Saturday, March 26, 2022

Trần Hữu Thục: “Nội chiến” ngôn ngữ - tiếng Ukraine hay tiếng Nga?

Không phải tất cả những gì viết bằng tiếng Nga đều thuộc về văn chương Nga, hoặc thuộc về (nước) Nga. Những nhà văn Ukraine viết tiếng Nga không viết về người Nga mà về người Ukraine.

Andrey Kurkov 

 

Bối cảnh lịch sử và chính trị

Ukraine là nước lớn thứ hai ở Âu Châu, sau Nga, với diện tích 603,628 km2, xấp xỉ tiểu bang Texas (695.622 km2), gần gấp đôi Việt Nam (331.2121km2). Theo kiểm tra dân số tháng 1/2022 (www.ukrstat.gov.ua.), thì Ukraine (không kể bán đảo Crimea đã bị Nga sáp nhập) có 41. 167. 336 người, trong đó, 77.8 % là người Ukraine và 17.3% là người Nga với 67% nói tiếng Ukraine và 24% nói tiếng Nga.[1]

Dẫu vậy, tổng thống Nga Vladimir Putin nhiều lần khẳng định “Không hề có một nước gọi là Ukraine”! Ngay từ đầu một bài viết quan trọng của mình, “On the Historical Unity of Russians and Ukrainians”[2] công bố trên trang mạng của điện Kremlin ngày 21/7/2021, Putin không úp mở xác định rằng “người Nga và người Ukraine là một dân tộc – một toàn thể duy nhất,”[3] vì Nga và Ukraine có cùng một gia tài và một vận mệnh chung. Cái gọi là căn cước quốc gia Ukraine hiện nay chỉ là một sản phẩm của các thế lực nước ngoài, theo ông.

Hai nước Ukraine và Nga quả thực đã cùng chia xẻ một lịch sử khá phức tạp, nhưng lập luận này rõ ràng xuất phát từ một ám ảnh lâu đời của tinh thần đế quốc Nga.

Từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 13, một quốc gia Đông-Slave (East Slavic) đầu tiên có tên gọi là Kievan Rus xuất hiện, với một lãnh thổ rộng lớn và đông dân nhất Âu Châu thời đó; trung tâm của nó là Kyiv, thủ đô Ukraine hiện nay, mà các nước Belarus, Russia, và Ukraine đều xem là nguồn gốc của họ. Vào thế kỷ 12, trong lúc người Nga dần dần tách khỏi Kievan Rus và hình thành một quốc gia riêng, thì những cuộc tranh giành và chiến tranh tương tàn cùng với sự xâm lăng của Mông Cổ đã khiến Kyivan Rus suy yếu và cuối cùng, bị sáp nhập vào vương quốc Polish-Lithuanian. Dẫu vậy, di sản văn hóa và tôn giáo của nó là nền tảng cho tinh thần quốc gia Ukraine về sau, giúp hình thành một nước Ukraine mới gọi là Cossack Hetmanate vào thế kỷ thứ 17, sau một cuộc nổi loạn chống người Ba Lan. Quốc gia này giữ vững độc lập trong vòng hơn 100 năm (1648-1764) mặc dầu bị nước Nga ép chế. Đến nửa sau thế kỷ 18, Cossack Hetmanate lại suy đồi và hoàn toàn bị Đế Quốc Nga sáp nhập; người Ukraine chịu đựng cảnh mất nước thêm gần 200 nữa cho đến khi Nga Hoàng bị sụp đổ năm 1917. Ukraine được hưởng một thời gian ba năm độc lập ngắn ngủi (1917-1920). Nhưng sau đó, khi chế độ Cộng Sản Liên Xô vững mạnh, Ukraine hoàn toàn lại nằm dưới sự thống trị của người Nga. Ukraine chỉ giành lại được độc lập hoàn toàn khi chế độ Liên Xô tan rã vào năm 1991.

Dù đất nước triền miên chìm trong khủng hoảng do di sản của chế độ Cộng Sản và do tham nhũng, thiếu khả năng và nhiều vấn đề linh tinh khác, người dân Ukraine vẫn cương quyết theo đuổi lý tưởng dân chủ của mình: từ năm 1991 đến nay, Ukraine có tất cả 6 tổng thống được bầu lên theo thể thức dân chủ.[4]Gay cấn nhất là cuộc bầu cử năm 2004 với hai ứng cử viên đại diện cho hai khuynh hướng đối chọi nhau: Viktor Yushchenko thân Tây phương còn Viktor Yanukovych thân Nga. Yushchenko, do lập trường của mình, nên bị tình báo Nga đầu độc, được cứu sống với một khuôn mặt bị biến dạng. Viktor Yanukovych đắc cử, nhưng bị phát hiện là gian lận, nên dân chúng biểu tình đòi hủy bỏ kết quả. Khi bầu lại, Yushchenko đắc cử. Điều này khiến mâu thuẫn giữa hai nước Nga và Ukraine càng thêm gay gắt.

Trong cuộc bầu cử năm 2010, Yanukovych trở lại chính trường, cam kết đưa Ukraine thân thiện với châu Âu và rồi đắc cử tổng thống sau những năm kinh tế suy sụp dưới thời Yushchenko. Năm 2013, Yanukovych thay đổi lập trường, quay sang thắt chặt quan hệ với Nga. Điều này gây phẫn nộ trong quần chúng, đưa đến những cuộc biểu tình liên tục vào cuối năm 2013 và đầu năm 2014. Yanukovych áp dụng biện pháp mạnh, đàn áp và giết hàng trăm người, nhưng không khuất phục được sự bất mãn của nhân dân, lại bị quốc tế lên án, nên cuối cùng, phải chạy trốn qua Nga. Petro Poroshenko, một chính trị gia thân Tây phương, đắc cử tổng thống vào năm 2014, thắt chặt quan hệ trở lại với Tây phương. Đầu năm 2019, Giáo Hội Chính Thống Giáo Ukraine chính thức cắt dứt quan hệ với Giáo Hội Chính Thống Nga (Russian Orthodox Church) là tổ chức tôn giáo vốn có quan hệ hết sức chặt chẽ với các chế độ của Nga qua hàng nhiều thế kỷ. Điều này làm Nga càng thêm nổi giận, tố cáo Hoa Kỳ âm mưu xúi giục Ukraine tách khỏi ảnh hưởng Nga, làm suy yếu Nga và quyền lợi của những người nói tiếng Nga ở Ukraine.

Trong cuộc bầu cử vào năm 2019, Volodymyr Zelensky, một diễn viên điện ảnh hài hước, thắng cử tổng thống với hơn 70% phiếu bầu, đánh bại đương kim tổng thống Petro Poroshenko. Zelensky tiếp tục đường lối của người tiền nhiệm, cam kết đưa Ukraine trở thành thành viên của khối NATO. Zelensky ra lệnh sử dụng những biện pháp mạnh chống lại tay tài phiệt Viktor Medvedchuk, chủ tịch một đảng thân Nga lớn nhất ở Ukraine. Chính phủ cho đóng băng tài sản ba năm, đóng cửa các kênh truyền hình thân Nga, buộc ông ta vào tội phản bội vì cho rằng ông đã chuyển những cơ sở dầu hỏa và khí đốt ở Crimea (mà Nga chiếm năm 2014) cho Nga. Căng thẳng Nga-Ukraine lên đến tột đỉnh.

Và cái gì đến, phải đến: ngày 24/2/2022, Putin ra lệnh mang 150 ngàn quân tấn công Ukraine.

Bối cảnh văn chương

Văn chương Ukraine không có một sự tiến triển bình thường, êm ả, thiếu sự liên tục do chịu ảnh hưởng của chiến tranh và do bị lệ thuộc vào nước ngoài kéo dài suốt cả thiên niên kỷ. Đã thế, ngôn ngữ viết chỉ được sử dụng trong lãnh vực tôn giáo, thay đổi chậm hơn so với ngôn ngữ nói, tạo nên một sự cách biệt càng ngày càng lớn giữa hai cách sử dụng. Như một toàn thể, tiến trình văn chương Ukraine trải qua nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ mang một sắc thái riêng biệt:[5]

– thời kỳ Kyivan Rus (thế 9-13)

– thời kỳ Cossack Hetmanate (cuối thế kỷ 17-đầu thế kỷ 18)

– thời kỳ bản ngữ (vernacular/cuối thế kỷ 18-đầu thế kỷ 20)

– thời kỳ phục hưng (1917-1933)

– thời kỳ Sô Viết (thập niên 1930-1991)

– thời kỳ độc lập (từ 1991)

Trong một quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước bấp bênh và thăng trầm như thế, thì quả tình “Ukraine là một quốc gia bất toàn (incomplete), cho nên văn chương của nó cũng bất toàn. Văn chương bất toàn không thể thỏa mãn tất cả mọi quyền lợi tri thức, nên nó được xem như bị lệ thuộc vào các nền văn chương khác,” sử dụng lại một nhận xét của Dmytro Cyzevkyi khi bàn về văn chương Ukraine giai đoạn Cổ Điển (Classics).[6]

Khi Đế Quốc Nga thống trị Ukraine vào thế kỷ 18, Nga Hoàng cho thay thế tất cả phiên bản tiếng Ukraine trong tôn giáo bằng tiếng Nga, đồng thời ra lệnh cấm lưu hành tất cả các tác phẩm văn chương bằng tiếng Ukraine. Chỉ còn tiếng Ukraine bình dân (ngôn ngữ nói) là vẫn được sử dụng. Mặt khác, hầu hết những gì viết bằng tiếng Ukraine đều là thứ ngôn ngữ sách vở chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tiếng Nga, do đó, tách dần khỏi ngôn ngữ bản địa Ukraine. Văn chương cao cấp Ukraine (high style) trở thành văn chương Nga; kịch và văn xuôi thì pha trộn giữa ngôn ngữ sách vở và ngôn ngữ bình dân (middle style); chỉ có văn chương bình dân (chuyện tục, chuyện cười) mới sử dụng tiếng Ukraine thực sự (vernacular literature). Những tác phẩm viết bằng tiếng Ukraine đầu tiên ở Kievan Rus từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13 là những tác phẩm tôn giáo, sử dụng ngôn ngữ “Church Slavonic” (Church-Slavonic language), do đó, là tài sản văn chương chung của cả Nga, Belarus và Ukraine. Sau khi bị Mông Cổ xâm lăng, và nước Nga tách ra thành một quốc gia riêng, thì văn chương Ukraine hoàn toàn suy đồi cho mãi đến thế kỷ 16.

Phải đợi đến đầu thế kỷ 19 thì văn chương bằng tiếng bản ngữ Ukraine mới có cơ hội phát triển. Đây là thời kỳ văn chương mang ý thức quốc gia Ukraine mạnh mẽ nhất trong lịch sử Ukraine, bất chấp sự cai trị tàn bạo của đế chế Nga. Ivan Kotlyarevsky, nhà thơ và nhà viết kịch, được xem là người khởi đầu cho truyền thống văn chương Ukraine mới, với Eneida (1798), một vở kịch thơ có tính cách giễu nhại, sử dụng ngôn ngữ bình dân, thông tục. Về văn xuôi thì có truyện dài Marusya (1834) của Hryhorii Kvitka-Osnovianenko. Đặc biệt nhất là Taras Shevchenko, một họa sĩ và một nhà thơ ngoại hạng của văn chương Ukraine mà ở khía cạnh thi ca và ngôn ngữ, có thể so sánh với Nguyễn Du của Việt Nam. Sinh ra trong một gia đình nông nô năm 1814, nhưng được giải thoát khỏi thân phận này vào năm 1838, Shevchenko vào học ở “Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật St. Petersburg” (St. Petersburg Academy of Art). Thơ ông lúc đầu mang dấu ấn của chủ nghĩa lãng mạn (Romantics) nhưng sau đó chuyển sang tình cảm yêu nước với lòng hoài vọng đến thời kỳ độc lập của quốc gia Cossack Hetmanate, vẽ lại hình ảnh u tối của một đất nước bị người Nga chiếm đoạt. Đặc biệt, trường ca Haidamaky (1841) là một tác phẩm trào phúng, chế giễu và lên án sự đàn áp của người Nga đối với người Ukraine.[7] Ông bị nhà cầm quyền Nga đày đi lao dịch một thời gian, dài đến…10 năm (1847-1857). Với tinh thần yêu nước nồng nàn và với một sự nghiệp văn chương lớn lao được sáng tác bằng tiếng Ukraine, Taras Shevchenko đã được người dân Ukraine tôn vinh như là người tái thành lập quốc gia Ukraine hiện đại. Tượng đài vinh danh nhà thơ này được tìm thấy ở nhiều trường đại học và công viên trên khắp đất nước Ukraine hiện nay và ngay cả trong các quốc gia Liên Xô cũ. Theọ học giả văn chương Tetyana Ogarkova, “Vị Cha Già Dân Tộc [của Ukraine] chẳng phải là một Hoàng Tử hay Nga Hoàng, cũng không phải là triết gia, nhưng là một nhà thơ, đó là Taras Shevchenko.”[8]

 

clip_image001

Nhà thơ Taras Shevchenko

Khoảng thời gian độc lập ngắn ngủi từ năm 1917 và một thập niên sau đó do chế độ Liên Xô còn cởi mở, là thời kỳ nở rộ của các tác phẩm văn chương, cả sáng tác lẫn phê bình. Đây là giai đoạn hưng thịnh bất ngờ của văn chương Ukraine. Tiếng Ukraine có dịp được người Ukraine sử dụng sau gần 200 năm bị đẩy vào quên lãng. Cho đến trước năm 1922 không có một tờ báo nào bằng tiếng Ukraine, nhưng từ đó cho đến năm 1933, có đến 372 tờ nhật báo, 89 tạp chí đuợc xuất bản bằng tiếng Ukraine ở Ukraine.[9] Nhưng rồi thời kỳ này bị chấm dứt một cách tàn nhẫn do sự đàn áp của chính quyền Liên Xô. Tất cả mọi tổ chức độc lập đều bị tiêu diệt. Hầu hết các nhà văn Ukraine hoặc chịu phục tùng hoặc bị tù tội, bị thủ tiêu hay tự sát. Ước lượng có đến 250 nhà văn nổi tiếng Ukraine bị giết trong giai đoạn này.

Từ khi được độc lập (1991), văn chương Ukraine bước vào một giai đoạn mới. Do không còn chế độ kiểm duyệt, văn học nghệ thuật Ukraine phát triển một cách mạnh mẽ hầu như trên tất cả mọi lãnh vực từ hội họa, âm nhạc, kịch nghệ cho đến văn chương. Các nhà văn nhà thơ quay sang những đề tài mới mẻ vốn đã từng bị cấm kỵ trước đây như tình dục, nghiện hút, nạn đói dưới thời Liên Xô, mang văn chương Ukraine hòa vào dòng văn chương đương đại thế giới, kẻ cả xu hướng hậu hiện đại. Giải văn chương “Drahoman Prize” được Văn Bút Ukraine (PEN Ukraine) và Viện Sách Ukraine (Ukrainian Book Institute) thành lập năm 2020, nhằm khuyến khích các dịch giả dịch và phổ biến văn chương Ukraine trên thế giới. Văn chương Ukraine hậu-độc lập là một trong những yếu tố quan trọng góp phần xác định căn cước của những người công dân nước Ukraine.

Nội chiến ngôn ngữ

Văn chương gắn liền với ngôn ngữ. Sau hàng thế kỷ bị Nga-hóa từ thời Peter the Great (1672-1725), Catherine the Great (1729-1796) rồi Alexander II (1818-1881) cho đến khi chế độ Liên Xô sụp đổ, tiếng Ukraine hầu như bị loại trừ ra khỏi mọi sinh hoạt công cộng trong một thời gian dài. Ở ngoài đường phố hay trong trường học, ai nói tiếng Ukraine thường bị xem là quê mùa. Nhiều người Ukraine đã trải qua thời kỳ thơ ấu bị phân biệt đối xử vì ngôn ngữ. Inna Sovsun, một luật sư, nguyên bộ trưởng Giáo Dục và Khoa Học Ukraine (2014-2016) cho biết là hồi học mẫu giáo, bà thường bị chế giễu khi nói tiếng Ukraine, dù chỉ là nói ở bên ngoài lớp học. Chính vì thế mà trong thời kỳ Liên Xô, có một phong trào trong sinh viên âm thầm vận động người Ukraine nên nói tiếng Ukraine trong giờ giải lao. Đến khi Ukraine giành được độc lập, việc phục hồi ngôn ngữ Ukraine càng ngày càng trở nên cấp thiết. Đó là động lực lớn lao, thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nước, kể cả văn chương. Thanh niên Ukraine đã bắt đầu hãnh diện vì mình là người Ukraine, hãnh diện vì ngôn ngữ Ukraine, nhất là khi đối mặt với Nga, vốn là những kẻ “không thừa nhận sự hiện hữu của một quốc gia độc lập, tự do và thực sự mang tính cách Ukraine,” theo học giả Tetyana Ogarkova.[10]

Nhiều người Ukraine có tinh thần cực đoan chủ trương thúc đẩy sử dụng tiếng Ukraine cả về chính trị lẫn xã hội và kinh tế. Nhất là những người vốn sống ở bán đảo Crimea mà Nga sát nhập từ năm 2014. Cộng đồng người Ukraine ở đây bị lực lượng Nga chiếm đóng phân biệt đối xử. Vì không chịu nổi sự áp bức nên nhiều người trốn khỏi Crimea và trở thành những người hăng hái nhất trong cuộc chiến giành giựt ngôn ngữ. Nổi tiếng nhất trong nhóm này là Akhtem Seitablayev (tài tử/giám đốc điện ảnh) và Nariman Aliev (giám đốc điện ảnh). Họ đều sinh trưởng trong một gia đình chỉ nói tiếng Nga, nhưng do sự áp chế cho nên, dù sống ở quê hương (Crimea) mà cảm thấy như sống ở nước ngoài. Họ cực đoan: vận động mọi người không nói, không đọc, không xem bất cứ sản phẩm nào bằng tiếng Nga.[11] Họ chủ trương Ukraine-hóa (Ukrainization) ngôn ngữ vì chỉ như thế mới thực sự đặt nền móng cho một nước Ukraine độc lập, hiện đại, thuộc về Âu Châu, tách biệt hẳn ra khỏi Nga và mang lại căn cước chính thức của họ.

 

clip_image003

Bích chương vận động sử dụng tên của thủ đô Ukraine: Kyiv (tiếng Ukraine, phát âm: Kee-ef); Kiev (tiếng Nga, phát âm: Kee-yev)

Cuộc vận động Ukraine-hóa ngôn ngữ từng bước giành được thắng lợi. Năm 2017, quốc hội Ukraine thông qua đạo luật giảm thiểu các ngôn ngữ thiểu số, kể cả tiếng Nga, biến tiếng Ukraine thành ngôn ngữ ưu thế trong mọi sinh hoạt công cộng, từ học đường, truyền thông cho đến các hoạt động kinh doanh. Theo cuộc thăm dò dư luận năm 2017, do tổ chức “Razumkov Center” thực hiện, hơn 2/3 dân Ukraine xem tiếng Ukraine là ngôn ngữ mẹ đẻ; và hơn 50% trong số đó sử dụng tiếng Ukraine ở nhà. Nhiều người Ukraine đã sử dụng tiếng Ukraine trong mọi giao tiếp mà không cảm thấy ngượng nghịu, theo Dylan Carter.[12]

Người Ukraine thì nói tiếng Ukraine, tất nhiên thôi!

Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như thế.

Tiếng Ukraine và tiếng Nga, cả hai đều thuộc cùng ngữ hệ Slavonic, một nhóm ngôn ngữ ở vùng trung và đông châu Âu, bao gồm cả tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp và tiếng Bulgaria. Một ngàn năm trước đây, ngôn ngữ nói trong các vùng thuộc Nga và Ukraine là phương ngữ của cùng một ngôn ngữ. Chúng cùng chia xẻ nhiều điểm giống nhau về văn phạm, từ vựng, phát âm, mẫu tự…Nhưng theo thời gian, do ảnh hưởng của các biến cố lịch sử như chiến tranh, di dân, do các giao tiếp về văn hóa, chúng dần dà khác nhau. Riêng về Ukraine, do một thời gian quá dài nằm dưới sự thống trị của người Nga, tiếng Nga trở thành ngôn ngữ phổ thông ở đó và là tiếng mẹ đẻ thứ hai của khoảng 30% công dân Ukraine hiện nay.[13] Hai ngôn ngữ gần gũi và pha trộn lẫn nhau đến nỗi tạo nên một thứ ngôn ngữ lai gọi là Surzhyk, được sử dụng ở nhiều nơi Ukraine. Không lạ gì, vai trò của tiếng Nga, từ lâu, đã là nguồn tranh cãi nóng bỏng về chính trị và văn hóa, nhất là từ khi cuộc chiến ly khai ở vùng Đông Ukraine (Donbas) nổ ra năm 2014.

Hiện nay, tuy tiếng Ukraine đã trở thành chính thức, nhưng trong các sinh hoạt xã hội, vẫn còn một áp lực vô hình thúc đẩy người Ukraine sử dụng tiếng Nga trong giao tiếp. “Người ta vẫn xem tiếng Nga như một ngôn ngữ quyền lực, ngôn ngữ của nhà giàu, do đó mà người ta vẫn làm y như thể mình thuộc giới này, cho nên nhiều người Ukraine trong thâm tâm vẫn cảm thấy hỗ thẹn khi nói tiếng Ukraine trên đường phố.”[14]Ngay cả trong trường học, nhiều sinh viên học sinh cho rằng học tiếng Ukraine chỉ là việc thứ yếu. Họ vẫn thích nghiên cứu văn chương Liên Xô và đọc sách Nga văn hơn.

Hiện nay, có ba thành phần:

– Thành phần ủng hộ tiếng Nga: đó là những người, hoặc vì họ đã hưởng được mọi ưu đãi do nền giáo dục Nga mang lại, hoặc họ là người Nga chính gốc (hơn 17% người Nga đang sống trong Ukraine), sử dụng tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ của mình. Trong vùng Donbas – nơi nhiều người Nga sinh sống -, sở dĩ những người thân Nga nổi loạn đòi ly khai khỏi Ukraine vào năm 2014, vì chính phủ ở Kyiv đã vi phạm quyền được nói tiếng Nga của họ.[15]

– Thành phần ủng hộ tiếng Ukraine. Đó là nhưng với những người đầy ắp tinh thần dân tộc chủ nghĩa, xem tiếng Nga là một di sản của chủ nghĩa đế quốc cần phải bị loại trừ.

– Thành phần trung dung: xem tiếng Nga là thứ ngôn ngữ chung sử dụng để giao tiếp trong môi trường liên-chủng tộc.

Theo Mansur Mirovalev,[16] trong bài viết “Language in Ukraine: Why Russian vs. Ukrainian Divides So Deeply,” Ukraine là một đất nước sử dụng nhiều ngôn ngữ kết hợp: tiếng Nga, tiếng Áo-Hung, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, chưa kể đến các ngôn ngữ thiểu số khác như Do Thái, Hy Lạp, Tomani. Tuy thế, Nga ngữ là ngôn ngữ ưu thế suốt thời Liên Xô trong lúc Ukraine được xem như phương ngữ. Sau 30 năm sau độc lập, tiếng Ukraine trở thành ưu thế với 2/3 người dân Ukraine thừa nhận như là tiếng mẹ đẻ. Từ tháng 1/2021, bộ “Luật Ngôn Ngữ” (Language Law) bắt buộc tất cả mọi nhân viên làm dịch vụ công cộng (cửa hàng, bệnh viện, công sở) chuyển tất cả đối thoại từ tiếng Nga duy nhất sang song ngữ Nga-Ukraine. Một bộ luật khác được tổng thống Petro Poroshenko đưa ra vào năm 2019 từng bước cho phép cấm các hệ thống truyền hình thân Nga và sách in ở Nga. Nhưng tổng thống hiện nay Volodymyr Zelensky muốn đảo ngược luật này. Zelensky lớn lên trong một gia đình chỉ nói tiếng Nga và lãnh đạo một kịch đoàn sử dụng cả hai thứ tiếng trong các vở kịch hài, bêu riếu xu hướng Ukraine-hóa ngôn ngữ, và ông thường nói tiếng Nga trước công chúng. Ông đưa ra thông điệp thống nhất ngôn ngữ: chấp nhận cả tiếng Ukraine lẫn tiếng Nga. “Chúng ta khác nhau, nhưng cũng rất giống nhau,” theo ông. Để chứng minh cho luận điểm của mình, ông luôn phát biểu dưới hình thức song ngữ. Ông cho rằng “Ukraine là một xứ sở chung, nhưng đa dạng, giống như một cửa hàng bán đủ thứ loại hoa, màu sắc và hương thơm khác nhau, nhưng tất cả đều là Ukraine,” theo ông. Thông điệp của Zelensky dường như phản ảnh xu hướng của đa số dân Ukraine, nên cuối cùng, Zelensky thắng cử. Nhưng áp lực chung bênh tiếng Ukraine chống tiếng Nga vẫn tiếp tục dưới thời ông.[17]

Bắt đầu từ tháng 7/2021, các chương trình truyền hình và phim ảnh bằng tiếng Nga buộc phải có phụ đề tiếng Ukraine, mặc dầu hàng thập niên dưới chế độ Sô-Viết, hầu như mọi người ai cũng hiểu tiếng Nga. Trong thời gian sắp tới, hàng chục ngàn nhân viên y tế, trường học, tòa án, cảnh sát…đều phải thi trắc nghiệm viết và nói tiếng Ukraine để xác nhận trình độ tiếng Ukraine của mình. Tuy nhiên, bộ luật mới khiến người Ukraine bị chia rẽ và thành kiến lẫn nhau. Theo cuộc thăm dò do một tổ chức phi-chính phủ, Space of Freedom, thực hiện vào tháng 11/2020, 53% cho biết là họ chỉ sử dụng tiếng Ukraine ở nhà và 29% thích nói tiếng Nga hơn. Nhiều người cho rằng đàng sau tinh thần quốc gia, “Luật Ngôn Ngữ” mang xu hướng kỳ thị ngôn ngữ. Không những người Nga mà một số người Ukraine cũng cảm thấy bị tổn thương. Theo họ, nói tiếng Nga không phải là một tội, vì đó cũng là tiếng mẹ đẻ. Nhiều người không dám nói tiếng Nga vì bị sợ quy cho là “thân-Nga”.[18]

Sự lép vế của tiếng Ukraine đối với tiếng Nga gần như trở thành một quán tính tập thể. Theo Natalka Sniadanko,[19] tiếng Ukraine, do bị Nga-hóa, trong tưởng tượng của quần chúng chỉ là một phương ngữ của tiếng Nga, không thể tự tồn tại một mình. Sau khi Ukraine giành độc lập, những nhà xuất bản đầu tiên của Ukraine tìm cách xuất bản những tác phẩm cổ điển của thế giới bị cấm dưới thời Liên Xô để cho dân Ukraine được thưởng thức, nhưng khổ nỗi, tất cả đều được viết bằng tiếng Nga. Họa hoằn lắm mới xuất bản được một một tác phẩm bằng tiếng Ukraine thì điều đó trở thành một biến cố lớn, không chỉ vì chúng hay, nhưng vì đó là một hiện tượng bất thường.

Nhà văn nữ Larysa Denysenko, tác giả của 10 tác phẩm, trong “Majority as a Minority” (Đa Số thành Thiểu Số) cho biết trong hai thập niên 1970 và 1980 ở thủ đô Kyiv, bất cứ một người nào mà nói chuyện bằng tiếng Ukraine, dù lớn hay nhỏ, đều bị xem ngay là thuộc loại nông dân, với ý khinh bỉ. Chuyển sang học và nói tiếng Nga là lập tức thay đổi hoàn cảnh và giai cấp, trở thành người thành thị, dễ kiếm việc làm, được có cảm tình và khỏi bị chê là “quê mùa”. Hãy tưởng tượng bạn sinh trưởng trong một gia đình nói tiếng Nga, học hành, đọc sách, báo tiếng Nga, nói chuyện và sinh hoạt hoàn toàn trong một môi trường tiếng Nga. Bạn ở trong thành phần “đa số”. Rồi đột nhiên, sau 1991, mọi chuyện thay đổi: bạn phải nói tiếng Ukraine, ngôn ngữ của bạn, nhưng lại như kẻ xa lạ, “thiểu số”. Yêu nước, từ từ, bạn làm quen với không khí, ngữ cảnh của tiếng Ukraine ở trong nhà trường, trong tòa án, trong công sở, trong các dịch vụ công cộng. Bạn hiểu biết, tin cậy và làm quen với nó. Nhưng “Bạn thực sự không bao giờ bắt đầu nói tiếng Ukraine. Bạn cảm thấy như bạn bị tước đoạt ra khỏi tình trạng đa số, và điều đó làm cho bạn đau đớn. Điều này chẳng hề tan biến một cách nhanh chóng và tự nhiên đâu!”[20]

Do đó, một quan điểm dung hòa, cho rằng phải dành ưu thế cho tiếng Ukraine, nhưng không nên loại bỏ tiếng Nga hoàn toàn, vì dù muốn dù không, nó đã là một ngôn ngữ được sử dụng chính thức.

Yuri Andrukhovych, nhà văn đương đại nổi tiếng, là tác giả của nhiều tiểu thuyết viết bằng tiếng Ukraine và đoạt nhiều giải thưởng văn chương, tuy ủng hộ tiếng Ukraine, nhưng chấp nhận thực tế: không dễ dàng loại bỏ tiếng Nga. Trong bài phỏng vấn do Volodymyr Yermolenko, người đứng ra biên soạn tuyển tập Ukraine In Histories And Stories, được hỏi một Ukraine trong vòng 30-40 năm có phải là một nước độc lập, thành công và song ngữ không, Andrukhovych quả quyết rằng, “Ukraine vẫn còn là nước đơn ngữ tiếng Nga” (a unilingual Russian speaking country). Vì sao? Tiếng Ukraine bây giờ hiện diện ở Kyiv nhiều hơn trước, nhưng luôn luôn đi sau tiếng Nga. Và ngay cả ở những vùng mà tiếng Ukraine chiếm ưu thế, người ta vẫn hướng về chủ nghĩa cơ hội, nghĩa là hướng về tiếng Nga, vì giỏi tiếng Nga thì dễ kiếm việc làm và dễ thành công hơn trong xã hội. Ở những vùng mà thứ tiếng hỗn hợp (surzhyk) được sử dụng, người ta cũng có xu hương chuyển về tiếng Nga. Theo Andrukhovych, đó là điều “không thể đảo ngược” (irreversible). Điều mà ông hy vọng là tiếng Ukraine sẽ vẫn còn giữ địa vị ngôn ngữ thứ hai (second language). “Tiếng Ukraine không bao giờ có thể loại trừ được tiếng Nga. Tranh đấu để giữ vững tiếng Ukraine có nghĩa là tranh đấu để cho một chế độ song ngữ thực sự.”[21]

Trong lúc đó Andrey Kurkov, nhà văn và nhà báo nổi tiếng khác của Ukraine, tác giả của gần 20 tiểu thuyết viết bằng tiếng Nga, đưa ra một cách nhìn có phần tương tự với Yuri Andrukhovych, chỉ hơi khác về mặt lý luận.[22] Theo ông, Ukraine nên chấp nhận nền văn hóa sử dụng tiếng Nga (Russian-language culture). Nền văn hóa này khác hẳn thế giới văn hóa của Liên Bang Nga. Văn chương sử dụng tiếng Nga không nhất thiết là văn chương Nga như chính các tác phẩm của ông đã chứng minh. Ông là một trong những nhà văn Ukraine có tác phẩm bán chạy viết bằng tiếng Nga nhưng ông là nhà văn Ukraine. Sự phân biệt này rất quan trọng, đặc biệt để chống lại khái niệm “Russian World” (Thế Giới Nga) của điện Kremlin. Khái niệm này gộp chung người Nga (Russian) và “những người nói tiếng Nga” (Russian-speaking compatriots) vào một giỏ.

Kurkov cho rằng văn chương sử dụng tiếng Nga ở Ukraine có hai đặc điểm:

– Nó phản ảnh hiện thực xã hội và văn hóa Ukraine, nó kể ra những câu chuyện hoàn toàn khác với thứ văn chương của Liên Bang Nga. Điều này có lẽ giống như người Québec (Canada): viết văn bằng tiếng Pháp nhưng không thuộc về văn chương Pháp; hay cũng giống văn nhân Việt ngày xưa: làm thơ chữ Hán nhưng không thuộc văn chương Trung Hoa.

– Về mặt ngữ học cũng như về mặt văn hóa, ông phân biệt hai loại tiếng Nga: tiếng Nga-Nga (Russian-Russian) là tiếng Nga thuần túy (của người Nga chính gốc); và tiếng Nga-Ukraine (Ukrainian-Russian) là tiếng Nga của người Ukraine. Ukraine có phiên bản riêng của tiếng Nga, khác hẳn với chính tiếng Nga. Tiếng Nga-Ukraine phát triển dưới ảnh hưởng của nhiều ngôn ngữ khác (Hung, Ba Lan, Lỗ Mã Ni, Slovak…) mà ông gọi là “Ukrainianisms” (ngôn ngữ được Ukraine-hóa). Nó không những khác về từ vựng, mà còn về ngữ pháp (syntax) và ngữ âm (phonetics). Điểm này phần nào tương tự như sự khác biệt giữa tiếng Hán và tiếng Hán-Việt chăng?[23]

Theo Kurkov, nhiều tác giả Ukraine viết bằng tiếng Nga nhưng tác phẩm của họ có gốc rễ sâu trong ngữ cảnh văn hóa Ukraine. “Không phải tất cả những gì viết bằng tiếng Nga đều thuộc về văn chương Nga, hoặc thuộc về (nước) Nga. Những nhà văn Ukraine viết tiếng Nga không viết về người Nga mà về người Ukraine,” theo ông. Chẳng hạn, tác phẩm Death and the Penguin (1996) của ông viết bằng tiếng Nga, nhưng nhà xuất bản Moscow chỉ đồng ý xuất bản nếu ông thay khung cảnh của truyện từ Kyiv bằng Moscow, bởi vì theo họ, chẳng người nào ở Moscow muốn đọc về đời sống ở Kyiv. Ông không chấp nhận thay đổi và giao tác phẩm này cho nhà xuất bản ở Ukraine. Tương tự, Volodymyr Rafieienko, một nhà văn Ukraine viết tiếng Nga khác, vốn cư ngụ ở Donetsk, cho biết tác phẩm của ông viết về hiện thực Ukraine chứ không về hiện thực Nga. Khi chiến tranh ly khai xảy ra, tách Donetsk khỏi Ukraine, ông chọn sống ở Ukraine hơn là ở Nga.

Kurkov đề nghị thành lập một viện nghiên cứu sự khác biệt ngữ học giữa “Ukrainian-Russian” và “Russian-Russian”, khởi đầu bằng cách phân tích các tác phẩm của những nhà văn Ukraine viết tiếng Nga và tìm hiểu cách sử dụng riêng biệt của thứ tiếng Nga mà người Ukraine dùng. Mục đích cuối cùng là phải đòi lại cho Ukraine thứ văn hóa sử dụng tiếng Nga của nó (should take ownership of its Russian-language culture). Đồng thời phải thừa nhận những ngôn ngữ khác nằm trong văn hóa của mình, kể cả tiếng Nga.

Quan điểm của Kurkov bị cả hai phía chỉ trích. Phía thân-Nga thì cho rằng nghiên cứu phiên bản Ukraine của tiếng Nga là một “philological fantasy’ (ảo tưởng ngữ văn). Ngược lại, phía thân-Ukraine thì cho rằng Kurkov ủng hộ một hình thức tân-Nga-hóa (a new form of Russification).

*

Quả là rối rắm!

Tính cho đến hôm nay (8/3/2022) khi tôi đang viết bài này, cuộc xâm lăng Ukraine của Nga đã diễn ra gần hai tuần, đẩy đất nước Ukraine an bình càng ngày càng chìm trong khói lửa, chết chóc và tàn phá. Trước sự chống đối của toàn thế giới và trước sức kháng cự anh dũng và bền bỉ của chính quyền và quân đội Ukraine, quan đội Nga đã chững lại, nhưng chưa có dấu hiệu gì cho thấy Putin lùi bước. Có thể tìm thấy lý do ngay trong đầu óc của người lãnh đạo nước Nga hiện nay.

face paint ukraine and russian flags

Một người đàn ông vẽ màu cờ Ukraine xanh lam và vàng trên khuôn mặt và một phụ nữ với màu cờ Nga như trái tim tan vỡ tham dự cuộc biểu tình chống lại cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine. (Ảnh AFP)

Để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Ukraine, tổng thống Nga Vladimir Putin, trong bài viết dài “On the Historical Unity of Russians and Ukrainians” vào ngày 21/7/2021 (đã nêu lên từ đầu bài) của ông,[24] đã trưng dẫn nhiều dữ kiện lịch sử để chứng minh (trước) rằng Nga không “xâm lăng” Ukraine, mà chỉ tiến hành một “chiến dịch đặc biệt” để “làm tròn nhiệm vụ” của người Nga ở Ukraine. Theo Putin, Ukraine và Nga đã phát triển như là một hệ thống kinh tế qua hàng thế kỷ với nhiều thành tựu. Nhưng do tách rời khỏi Nga nên niềm hãnh diện của Ukraine mà cũng là niềm hãnh diện chung của toàn thể Liên Bang không còn nữa. Vì thế, “Hôm nay, Ukraine trở thành một xứ sở nghèo nhất của châu Âu.” (…) “Chính nhà cầm quyền Ukraine đã phung phí và phá hỏng những thành tựu của nhiều thế hệ.” Ông cho rằng các nước phương Tây đã trực tiếp can thiệp vào công việc nội bộ của Ukraine và hỗ trợ một cuộc đảo chánh. Cuộc đảo chánh này và những hành động kế tiếp của nhà cầm quyền Kyiv đã kích động sự đụng độ và nội chiến. Từng bước một, Ukraine bị lôi kéo vào một trò chơi chính trị nguy hiểm nhằm biến Ukraine thành một sức bật chống lại nước Nga. Nhà cầm quyền Ukraine tìm cách “viết lại lịch sử, loại bỏ đi những gì vốn đã kết hợp chúng ta,” theo ông. Kết luận bài viết, Putin nhắc lại, “Tôi tin rằng chủ quyền thực sự của Ukraine chỉ có thể có được khi cùng cộng tác với nước Nga. Cùng đứng với nhau, chúng ta luôn luôn đã và sẽ nhiều lần mạnh hơn và thành công hơn. Bởi vì chúng ta là một dân tộc.”[25] (tôi nhấn mạnh).

Ngoài những dẫn chứng về lịch sử, Putin cũng nêu lên vấn đề ngôn ngữ để chứng minh luận điểm của mình. Chữ “Ukraine”, theo Putin, được sử dụng trong ý nghĩa của một từ ngữ Nga cổ là “okraina” tìm thấy trong những văn bản từ thế kỷ 12, có nghĩa là “vùng ngoại biên” quy cho các vùng đất biên giới. Ngoài sự tương đồng về đức tin, truyền thống văn hóa, và “Tôi [Putin] nhấn mạnh một lần nữa rằng – tương đồng ngôn ngữ”, nên Ukraine không thể tách rời khỏi Nga. Putin không ngần ngại vơ luôn những nhà văn và nhà thơ yêu nước Ukraine như Ivan Kotlyarevsky, Grigory Skovoroda, và cả thi hào Taras Shevchenko vào với Nga. “Tác phẩm của họ là gia tài văn hóa và văn chương chung của chúng ta. Taras Shevchenko làm thơ bằng tiếng Ukraine và văn xuôi chủ yếu viết bằng tiếng Nga.”[26] Chả thế mà, ông không ngại ngần quả quyết, “Tất cả những gì kết hợp chúng ta lại bây giờ đang bị tấn công, mà trước hết và trên hết, chính là tiếng Nga.”

Trong bài viết “There is no Ukraine”: Fact-Checking the Kremlin’s Version of Ukrainian History”, tiến sĩ Björn Alexander Düben, hiện đang giảng dạy tại đại học King’s College London, đã phản bác các luận điểm của Putin. Theo ông, ngôn ngữ riêng biệt của Ukraine đã bắt đầu xuất hiện ngay trong thời gian cuối cùng (thế kỷ 13) ở Kievan Rus, quốc gia cổ của Ukraine. Và sau này, bất chấp nỗ lực liên tục và có hệ thống của các nhà cầm quyền đế quốc Nga nhằm thủ tiêu văn hóa và ngôn ngữ Ukraine, một ý thức quốc gia riêng biệt xuất hiện và củng cố trong suốt thế kỷ 19, nhất là trong giới trí thức và ưu tú, những người đã thực hiện nhiều nỗ lực khác nhau nhằm nuôi dưỡng và bảo tồn ngôn ngữ Ukraine.[27]

Không khác lắm với Björn Alexander Düben, qua một bài viết khác xuất hiện trong trang mạng Conversation, “Ukrainian and Russian: How Similar Are The Two Languages?,” tác giả Neil Bermel cho biết là tiếng Nga và Ukraine, theo cách tính của những nhà ngữ học, chia xẻ 55% từ vựng, nhưng không đủ để xem chúng là một ngôn ngữ, hay tiếng này là phương ngữ của tiếng kia. Ngay từ lúc Nga kiểm soát Ukraine vào thế kỷ thứ 18, tiếng Nga và tiếng Ukraine đã không còn liên hệ chặt chẽ với nhau nữa. Hai thứ tiếng khác biệt nhau nhiều hơn cái được Putin gọi là chỉ là những khác biệt ngôn ngữ vùng (regional language peculiarities), xuất hiện cả ở từ vựng cũng như phát âm và văn phạm. Bằng cách tìm kiếm sự “thống nhất” trong ngôn ngữ giữa Nga và Ukraine, Putin hình thành một lập luận cho phép nước Nga có quyền can thiệp vào cái mà ông ta khẳng định đó là “không gian Nga” (Russian space). [28]

Quả thật là có một cuộc “nội chiến” ngôn ngữ giữa tiếng Ukraine và tiếng Nga. Nhưng đó sẽ không phải là cuộc chiến đấu một còn một mất mà là một tiến trình tất yếu tìm kiếm và khẳng định bản sắc của Ukraine trong chiều dài lịch sử của nó. Ukraine sẽ tồn tại như một quốc gia độc lập với ngôn ngữ riêng biệt của nó, bất chấp mọi ý đồ của Nga muốn tiếp tục thống trị Ukraine như các chế độ Nga Hoàng và đế quốc Liên Xô đã làm trước đây. Cuộc chiến đấu kiên cường hiện nay của chính phủ và nhân dân Ukraine tự nó là một phản bác hùng hồn luận điểm “On the Historical Unity of Russians and Ukrainians” của Vladimir Putin!

Trần Hữu Thục

(3/2022)

______________________

Tài liệu tham khảo:

1. Björn Alexander Düben“There is no Ukraine”: Fact-Checking the Kremlin’s Version of Ukrainian History(Web The London School of Economics and Political Science/LSE)

2. Dmytro Cyzevskyi, “A History Of Ukrainian Literature (From The 11th To The End Of The 19th Century)”, bản dịch tiếng Anh của Dolly Ferguson, Doreen Gorsline, và Ulana Petyk, Second Edition, 1997, nxb The Ukrainian Academy of Arts and Sciences and Ukrainian Academic Press New York and Englewood, Colorado.

3. Internet Encyclopedia of Ukraine (Literature)

4. Ukrainian Literature, https://www.britannica.com/art/Ukrainian-literature

5. Dylan Carter, Ukraine’s linguistic & cultural revival overcomes repression

6. Ukraїner, What is the Ukrainian language?

7. Mansur Mirovalev, Language in Ukraine: Why Russian vs. Ukrainian divides so deeply

8. Natalka SniadankoLiterature as last bastion

9. Volodymyr Yermolenko (biên tập), Ukraine In Histories And StoriesUkraine In Histories And Stories(Essays By Ukrainian Intellectuals), Ukraine World (UW), Kyiv 2019.

10. Maria MontagueUkraine’s distinctive Russian-language culture: an evening with Andrey Kurkov

11Neil Bermel, The Conversation, Ukrainian and Russian: how similar are the two languages?

12. Vladimir Putin, On the Historical Unity of Russians and Ukrainians

 


Chú thích:

[1] Wikipedia.

[2] Vladimir Putin, On the Historical Unity of Russians and Ukrainians

[3] “During the recent Direct Line, when I was asked about Russian-Ukrainian relations, I said that Russians and Ukrainians were one people – a single whole.”

[4] Các tổng thống Ukraine từ 1991- 2022: Leonid Kravchuk, Leonid Danylovych Kuchma, Viktor Andriyovych Yushchenko, Viktor Yanukovych, Oleksandr Turchynov (quyền tổng thống), Petro Poroshenko, Volodymyr Zelensky (từ 5/2019)

[5] Internet Encyclopedia of Ukraine (Literature)

[6] Dmytro Cyzevskyi, “A History Of Ukrainian Literature (From The 11th To The End Of The 19th Century)”, bản dịch tiếng Anh của Dolly Ferguson, Doreen Gorsline, và Ulana Petyk, Second Edition, 1997, nxb The Ukrainian Academy of Arts and Sciences and Ukrainian Academic Press New York and Englewood, Colorado , tr 432.

Tham khảo thêm Internet Encyclopedia of Ukraine (Literature)

[7] Ukraine Literature

[8] The ‘Founder of the Nation’ is neither Prince nor Tsar, nor philosopher, but rather a poet, Taras Shevchenko”

Dylan Carter, Ukraine’s linguistic & cultural revival overcomes repression

[9] Ukraїner, What is the Ukrainian language?

[10] Dylan Carter, Ukraine’s linguistic & cultural revival overcomes repression

[11] Dylan Carter

[12] Dylan Carter

[13] Xem Neil Bermel trên trang The Conversation, Ukrainian and Russian: how similar are the two languages?

[14] Dylan Carter

[15] Mansur Mirovalev, Language in Ukraine: Why Russian vs. Ukrainian divides so deeply

[16] Mansur Mirovalev

[17] Nina JankowiczThis Ukrainian presidential candidate is challenging language divisions with a message of unity

[18] Mansur Mirovalev

[19] Natalka SniadankoLiterature as last bastion.

[20] Volodymyr Yermolenko (biên tập), Ukraine In Histories And StoriesUkraine In Histories And Stories(Essays By Ukrainian Intellectuals), Ukraine World (UW), Kyiv 2019, tr. 180, 181

[21] Volodymyr Yermolenko, tr 65, 66.

[22] Maria MontagueUkraine’s distinctive Russian-language culture: an evening with Andrey Kurkov

[23] Câu hỏi đặt ra như một gợi ý. Người viết bài này không rành về ngữ học.

[24] Vladimir Putin, On the Historical Unity of Russians and Ukrainians

[25] ‘Together we have always been and will be many times stronger and more successful. For we are one people.” (V. Putin)

[26] Ivan Kotlyarevsky, Grigory Skovoroda, and Taras Shevchenko played a huge role here. Their works are our common literary and cultural heritage. Taras Shevchenko wrote poetry in the Ukrainian language, and prose mainly in Russian.

[27] Björn Alexander DübenThere is no Ukraine”: Fact-Checking the Kremlin’s Version of Ukrainian History(The London School of Economics and Political Science/LSE)

[28] Neil Bermel, The Conversation, Ukrainian and Russian: how similar are the two languages? 

Thursday, March 17, 2022

80 năm Bài ca hoài Tố / Trần Mạnh Toàn

Dẫn - 80 năm là khoảng thời gian ước lệ. Một số bài ca thuộc 10 bài trong tập Rừng Phong như bài ca Sông Dịch mà sự ra đời được xác định rõ rệt vào năm 1943 theo nhu cầu làm khai từ cho vở kịch Kinh Kha của Vi huyền Đắc, bài ca Dị Hỏa ra đời trong khoảng nửa sau thập niên 40 của thế kỷ trước, còn các bài ca khác thì thời điểm nhà thơ họ Vũ đặt bút có thể trong lúc ở vùng quê lánh nạn hay đã trở về thành. Điểm chung nhất của 10 bài có lẽ là bầu khí bất an của thế giới bên ngoài xâm chiếm vũ trụ của  hồn thơ khiến cho trong cả 10 bài, tác giả phải mượn cái giọng hào sảng của bài ca để tái lập thế quân bình đang nghiêng ngả trong lòng. 10 bài ca làm nên một trường thành ngăn cản lớp mây thành giúp Vũ ôm nốt giấc mơ còn sót lại với tang thương. Ngay cả những lúc tưởng như Thơ đã giành lại được hùng khí lẫm liệt, thực ra cũng là phút thăng hoa của ngôn ngữ hòa quyện tinh anh của hồn thơ.”Một nét dao bay ngàn  thuở đẹp / dù sai hay trúng cũng là dư.”

 Bài ca hoài Tố là một trong mười bài ca trong Rừng Phong ( Phạm văn Tươi, Sài gòn, 1954) nhưng chắc chắn không vì sự có mặt cho đủ số mười bài.

Nhan đề cũng không gây ngạc nhiên vì nấm mộ lòng còn chưa xanh ngắt cỏ, mối bi thương chưa đủ năm tháng để hoàn táng theo người. Nỗi nhớ này trở thành khởi điểm cho nỗi nhớ thường kỳ. Tháng sáu hoán chuyển thành mùa nhớ trong năm, trắc nghiệm lòng thử thách với đất trời về một mạch sầu không vơi theo năm tháng. Bài ca hoài Tố là nỗi nhớ thăng hoa bằng ngôn ngữ của Thơ với lượng bao dung đóng góp của người chịu nạn. Nỗi nhớ được truyền thừa, một hình thức di lưu, mà thời gian làm nhiệm vụ lập thành chu kỳ. Từ Rừng Phong đến Hoa Đăng ( Phố Cũ), Trời Một Phương ( Ấm Lạnh), Cành Mai Trắng Mộng ( bài thơ mang tên nhan đề tập thơ và Gấm Hoa) và trong Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau ( Bài Thơ Hàng Cỏ và Tố Của Hoàng Ơi! )

Riêng bài Tố Của Hoàng Ơi, viết 12.6. Nhâm Tý 1972 mới là chung khúc của dòng thơ hoài Tố, là hạt lệ “giải oan” cuối tống tiễn sau khi tìm được hướng siêu thoát cho cuộc tình.(1) Còn Vườn Trắng Thơ Vàng viết vào mùa nhớ năm sau, 12.6.73 ( gp Văn xuân Bính Tý 1974) đã lạc ra ngoài vùng tưởng tiếc, và chỉ là lời trần thuật chuyện tình những mong được hậu thế đoái hoài hoặc nâng niu như một thiên tình sử. “ Ta ngừng lại cho xong, ta nằm xuống cho rồi / đời không ai làm Bóng làm Vang thì cũng thôi !

Giọng điệu như hờn-lẫy thác lời thi nhân khiến người đời nay nghĩ đến  không chỉ là cái duyên của người trong cuộc thuật lại chuyện lòng. Những dòng khúc nôi lê thê  kể chuyện tình 30 năm trước ( 1973-1943) dĩ nhiên vắng hẳn cái u uất thường gặp, ít ra là những lúc nỗi-buồn-đã- nhân-hai cùng thân thế. Đời vẫn gần thêm cửa huyệt / men chiều nắng sớm đơn côi ( Gấm Hoa)

Mạch sầu nếu không khơi dậy thì ít nhất nỗi đau đã được siêu thoát từ năm trước cùng với tiếng thổn thức dành cho điều vĩnh quyết

giây phút cũng tan thành biển lệ

trả cho cát bụi nhé Kiều Thu !

sau khi

cùng nhịp tim trôi vào bất tận

không-ngày-không-tháng-không-bơ-vơ

 ( Tố Của Hoàng Ơi, viết 12.6.1972)

Hướng siêu thoát của cuộc tình mang tính chất “đốn ngộ” về lẽ có-không của  vạn hữu hiển nhiên là sự chiến thắng hay vượt trội của tri thức nhà thơ. Nhưng dường như hướng giải thoát cho mối tình vô vọng vẫn chỉ là kết quả của sự mời gọi của thời đại trong đó khuynh hướng xuất thế và xả bỏ ràng buộc là một hướng đi lên của tư tưởng lẫn con người.

Những bi thương lẽ ra là thứ còn sót lại sau khi tồn tại sau ngần ấy thời gian lại hiển hiện như dòng lệ nóng hổi bên người, vằng vặc trong lòng như ánh trăng thề dạo nọ. Đã trở nên chướng ngại cho ước mơ siêu thoát cho cuộc tình.

Đó là dung lượng nhớ nhung mà dĩ vãng chế ngự đời và sự thua thiệt của thi nhân giữa đời đã khiến thơ giúp người hiển lộng dài lâu trong cõi người đạt tới.

Trong bài ca, nỗi nhớ người dằng xé thi nhân giữa nỗi đau về cái không còn và niềm tin về cái sẽ tái sinh. Bài Ca Hoài Tố, trước hết, là một vinh khúc cho tình trước khi là chiếc cầu nối giữa buồn thương trong Mười Hai Tháng Sáu với nỗi tiếc nhớ không nguôi. Bài ca hoài Tố là khúc ca mở đầu cho tình nhớ, chọn hằng năm làm việc “tảo mộ” cho tình,  một việc không đơn thường khi thi nhân còn mang theo hoài bão tìm kiếm một hướng giải oan cho cuộc tình lỡ.

Thi nhân đã dành tình vô lượng cho thơ nên thơ vì thế, đền đáp không kém cho tình. Đến mức Nguyễn Mạnh Côn nghĩ rằng, " mối tình với Kiều Thu mà sự tiếc thương có vẻ "thơ" hơn có vẻ "thực." (2)  Một cách nói để ngờ rằng thơ đã lấn át vai trò đáng ra của trái tim cùng nỗi đau của nó.

Thực ra, bằng vào những bài thơ viết về mối duyên đầu, thi nhân đã tấn phong tình trước khi dành cho đối tượng gần gũi nhất trở nên một biểu trưng. Tình không còn giữ vai trò cảm hứng cho thi nhân mà cùng với thơ bước vào thế giới mông mênh được thi nhân mở cõi. Nỗi xót xa đòi đoạn đã vượt qua thời là báu vật của một người để trở nên gia tài của thơ dưới tay hào phóng của người thi sĩ. Thơ ta chẳng viết cho đời. (3) Như lời thi nhân đã nguyện, thơ Vũ đã có đời sống riêng khi ra đời, bay lên cao cùng mây hay sống đời lặng lẽ của hạt móc đêm, mang theo tinh anh của ngôn ngữ và khí thiêng của nơi ra đời hòa trộn.

Mùa đã sắp thu rồi...

" Mùa đã sắp thu rồi, trăng ướt sương

Nến lụi chiêm bao, nằm xa nhớ thương."

( Bài Ca Hoài Tố, Rừng Phong)

Khoảng thời-gian mang tên người cũ đã thành một chiều tưởng-tiếc của không gian ba chiều. Thời gian - mùa Thu - chỉ còn là cái cớ để nỗi nhớ được đặt tên vì thực ra niềm hoài Tố đã thay thế trọn vẹn cái ủ ê rười rượi của mùa thứ ba trong năm. Mùa thu đã là mùa hoài Tố. Bằng vào nỗi nhớ, thi nhân đã gọi mùa về trước cả lúc thu sang. " Mùa đã sắp thu rồi" là lúc thi nhân thẫn thờ đón một mùa-nhớ-mới khi mùa-nhớ-cũ chưa qua; thương nhớ đã kết tầng vì giới hạn của mùa thu ba tháng. Mùa thu có thực sự khai mào cho nỗi nhớ như nỗi lòng của câu thơ. Không. Nỗi nhớ khiến trọn năm chỉ thu gọn trong mùa thu vĩnh quyết. Điều mà nhiều năm sau, thi nhân mới thổ lộ chân lý của riêng người. Đã tháng nào không tháng 6 chưa ? (4)

Ngô đồng nhất diệp lạc. Xưa, người trước được gợi nhớ mùa thu chỉ bằng chiếc lá lìa cành. Vũ đã khắc khoải thấy mùa về khi nỗi nhớ chưa qua. Mùa thu của năm tháng trơ trọi biết bao khi không được mang theo nỗi nhớ của thi nhân. Không chỉ bằng với thơ, Vũ đã có thế giới của riêng mình và thời gian được thiết lập với kích thước riêng là nỗi nhớ mông mênh, điều mà cũng chỉ thời gian sau, thi nhân mới hé lộ. Không-ngày-không-tháng-không-bơ-vơ. (5)

Nỗi niềm hoài Tố đã khiến Vũ xóa bỏ được mối ràng buộc của không gian ba chiều vốn đã khép chặt với thi nhân. Vũ đã hoàn tất điều mà nỗi nhớ khiến người khắc khoải bấy lâu và Bài Ca Hoài Tố là dấu vết của tháng ngày dằn vặt.

Thực ra, Bài Ca Hoài Tố vừa mở ra một vết thương sâu hơn trong lòng, sau vết thương mất mát, nhân đó chỉ ra, tuy mơ hồ, cách đóng lại mối thương tâm. Lòng hết trần gian, đời thôi năm tháng. Nhưng, tuyệt nhiên không phải là sự tự hủy, theo ý thi nhân. Đó là sự thăng hoa của nỗi- đau-một-đời cùng với đời thơ.

Ta quyết gặp chính em-mùa-thệ-ước. Sự thăng hóa của nỗi đau cùng với nghệ thuật đã khiến thi nhân thiết lập được một trật tự mới cho thế giới riêng. Ước mơ trọn vẹn thành sự thực bởi vì ước mơ ấy vẫn giữ được nguyên vẹn, trong trinh như buổi đầu.

 Rằm tuổi nguyệt tròn gương.

" Ôi tóc xõa buông mây, rằm tuổi nguyệt tròn gương"

( Bài Ca Hoài Tố, Rừng Phong)

Niềm hoài Tố đã đặt nàng vào vị trí tương quan với đất trời và những biểu tượng khả ái. Đã bao người cùng thế hệ đã đặt mối liên hệ với tình vào vị trí đối xứng thần linh. Nghìn trinh nữ khóc sầu trên vọng các. Gọi tên ta ngoài cửa biển U-Hồn.( Đinh Hùng, Cuồng Vọng.) Tình yêu cách điệu hóa đem lại hình ảnh mới cho chân dung của nhan sắc. Mây / tóc, tuổi rằm / nguyệt tròn gương. Những nhân tố của mùa thu được ân cần viện cầu để đối chứng cho sự trường tồn của một nhan sắc. Thiên nhiên không chau mày mà trái lại, thuận tình làm chứng cho một giá trị hình thành. Ôi, mây mùa thu, nguyệt mùa thu.

Điều ấy có nghĩa là tinh anh của một mùa thu tụ kết nơi nàng. Kiều Thu, chỉ là cách tấn phong nàng qua hình ảnh của mùa thu kiều diễm.

Tố của thi nhân đã được thương nhớ triệu vời như thử thách của lời vàng đá.

Tà nguyệt bạch lên sương

" Lại đã mười hai tháng sáu

Nghe mờ hận cũ hoa sen

Ngút ánh trăng phơi ngoài dậu

Bốn hiên khuya, tà nguyệt bạch lên sương."

( Bài Ca Hoài Tố, Rừng Phong)

Trăng trở thành khuôn mặt đa dạng nhất trong chuyện tình và lòng nhớ Tố. Vì trăng, có lúc, là hóa thân cõi lòng thi nhân, hằng đêm nguyện hướng về một phương đã định. Trăng là nguyệt khi rốn đợi đến trắng cả một mùa dài trông ngóng. Tà nguyệt bạch lên sương. Và, chỉ là trăng khi lẻ loi với bóng khuya. Ngút ánh trăng phơi ngoài dậu.

Nguyệt bạch của mỗi mùa thu đánh dấu một chu kỳ thương nhớ triền miên. Thi nhân thao thức đến phút ánh trăng tà dần loãng trong sương, nỗi nhớ vẫn còn nguyên khối. Nguyệt bạch của tháng sáu không đợi ngày đã vội xuất huyết theo mối tuyệt vọng của thi nhân. Giọt lệ chiều nay đẫm máu. Gọi hồn em ngày-chưa -tháng-sáu-mười-hai.

Nguyệt đã trắng vì đêm đã gần tàn bên thi nhân vắng giấc mộng đêm qua. Đêm trắng của thi nhân khiến trăng không xuống mầu. Nguyệt vẫn trắng như trang thơ bạch.

Trong thơ Vũ, trăng một lần nữa, đứng vị trí của tâm hồn, vị trí của trái tim, với sắc độ tương đương với tần số nhịp đập.

Hãy tưởng tượng Vũ gọi hồn thơ lên cao cùng vầng trăng mất máu nhợt nhạt của ngày 12 tháng 6. Cuộc gặp gỡ, nếu có, chỉ là cuộc tao ngộ giữa hai tâm hồn cách trở, giữa một khối tình si với một mối cảm thông.

Mảnh trăng mất máu đêm ấy báo trước sự vô tình của những lần chờ đợi, ngóng trông. Tấm lòng hoài Tố bao mùa qua không phai đã khiến mùa thu là mùa-hoài-Tố.

Ngày-chưa-tháng-sáu-mười-hai

" Tuổi thiêng rụng cánh thiên thần

Ôi thôi, còn chi? Em là ai

Giọt lệ chiều nay đẫm máu

Gọi hồn em ngày-chưa-tháng-sáu-mười-hai

Ta đã mất em rồi Kiều Thu ngày xưa

Hào quang đã phai rồi, tóc mun dòng thơ

Đã hết tìm em dù chỉ tìm trong mơ

Thuở trước tinh anh mà thể phách bây giờ."

( Bài Ca Hoài Tố, Rừng Phong)

Trong cuốn lịch treo giữa ngực của thi nhân, chỉ có một ngày duy nhất, 12 tháng 6.(6) Còn lại là những ngày trước hay sau cái mốc huyết lệ ấy. Thời điểm này, chỉ riêng về mặt văn chương, tưởng như đã lấy đi của thi nhân những tháng năm còn lại, hay, ở một khía cạnh khác, đã trao cho thơ trò chơi sinh tử.

Lấy tháng sáu mười-hai làm cái mốc duy nhất cho thời gian, điều đó cũng tương tự người quả phụ tự nhận mình lả kẻ vị-vong. Ý nghĩa của sự sống đã không còn trong sự có mặt nay thành thừa thãi. Ngày-chưa-tháng-sáu-mười-hai là thời gian còn lại của thi nhân, những ngày nhận ánh trăng bạch làm hồi âm cho cuộc đợi chờ vô hiệu.

So với với nỗi buồn tênh, bất bình, chán nản, thất vọng triền miên trước cuộc đời nghịch lý, sự dằn vặt đến héo hon lòng vì mất mát trên khiến thi nhân không ngại nhận hết thương đau.

Không chắc điều Nguyễn Mạnh Côn nghĩ rằng thi nhân đã thi hóa nỗi đau, cho dẫu tài tình. Nhưng, Bài Ca Hoài Tố nằm trong những thơ có thể làm sống lại cái mất tạm thời hay làm sống mãi cái mất vĩnh viễn.

Dầu ở khía cạnh nào, tháng-sáu-mười-hai, với thi nhân, vẫn là cái mất vĩnh viễn và không thể bù đắp nhưng thơ đã trao cho, không chỉ sự mất mát này, một phương vị mới. Và không chỉ trong Bài Ca này, người thơ đã mãn nguyện trong tinh thần phục sinh tình yêu, ngược với lẽ tự nhiên của sự mất còn. Tan tành cho tận nhập với hư vô. Lòng hết trần gian, đời thôi năm tháng.

Em-mùa-thệ-ước

" Ta quyết gặp chính em-mùa-thệ-ước

Con đường tận thế trăng lu

Vì ta vẫn là ta thuở trước..."

( Bài Ca Hoài Tố, Rừng Phong)

Thi nhân đã đi tìm người yêu dấu trong mơ. Tương tự cái cách bỏ ngỏ song the để ánh trăng dẫn lối từ trang liêu-trai mở sẵn. Lung linh nguyệt thắm vàng trang sách. Đợi chẳng bừng sen nhịp gót ai ( Chờ Đợi Vẫn Hoài Công, Rừng Phong.) Và, thấp thoáng việc đi tìm hình ảnh người xưa như sự khai quật một thánh tích. Thề xưa giở đến kim hoàn. Của xưa lại giở đến đàn với hương. ( Kiều, câu 2807-2808)

Vũ không ngại đã nặng lòng với người xưa cả tâm hồn lẫn con người thực. Đã hết tìm em dù chỉ tìm trong mơ. Thuở trước tinh anh, mà thể phách bây giờ.

Đây là chặng cuối của con đường thương nhớ, đánh dấu sự thất bại lớn nhất của thi nhân sau sự bó tay trước nỗi day dứt về một kiếp người lênh đênh thân thế. Ở một khía cạnh, chàng Kim của Kiều cũng thất bại trong ý định giữ lại trong tay thể-phách người yêu sau mười lăm năm bèo trôi sóng vỗ. Thương nhau sinh tử đã liều. Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình. ( Kiều, câu 3169-3170)

Có thể giải pháp về một giấc mơ tái hợp mà Tố Như ấp ủ và buộc Kim-Kiều chấp nhận, đã trở về làm xao động giấc mộng tìm kiếm của thi nhân, như ánh trăng khuya ấm dần lại trong đợi chờ.

Con đường tìm gặp là sự hủy thể để tái sinh. Trên nấm mồ của cuộc tình sẽ nẩy nở đóa hoa vĩnh phúc. Thi nhân khép cánh cửa trông chờ vô vọng và nhìn về phía chân trời xa, nơi có vầng đông. Mảnh trăng thệ-ước dằn vặt, vĩnh viễn ở phía sau chàng. Con đường tận thế trăng lu.  Thi nhân trên  con đường đích thực là đường về. Nơi chàng sẽ gặp lại người-của-thuở-ban-đầu, không phải là con người lưu lạc trong mối hận lòng mà chàng đã bấy lâu tìm kiếm

Hãy tự hủy đêm nay vào dĩ vãng

Tan tành cho tận nhập với hư vô

Lòng hết trần gian, đời thôi năm tháng

Ôi Kiều-Thu! Hồn em cũ ngây thơ

Ta quyết gặp chính em-mùa-thệ-ước

Con đường tận thế trăng lu

Vì ta vẫn là ta thuở trước...

Ánh sáng của ngày mới trở về với thi nhân là tia sáng ban mai của cảm thức, không hẳn làm cạnhết được huyết lệ của năm tháng khắc khoải trong đợi chờ, tìm gặp theo cách riêng của người thi sĩ. Nhưng, thật sự đã thôi thúc từ giã nỗi đau bấy nhiêu năm. Từ đó, chúng ta được nghe khúc ca tái tạo và hơn nữa một khúc tẩy oan cho chính nỗi buồn phiền đã mang nặng như từ tiền kiếp. Một mối tình si một mối thù. Giây phút sẽ tan thành biển lệ. Trả cho cát bụi nhé Kiều-Thu.(7)

Bài Ca Hoài Tố là tiếng hát đứng lên trong thương đau và tiếc nhớ. Từ vị trí người cất tiếng, nhìn xuống thấy thăm thẳm phiền muộn vô hạn chưa có hoàn cảnh được mở lời. Bài ca, khúc cuối, chưa thể là khúc dương hòa  nhưng mở ra một chương mới của một mối duyên dang dở và đợi chờ chuyển kiếp. (8)

 Chú thích

(1) Bài “Tố Của Hoàng Ơi” in lần đầu trong bán nguyệt san Văn, số 207, ngày 01.8.1972, tr. 1,2, sau được in lại trong Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, Rừng Trúc Paris, 1974. Nhưng chỉ trong Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, thời điểm sáng tác 12.6 Nhâm Tý 1972 mới được ghi thêm vào cuối bài. Ngoài ra, trong Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, các chữ “ ngày mười hai “, “tháng sáu”, “ba mươi năm lẻ” đều thay bằng con số.

 (2) Nguyễn Mạnh Côn, Nửa Thế Kỷ Làm Thơ Vũ Hoàng Chương, Văn, số 150, 15.3.1970, tr.81.

(3) Nguyện Cầu, Rừng Phong,

(4) " Năm 12 tháng, ai không biết !

      Đã tháng nào không tháng 6 chưa ?

      Tháng có 30 ngày để giết

      Ngày 12 vẫn sống như xưa."

      ( Vũ Hoàng Chương, Tố Của Hoàng Ơi, Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, Rừng Trúc, Paris,1974,  tr.21.

(5) Vũ Hoàng Chương, sđd. tr. 22.

(6) " Lịch treo giữa ngực kêu thành tiếng

   Chẳng tiếng nào nghe khác tiếng mưa"

 ( Vũ Hoàng Chương, Tố Của Hoàng Ơi, Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, Rừng Trúc, Paris, 1974, tr. 21.

 (7) Vũ Hoàng Chương, Tố Của Hoàng Ơi, Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, Rừng Trúc, Paris, 1974, tr. 22.

(8) Khúc Kiều đàn khi tái hợp. " Khúc đâu đầm ấm dương hòa / Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh. " ( Kiều, câu 3119-3200)

 TRẦN MẠNH TOÀN