh cung chứ đu đủ thì mềm, dễ mục làm
sao làm cung được.
[27] Stephen
Selby, Chinese Archery 2000, tr. 179
[28] Tống Ứng
Tinh, Thiên Công Khai Vật 1983, tr. 229
[29] người ta đã
đào được đồ đồng có niên đại 3600 trước TL ở Thái Lan trong khi ở Trung Hoa đồ
đồng cũ nhất là khoảng 1600 trước TL (Lionel Casson: “China and the West: Which
was first?” Joseph Thorndike ed. Mysteries of the past, 1977) tr. 191.
[30] Keith
Weller Taylor, The Birth of Vietnam, 1983 tr. 21
[31] Keith
Weller Taylor, sđd. tr. 318
[32] Cũng theo các nhà nghiên cứu, chữ nỗ của Trung Hoa chính là mượn của
phương nam. Người Mường gọi nỏ là nả, người Chàm gọi là nư, người Ê Ðê gọi là
hna … Ðiều đó cũng dễ hiểu vì phương nam rừng núi rậm rạp, người đi săn không
thể dùng cung vì khi giương cung sẽ gây tiếng động khiến thú rừng chạy mất nên
phải dùng nỏ giương sẵn để chờ đợi. Có lẽ vì thế mà nỏ ở nước ta thông dụng hơn
cung.
[33] Trần Quốc
Vượng & Ðỗ Văn Ninh, “Thời An Dương Vương trong quan hệ với thời Hùng
Vương” trong Nhiều tác giả: Hùng Vương dựng nước, tập II (Hà Nội: nxb
KHXH, 1972) tr.385.
[34] Keith
Weller Taylor, sđd tr. 21
[35] birch
(betulaceae)
[36] hiện nay
người ta đã chụp ảnh và quay phim mũi tên bắn ra xác định được điều đó
[37] Stephen
Selby, sđd tr. 119
[38] Stephen
Selby, sđd tr. 122-4
[39] Denise
Dersin, What Life Was Like in the Land of the Dragon –Imperial China AD
960-1368 1998 tr. 110
[40] lối thịt bằm
và dần mềm này khi quân Mông Cổ tiến đánh Âu Châu được người Ðức bắt chước ở
Hamburg (Ðức), gọi là hamburger, nay là một món ăn thông dụng nhất là tại Mỹ.
[41] nước Kim
lúc đó rất rộng bao gồm một phần Siberia, Mãn Châu và miền Bắc Trung Hoa.
[42] Chính vào giai đoạn này người Mông Cổ đã có âm mưu thôn tính Ðại Việt,
vừa chủ trương làm bàn đạp xâm lấn những nước ở Ðông Nam Á, vừa bao vây căn cứ
cuối cùng của nhà Tống.
[43] Ðây chính
là cánh tay phải của Nguyên Thế Tổ Kublai Khan và thường được biết dưới cái tên
Ngột Lương Hợp Thai (con của đại tướng Subotai, phụ tá nổi tiếng nhất của
Genghis Khan). Y đã tàn sát nhiều thành phố ở Trung Á mà đậm nét nhất là vụ vây
thành Khwarazm (tức nước Hoa Thích Tử Mô) và lừng danh vì đã chỉ huy quân đánh
chiếm đóng Ðại Lý, Thổ Phồn. Y cũng đem quân qua đánh nước ta năm 1257 nhưng
thua to nên bị tước hết binh quyền cho tới khi chết.
[44] Arigh Khaya
là mưu sĩ số một của nhà Nguyên, cũng là đại tướng lừng danh nhất, sau này chỉ
huy quân sang đánh Ðại Việt nhưng sử lại ít nhắc đến mà chỉ nhắc đến Vân Nam
Vương Thoát Hoan (Tojan) có lẽ vì y là con trai của Kublai Khan (con thứ 9 hay
11 tùy theo sách)
[45] David
Nicolle, sđd tr. 64
[46] Dawn F
Rooney, Angkor, an introduction to the temples, 1997 tr. 28
[47] Sogatu vốn
là thị vệ của Kublai, lập được nhiều công lao trong vụ bình Ðại Lý và tiêu diệt
nhà Nam Tống, chiếm lĩnh cả một vùng duyên hải phía nam Trung Hoa (Mân Việt)
[48] Tojan
[49] Trần Trọng
Kim, Việt Nam Sử Lược tập 1, (1971) tr. 127
[50] David
Nicolle, The Mongol Warlords (1990), tr. 59. Con số này không đồng nhất,
các sách sử của ta chép rằng khi xuất quân chỉ có 30, 000 khi thua trận chỉ còn
5,000. Tuy nhiên, đoàn quân này là một đội quân hỗn hợp, trong đó có cả đội
tiên phong do Ðoàn Hưng Trí (vua nước Ðại Lý về hàng Mông Cổ) chỉ huy và một số
lớn quân Thổ Phồn.
[51] Trần Trọng
Kim, sđd tr. 122
[52] Trần Quốc
Toản mới 15 tuổi mà cũng đã có được hơn 1000 quân đem đi đánh giặc
[53] Nhà Chu bên
Tàu thời trước cũng áp dụng hình pháp y hệt đời Trần của nước ta (ai uống rượu
đều bị chém đầu và duy nhất chỉ có tử hình cho mọi tội lớn nhỏ, tội nhẹ nhất
cũng cắt mũi, chặt chân, hay thiến...) nên sau mấy chục năm, nước Tàu trở thành
một thời “đại trị”. Chính vì thế mới có những vụ di dân tập thể sang Mãn
Châu, Korea, Nhật Bản, và sang cả miền Bắc nước ta. Sử chỉ chép rằng thời đó của
rơi không ai nhặt nhưng có biết đâu là vì hình pháp chứ không phải vì đạo đức
con người (Sterling Seagrave: Lords of the Rim, 1995 tr. 13)
[54] lúc này
đang làm Thái Thượng Hoàng
[55] binh mã nhà
Nguyên chủ yếu là từ Vân Nam (tức là quân ở Ðại Lý cũ) và các tỉnh miền nam
Trung Hoa (quân Tống cũ)
[56] Trần Trọng
Kim, sđd tr. 137
[57] Cho tới lúc
này, Trần Quốc Tuấn chưa phải là một nhân vật nổi bật, lại có nhiều úy kỵ đối với
giòng chính vua Trần nên có lẽ trong triều đình cũng có những tranh đấu quyết
liệt trước khi đồng ý đưa ông ra thống lĩnh toàn bộ quân đội.
[58] Ðại Việt
Sử Ký toàn thư, trích lại theo Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm sđd tr 183
[59] Trong tay
chúng tôi hiện có hai bản Binh Thư Yếu Lược, cuốn thứ nhất do Nguyễn Phước
Hải, Mã Nguyên Lương và Lê Xuân Mai phiên dịch do Khai Trí ấn hành năm 1969, cuốn
thứ hai do Nguyễn Ngọc Tỉnh phiên dịch, Quê Mẹ (Paris) ấn hành năm 1988. Cuốn của
Khai Trí chỉ có cuốn 1, cuốn của Quê Mẹ gồm 4 cuốn. Tuy nhiên không biết những
bản này chính xác tới mực nào vì lẫn lộn nhiều việc và sách vở sau đời Trần.
Ngoài ra, ông còn soạn một bộ sách về Âm Dương Học có tên là Vạn Kiếp Tông
Bí Truyền Thư không phổ biến ra ngoài.
[60] Theo sử
sách, đến đầu tháng giêng năm Ất Dậu (tháng 2-1285), quân ta đã phải bỏ Vạn Kiếp,
Phả Lại, Bình Than nghĩa là chỉ trong vòng 1 tháng sau hội nghị Diên Hồng, Ðại
Việt đã hầu như tan vỡ trên mọi mặt trận.
[61] Người Mông
Cổ không đóng quân trong những thành đã chiếm được sợ bị trúng kế. Ðây là thói
quen của họ từ trước đến nay, không phải chỉ tại Việt Nam như nhiều người lầm
tưởng.
[62] Nước ta có
ba bà công chúa đem thân báo đền non nước là An Tư, Huyền Trân, Ngọc Vạn nhưng
lại ít được nhắc đến.
[63] trận này sử
Tàu tuy luôn luôn thiên vị Mông Cổ cũng phải viết như sau: Trần Nhật Huyên
(vua Trần) tuy thua chạy nhưng lợi dụng địa hình dùng chiến thuật du kích quấy
nhiễu quân Mông Cổ, chặn cướp lương thực. Lại thêm thời tiết nóng nực, bắc quân
không hợp thủy thổ, bệnh dịch lan truyền, chết vô số kể. Thoát Hoan không chịu
nổi, không đợi được quân Toa Ðô lên để cùng tấn công, phải tự dẫn binh rút về.
Quân An Nam theo sau đuổi đánh, quân Mông Cổ chết rất nhiều. Toa Ðô nghe tin
Thoát Hoan chạy rồi, cũng chạy theo, bị quân An Nam vây đánh tử trận, bao nhiêu
quân bị giết sạch. Lần nam chinh này, quân Mông Cổ bị thất bại hết sức nặng nề
(這次的南征, 蒙古兵遭遇了一次大大的失敗- Giá thứ
đích Nam chinh, Mông Cổ binh tao ngộ liễu nhất thứ đại đại đích thất bại) Trần Chí
Bình, Trung Hoa thông sử q. 8,
1978, tr. 192-3
[64] Trần Chí
Bình, sđd tr. 193
[65] phải là 37
năm mới đúng
[66](總之蒙古的南征安南,占城…歷時三十四年,凡四次出征,結果是損兵折將,傷亡慘重,除獲致一個藩屬之名外, 事實上是得不償失). Trần Chí Bình, sđd tr. 194 (Hà Văn Tấn-Phạm Thị Tâm có nhắc đến việc
này nhưng lại viết là Nguyên triều chỉ mới tập trung quân nhưng chưa sang đánh
thì đã bãi binh, sđd tr. 323-6) Người viết ngờ rằng Trần Chí Bình đã chép lầm
chiến dịch sang đánh Java (1292-3)
[67] J.
Bronowski, sđd tr. 88
[68] Trần Trọng
Kim, sđd tr. 166
[69] Việt Nam
chưa làm những nghiên cứu để xác định lực lượng Mông Cổ gồm những thành phần
nào. Tuy nhiên theo khám phá mới nhất của Nhật Bản khi cho vớt và khảo sát di
tích những lần thủy binh Mông Cổ tấn công Nhật Bản cũng khoảng thời gian đó thì
chỉ chừng 1% lực lượng của họ là gốc Mông Cổ, còn 99% là gốc Hán tộc. Nhiều bằng
cớ cho thấy những chuyến viễn du này được chuẩn bị rất vội vã và cẩu thả, gồm
nhiều thành phần ô hợp. (... Initially study of the artifacts has revealed
new information about the khan’s forces. Only one percent of the finds can
be attributed to a Mongolian origin; the rest are Chinese. The Mongol
invasion was Mongol only in name and in the allegiance of the invading sailors
and troops... James P. Delgado: “Relics of the Kamikaze – Excavations off
Japan’s coast are uncovering Kublai Khan’s ill-fated invasion fleet”,
Archaeology Jan-Feb 2003 tr. 41).
[70] Xie Qikun, Guangxi
Tongzhi (Quảng Tây thông sử) bản đời Gia Khánh (1796-1821), Quảng Tây Nhân
Dân Xuất Bản Xã tái bản 1988, Vol VIII, chương 187, trang 5032)
(http://mcel.pacificu.edu/as/resources/zhuang/zhuang11.htm tr. 22-3)
[71] mỗi lần
quân Mông Cổ kéo tới triều đình nhà Trần lại di chuyển đi chỗ khác, bỏ mặc kinh
đô cho địch chiếm rất dễ dàng, khác hẳn cái bề thế cồng kềnh của Trung Hoa, mỗi
lần dắt díu nhau làm mục tiêu cho địch tiêu diệt.
[72] Robert B.
Asprey, War in the Shadows vol I, 1975 tr. 71
[73] Kiến Văn
Tiểu Lục – Thể Lệ Thượng (trích lại theo Lê Văn Lan, “Trang Phục Ðời Hùng” Ủy
Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Viện Khảo Cổ Học, Hùng Vương dựng nước, tập
III, nxb KHXH, Hà Nội 1973) tr. 264.
[74] Lê Văn Lan,
Trang Phục Thời Hùng Vương, sđd. tr 264-5
[75] Trần Trọng
Kim, sđd tr. 125
[76] Lý Chiêu
Hoàng lấy Trần Thái Tông đã lâu mà chưa có con nên bị Trần Thủ Ðộ giáng xuống
làm Chiêu Thánh công chúa và đem Thuận Thiên công chúa (vốn là vợ An Sinh Vương
Trần Liễu) đang có mang gả cho Trần Thái Tông, sinh ra Quốc Khang. Thành ra Quốc
Khang là con trưởng nhưng lại không được làm vua mà vua Thái Tông lại truyền
ngôi cho con thứ (con ruột của ông ta).
[77] Ðại Việt
Sử Ký toàn thư (bản kỉ q. 5, tờ 32a và 32b) trích lại theo Nguyễn Khắc Thuần,
Việt Sử Giai Thoại, tập 3, 71 giai thoại thời Trần (Hà Nội: nxb Giáo Dục,
1997) tr. 15
[78] lối đánh
này rất có thể không phải do người Việt phát minh ra mà chỉ bắt chước người
Chiêm Thành ở phía nam