1. Thơ
là biểu hiện và kết nối cảm xúc
Chúng
ta đang sống trong một thế giới mà con người ngày càng xa cách, tách ly nhau;
thơ ca là con đường cứu chuộc cuối cùng cho vấn nạn đó. Trong lúc sự hư ngụy,
giả trá được tâng xưng lên làm chân lý, thì thơ ca vẫn lặng lẽ nói lên Sự Thật.
Sự Thật của thơ ca là hy vọng cuối cùng cho con người tìm lại được sợi dây thắt
buộc mình lại với nhau sau những phân liệt tranh chấp và hận thù.
Thơ ca mở rộng ngôn ngữ, cho phép nhà thơ
giao cảm theo cách mà các hình thức khác – một cuộc trò chuyện thông thường, một
câu chuyện kể bằng văn xuôi, v.v. – không mang lại được. Chúng ta có thể sử dụng
thi ảnh và cảm xúc trong thơ để đạt đến mức độ giao cảm sâu sắc hơn, ngay cả
khi thơ không chứa đựng những mật ngôn ẩn giấu, những ý nghĩa đa tầng.
Nhiều nhà thơ đương đại
sử dụng tác phẩm của mình để nói lên các vấn đề công bằng xã
hội, phân biệt giới tính, xu hướng tình dục, chủ đề chính trị và phê phán văn hóa. Thơ có thể nâng cao nhận thức, kích thích tư
duy và truyền cảm hứng hành động cho những vấn đề quan trọng thuộc phạm vi chính trị-xã hội.
Thơ với tư cách là một
loại hình nghệ thuật tiếp tục mang lại niềm cảm
khoái thẩm mỹ. Việc sử dụng
ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh và âm thanh có thể tạo ra vẻ đẹp và gợi lên cảm
giác ngạc nhiên thích thú về nghệ thuật ngôn từ.
Thơ giúp bảo tồn di sản
văn hóa bằng cách truyền lại những truyền thống, câu chuyện và giá trị qua nhiều
thế hệ. Đồng thời, nó cũng cho phép đổi mới văn hóa, phản ánh bản sắc và trải
nghiệm đang phát triển của con người trong một thế giới toàn cầu hóa.
2. Làm
thơ là khám phá và bông đùa với ngôn ngữ
Thơ
là một lối viết đặc biệt, khác rất nhiều so với các hình thức viết khác. Tuy
nhiên, không có con đường đúng đắn duy nhất nào để trở thành một nhà thơ. Trong
bối cảnh văn hóa Việt Nam từ thời Trung đại, nhà thơ thường được xem trọng, vì
giới sĩ phu đào tạo trong môi trường Khổng-Mạnh phần nhiều chỉ làm thơ. Nhưng bước
sang thời cận và hiện đại, nhà thơ Việt Nam đã “thoát xác”, không còn mang nặng
tâm thức “văn dĩ tải đạo” nữa mà ngày càng giống các đồng nghiệp Tây phương của
mình.
Thơ
đương đại, Việt Nam nói riêng hay thế giới nói chung, là một loại hình nghệ thuật
cho phép người viết sáng tạo mà không phập phồng lo sợ phải làm thế nào cho hoàn
hảo, nhà thơ không cần lo lắng, phân vân về ý nghĩa. Một trong những tính cách
đặc thù của thơ là cho phép người viết bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc, ý tưởng, quan
điểm của mình bằng một đường lối trừu tượng, cách điệu hóa tối đa, nếu cần,
và không tuân theo các quy tắc viết “truyền thống”. Một nhà thơ, nếu hắn làm
đúng công việc của mình, sẽ khiến người đọc phải cố gắng tìm ra chính xác ý
nghĩa, mục đích hoặc cảm xúc được truyền tải là gì. Đây là một trò chơi, trò
chơi đoán xem cái gì nằm trong trí óc người làm thơ khiến hắn viết như thế, một
trò chơi thú vị.
Khi
làm thơ, cũng như hầu hết các nhà thơ, tôi bị cuốn hút vào một khoảnh khắc nóng
bỏng với một tứ thơ nào đó. Cái gì thôi thúc tôi viết bài thơ, tôi không thể
suy nghĩ rõ ràng, nhưng tôi cần thể hiện dòng ý thức của mình, càng nhanh càng
tốt, và chính những điều này khiến bài thơ cuối cùng trở nên thú vị. Thơ Siêu
thực, với “lối viết tự động” tuôn trào từ tiềm thức, vô thức, hay giấc mơ, đã đẩy
thơ ca đến một biên vực mới lạ, đầy hào hứng.
Thơ là một hình thức cho phép người viết bày tỏ
sự đau khổ, nỗi sợ hãi và lo lắng của mình mà không cần phải chuẩn xác, thậm
chí không mạch lạc ngay lần viết thử đầu tiên. Thơ cho phép người viết thể hiện
mọi điều nhỏ nhặt trong tâm trí mình trên giấy (hoặc màn hình máy tính), theo một
cách tiếp cận đơn giản. Lúc đó, mối quan tâm duy nhất của nhà thơ là hiểu được
suy nghĩ và xử lý cảm xúc của mình.
Sau
khi làm xong một bài thơ, tôi thường có thói quen quên nó và đi làm chuyện
khác, như ra ngoài đi bộ hoặc hẹn bạn bè đi quán uống cà phê. Sau vài ngày, đôi
khi cả tháng, tôi xem lại bài thơ đó với một góc nhìn mới mẻ. Giờ đây, tôi có thể chỉnh sửa cho trau
chuốt bài thơ, xóa bỏ sai sót, những sai sót tôi có thể mắc phải trong bản phác
thảo đầu tiên lúc tôi viết nó trong cảm xúc nóng hổi.
Chỉnh
sửa và biên tập xong, nhà thơ vẫn có thể giữ được giọng điệu nguyên thủy và duy
trì đúng ý nghĩa của nó. Cảm xúc nằm trên giấy, nhưng bây giờ nhà thơ phải trau
chuốt lại một số từ hoặc cụm từ nhất định để cảm xúc thực sự đến với người đọc.
Vẻ
đẹp của thơ nằm ở chỗ hầu hết được sáng tác trong cơn đồng thiếp, ngẫu hứng, từ
một phân cảnh đời sống buồn bã hoặc một nhận thức bất chợt tình cờ dẫn đến sự
suy ngẫm, thậm chí một cơn phẫn nộ, giận dữ, một niềm vui sướng hạnh phúc dạt
dào. Viết những câu chữ mạch lạc,
như trong một bài nghị luận, đòi hỏi phải suy nghĩ và cẩn trọng nhiều hơn.
Nhưng với thơ, mọi quy tắc ngữ pháp gần như bị bỏ qua, không có đường biên, không
có giới hạn cho sự phá cách. Trong thơ, sẽ không hề chi nếu người đọc tác phẩm
của bạn không hiểu rõ ý nghĩa bạn đang cố gắng truyền tải là gì. Thơ là một
hình thức viết mà người đọc có thể chấp nhận việc rút ra kết luận của riêng
mình và diễn giải tác phẩm theo cách riêng. Ở chừng mực nào đó, người đọc thơ
tiếp nối sự sáng tạo từ người làm thơ, thậm chí phủ lấp người làm thơ.
Nói
vậy bởi tôi đang nghĩ đến thơ của thi sĩ Nguyễn-hòa-Trước.
Thơ
Nguyễn-hòa-Trước được đặc trưng bởi sự tập trung vào tính sáng tạo của ngôn ngữ,
sự giải cấu trúc của cú pháp và ngữ pháp thông thường, đồng thời khám phá những
hạn chế và khả năng cố hữu của chính ngôn ngữ.
Thơ
ông thường sử dụng cú pháp rời rạc. Cấu trúc thơ phân mảnh, thách thức các hình
thức biểu đạt tuyến tính và tự sự thông thường. Sự phân mảnh phản ánh sự hoài
nghi đối với ý tưởng về một ý nghĩa mạch lạc, đồng thời nhấn mạnh quá trình đọc
thơ như một tương tác tích cực với ngôn ngữ. Người đọc thơ cùng lúc sáng tạo với
người làm thơ. Thơ có thể gãy đoạn, không dễ cảm nhận tức thời, không đi thẳng
từ trái tim người làm thơ sang trái tim người đọc, nhưng đó là sự gãy đoạn có ý
thức khơi gợi những khả thể mỹ học khác lạ trong một tương quan mở. Chính nhờ vậy,
ngôn ngữ trong thơ ông không bị lệ thuộc vào cái nghĩa, tức là cái tư tưởng
tiên nghiệm, để từ đó thơ thoát ra khỏi thân phận công cụ, không bị trì kéo bởi
trọng lượng khôn kham của sứ mệnh, và trở thành cứu cánh của văn học, của mỹ học.
Là
một thử nghiệm ngôn ngữ ở cấp độ vần/nhịp điệu, từ pháp, cú pháp và ngữ nghĩa,
nhà thơ thường sáng tạo những từ mới, sử dụng cách chơi chữ và vận dụng ngôn ngữ
để làm nổi bật những phẩm chất vật chất của nó. Sự đổi mới ngôn ngữ này nhằm mục
đích phá vỡ các thói quen đọc và hiểu.
Bởi
thơ Nguyễn-hòa-Trước xem ngôn ngữ như một đối tượng vật chất, có xu hướng khám
phá tính chất vật thể của nó cũng như cách thức nó định hình nhận thức và trải
nghiệm, nên nhà thơ quan tâm đến kết cấu, cú điệu và hình thức trực quan của
các từ trên mặt dệt bài thơ cũng như bối cảnh văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến
việc sử dụng chúng.
Theo lời chính nhà thơ thì “Viết là để
'ngôn ngữ hóa' cảm xúc và tưởng tượng của mình; mà hai thứ này thì cứ thay đổi,
biến chuyển tùy lúc. Do đó, chúng bắt buộc 'ngôn từ' phải tự biến hóa liên tục
theo.”
3. Miêu
thuật trong thơ
Nếu
là thiên tài như Nguyễn Du, bạn cứ nhẩn nha viết bài trường ca trên ba nghìn
câu lục bát miêu thuật một câu chuyện éo le, ngang trái nhiều nước mắt. Nhưng thật
may mắn cho chúng ta, những kẻ hậu bối tầm thường, vẫn có nhiều hình thức và loại
hình văn bản khác nhau có thể mang lại trải nghiệm, hoàn cảnh hoặc tình huống
cho cuộc sống. Bạn khao khát muốn kể ra sự thật đầy cảm xúc của câu chuyện hằng
ấp ủ trong lòng, bạn chỉ cần ghi lại những khoảnh khắc nhỏ và biến chúng thành
những khoảnh khắc quan trọng. Bạn kể một câu chuyện mà không cần trau chuốt xây
dựng từng chi tiết nhỏ. Đó là nơi thơ phát huy tác dụng.
Thơ có thể ngắn hoặc dài, tùy ý bạn. Bài thơ
Trái đất của thi sĩ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng
Ngọc chỉ vẻn vẹn có sáu từ. Tôi cũng nghe truyền tụng thi sĩ Nguyễn Đức Sơn có một
bài thơ tổng cộng ba từ “Hột thì le!”
Nếu đấy là sự thật thì bài thơ của Sơn Núi có lẽ là bài thơ ngắn nhất lịch sử
thơ ca! Tuy rất ngắn, nhưng cả hai bài thơ của hai thi sĩ (nếu có thể gọi đó là
“bài” thơ) đều trọn vẹn “miêu thuật” một cảnh huống hay một cảm xúc nào đó.
Chưa bao giờ người đọc đóng vai trò quan trọng hơn, bởi người đọc phải tiếp nối,
lấp đầy những phần trắng, phần trống, hở, của bài thơ. Các thể thơ haiku hay hokku của Nhật Bản cũng có tác dụng tương tự, nó yêu cầu sự tương
tác giữa văn bản thơ và người đọc để bật lên những điều thú vị nằm bên ngoài
thơ.
Điều
khiến thơ ca trở thành một loại hình nghệ thuật thiêng liêng là những câu chuyện
được kể có rất ít lời. Kỳ thực, kể một câu chuyện lý thú dưới ba trăm từ là một
tài năng ít người có được.
4. Hình thức bài thơ
Không giống như văn xuôi, thơ yêu cầu chúng ta chú ý đến ngôn ngữ không
chỉ từng câu, từng chữ mà còn từng âm tiết, từng âm thanh. Chính nhịp điệu và
âm nhạc của thơ đòi hỏi chúng ta phải lắng nghe, mở rộng các giác quan và nhận
thức cách chúng ta tiếp nhận ý nghĩa vào tâm trí mình.
Nhạc
tính và những khoảng dừng (như những dấu lặng trong âm nhạc) được chủ ý xây dựng
trong dòng ngắt quãng làm chúng ta chậm lại.
Thơ yêu cầu chúng ta không nhảy về phía trước mà ngừng lại nuốt vào từng
con chữ một để thẩm thấu trải nghiệm bàng bạc trong hồn thơ lai láng. Nó mời gọi
sự hiện diện. Nó tiếc rẻ sao đêm chóng tàn.
Hình thức và nội dung không thể tách rời trong một bài thơ. Một bài thơ
có ý nghĩa chính xác như những gì được biểu hiện trong hình thức của nó. Hình
thức là nội dung và nội dung là hình thức. Điều này tương tự như tính lưỡng
phân giữa tâm trí và thân thể con người.
Hình thức thơ của các nước Tây phương vào mấy chục năm giữa thế kỷ XX,
nhất là thơ Mỹ, lâm vào tình trạng quá độ. Nó biến thành ký họa. Nhưng chỉ sau
hai, ba thập kỷ tung hoành, nó lui vào bóng tối và ngày nay chỉ hiện hữu như một
cước chú trong các giáo trình học đường cho các học sinh, sinh viên tìm hiểu về
lịch sử thơ ca.
Sau
khi bài thơ hoàn tất, nó có thể mang bất cứ ý nghĩa gì. Hãy để người đọc tự giải
thích. Đó chính là điều khiến thơ trở thành một loại hình viết thú vị và bí ẩn.
Thơ là phiên bản giấc mơ của nhà thơ. Qua thơ của mình, nhà thơ có thể tạo ra
điều gì đó đẹp đẽ từ bóng tối mà họ có thể đang trải qua. Thơ mang lại cho người
viết sự nhẹ nhõm và sự thú vị cho người đọc.
5. Mục
đích của thơ là gì?
Ngày
nay, tính trung tâm văn hóa của thơ ca đã giảm sút đáng kể so với thời cách đây
vài thế kỷ. Vào thời của họ, những thi sĩ như Shelley và Lord Byron có địa vị gần
giống như các siêu sao nhạc pop, hay
diễn viên điện ảnh thời nay. Nhưng những niềm vui và bài học từ thơ ca, nếu có,
lại không giảm sút chút nào, và việc thể hiện rõ ràng lợi ích của thơ nhắc nhở
chúng ta thơ là gì và chúng ta là ai, bởi thơ giúp chúng ta bộc lộ chính bản
ngã mình.
Thơ
hiện hữu trong mọi giai đoạn, mọi tâm trạng, mọi trải nghiệm của cuộc sống.
Osip Mandelstam viết nguệch ngoạc những bài thơ trong ngục tù Gulag ở Siberia; Thanh
Tâm Tuyền vừa lao động khổ dịch tại những trại tù cải tạo Bắc Việt vừa lẩm nhẩm
những câu thơ trác tuyệt nhất của ông; Trần Mộng Tú vừa nấu cơm tối cho chồng
con vừa bật ra trong đầu những vần thơ nền nã. Thơ đi cùng chúng ta, gặp chúng
ta nơi chúng ta đang ở, dẫn chúng ta đến những bước tiếp theo. Trong cuộc đời
tôi, thơ luôn là người bạn đồng hành. Tôi đã viết những bài thơ trong những khoảnh
khắc đen tối nhất và hạnh phúc nhất đời mình.
Tôi
nghĩ chừng đó thôi đã đủ cho thơ ca có một chỗ đứng trang trọng và viên mãn
trong tâm hồn chúng ta.
6. Tại
sao chúng ta làm thơ?
Dù
đôi khi thấy khó khăn, chúng ta vẫn thấy được mối liên hệ giữa cái cụ thể và
cái thiêng liêng, giữa cái nhỏ nhoi và cái to lớn, cái gì chúng ta có thể biết và
cái gì chúng ta không thể lĩnh hội. Khi chú ý đến những mối quan hệ này, chúng ta cũng
chú ý đến những khoảng trống giữa các sự vật, giữa các từ, cái không gian im lặng,
cái không gian bí ẩn nơi những khả thể có thể xảy ra.
Không gian của khả năng
này chính là không gian của năng lượng sáng tạo, của tia lửa thiêng lóe sáng lên trong một giây
phút bất chợt, phù du. Và mặc dù chỉ đọng lại trong tâm tưởng ta
không quá một sát-na, nó chỉ
hướng cho ta đến không gian mà nó
mời gọi,
nơi sự sáng tạo thành hình. Đó là lúc thần trí tưởng
tượng dịch chuyển từ não thùy bên trái sang não thùy bên phải, thâm nhập vào
không gian của sáng tạo. Đây là không gian của
giấc mơ, của tiềm thức, của thần thoại, của thần cảm. Và không gian đó cũng
là không gian diễn ra sự thay đổi. Nó là không gian của tiếng
khóc nguyên sơ nhất của chúng ta – nỗi đau buồn, chấn thương,
niềm đau thể xác – tất cả đều là một phần
của không gian này và thường nằm ngoài ngôn ngữ. Đó
cũng là không gian của niềm vui lớn nhất, ham muốn tình dục, tình yêu, và là không
gian của chính sự thiêng liêng, của sự thần bí và kính sợ.
Điều thú vị là những
trải nghiệm cao độ nhất đưa ta ra ngoài ngôn ngữ. Và nghịch lý thay, sự chú ý
rất chặt chẽ đến ngôn ngữ mà thơ ca tạo ra lại đưa chúng ta vào trạng thái phi ngôn ngữ. Nó là khoảng
không trống
rỗng giữa các từ, trí tuệ của phi ngôn ngữ, cái mà nhà thơ Nguyễn Thị
Khánh Minh gọi là “phút mong manh giữa
những từ”.
“Hãy nói lên Sự Thật
nhưng hãy nói một cách nghiêng lệch.” Nữ sĩ Emily Dickinson thốt
câu nói nổi tiếng đó. Thường thì chính sự nghiêng lệch
của một bài thơ có thể đi đến sự thật một cách chính xác hơn. Mọi sáng tác đều
là một quá trình khám phá, đặc biệt là thơ. Chính hình thức này đã cho phép
chúng ta buông bỏ những cách nói hoặc suy nghĩ có tính thiên kiến, định
sẵn về sự vật và thử nghiệm
những hình thức mới, ý nghĩa mới. Chúng ta học hỏi thông
qua quá trình đọc và viết của chính mình.
Một
lý do ta làm thơ là để tuôn ra từ sâu thẳm bản ngã một số suy nghĩ, cảm xúc, hiểu
biết, câu hỏi, thậm chí một giai điệu nào đó mà bạn không biết là có trong bạn
hoặc được ai trên thế giới nói đến hay chưa. (Hãy quay lại câu nói của Milan
Kundera.) Các hình thức viết khác, như báo cáo khoa học, phân tích chính trị, thị
trường chứng khoán, báo chí, phần nhiều cố gắng nắm bắt và thông hiểu những điều
đã biết. Thơ là sự khai phóng cái gì đó trước đây chưa từng được biết đến và đặt
nó vào thế giới hữu hình. Bạn viết để mời gọi điều đó, để biến cái vô minh thành
một tập hợp những điều bất ngờ, và với may mắn, những điều không thể ngờ tới.
Hấp
lực của thơ thu hút những gì sâu sắc và những khả thể của thơ. Thơ cung cấp khả
năng mở rộng khẩu độ và tăng phạm vi tiếp cận. Chúng ta thường sống trong tình
trạng chính mình bị che khuất khỏi những người khác. Những yếu tố cô lập mang
tính xã hội: quy ước, phép lịch sự; và cá nhân: rụt rè, tự sợ hãi hoặc mù
quáng, mệt mỏi. Bước vào một bài thơ là chấp nhận rủi ro, chấp nhận cho bản ngã
chui ra khỏi cái vỏ bọc kín bưng xưa nay nó nằm bất động. Việc làm thơ sẽ loại
bỏ mọi biện pháp bảo vệ, để xem những bước tiếp theo sẽ như thế nào. Thơ là thủ
thuật của ngôn ngữ, trong đó nhà thơ vừa là ảo thuật gia vừa là khán giả. Làm
thơ có nghĩa là khám phá những điều mới mẻ trong cảm xúc và ý tưởng. Thơ thúc đẩy
sự biến đổi của hiện hữu. Trật tự cũ, dù thế nào chăng nữa, một bài thơ sẽ thay
đổi nó.
Thay đổi như thế nào thì chẳng hề có một công thức hay phương trình cho
ta tính toán những con số để xem đáp án sau cùng là gì. Mỗi nhà thơ là một cá
thể con người. Tôi không giống Khế Iêm hay Vương Ngọc Minh, tôi không có sự táo
bạo, liều lĩnh, “dám chơi dám chịu” như hai anh, và chắc chắn phong vị thơ tôi
không giống thơ hai anh. Sự thật là mỗi nhà thơ có một phong khí (mượn chữ của
nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc) khác nhau, không ai giống ai, và đó chính là nét đẹp
của thơ ca.
Yêu
cầu cốt lõi của nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, về hình dạng, tính đặc
biệt của trải nghiệm, được định vị bởi tâm hồn và trải nghiệm sống của người
sáng tạo ra nó. Cái tôi là, tôi sẽ chẳng bao giờ biến đổi được. Và điều tôi
luôn tâm niệm trong khi làm thơ là, “Hay mở cửa sổ rộng hơn vài phân cho thoải
mái”.
Những
gì chúng ta khao khát từ nghệ thuật là những điều còn thiếu sót trong cuộc sống
mà chúng ta đang cố sống sao cho ý nghĩa. Luôn luôn thiếu một cái gì đó, và bởi
thế việc sáng tạo nghệ thuật là vô tận. Nghệ thuật là con đường xuyên vũ trụ,
không bao giờ đến đích. Người làm thơ, hơn ai hết vốn biết rõ điều đó, nên hắn
chẳng bao giờ quan tâm đến sự thành công hay thất bại của mình.
Ngoài
ra còn có vấn đề kết nối. Bạn không thể dựng một thi ảnh, một ẩn dụ, một câu
chuyện, một cụm từ mà không nghiêng sâu hơn một chút vào thế giới được chia sẻ,
mà không nhận ra rằng sự cô độc được cho là của bạn ở mọi điểm trong chu vi của
nó đều chạm vào một số điểm khác. Sự hiện hữu của con người là một hữu-thể-tại-thế
như triết gia Martin Heidegger nhận định. Bạn không thể đọc một bài thơ, nhất
là một bài thơ hay, của người khác mà không nhận ra khuôn mặt của chính bạn
trong trải nghiệm của họ. Nghệ thuật cho phép chúng ta cảm nhận một cách sâu sắc,
chính xác và trìu mến hơn những gì hiện hữu xung quanh. Và nó mở rộng điều đó,
mở rộng chúng ta.
7. Tại
sao chúng ta vẫn làm thơ, khi không
còn ai đọc thơ nữa?
Vâng, chúng ta đang sinh sống trong một thời
đại mà mọi thứ di chuyển với tốc độ ánh sáng. Con người ngày càng bị cuốn hút
vào cái “hố đen huyền tẫn” không có lối trở ra, và các thứ không thiết yếu cho
cuộc sống tất bật với nhịp độ chóng mặt đều bị bỏ rơi lại đằng sau, thậm chí bị
ném vào bãi phế thải. Việc đọc sách là một trong những thứ bị vứt bỏ không
thương tiếc đó, nhất là đọc thơ, làm thơ.
Ngày nay con người chỉ đọc những thông tin trên mạng, mà nội dung những
thông tin ấy không lưu lại trong bộ nhớ của mình quá mươi giây đồng hồ để nhường
chỗ cho những thông tin khác khẩn thiết, nóng bỏng hơn. Thơ ca trong thời hiện
đại không còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống con người nữa, chẳng có gì
quá đáng nếu ta xem nó như là một di chỉ của nền văn minh nhân loại đã qua, nó
đã trở thành cổ tích.
Chưa hết, chúng ta còn đang sống trong một thời kỳ mà các cuộc khủng hoảng
trên thế giới hình như liên tục tiếp diễn: chiến tranh; khủng hoảng kinh tế,
chính trị; các băn khoăn về môi trường và biến đổi khí hậu; thậm chí cả những
thảm họa từ thiên nhiên như động đất và thời tiết cũng được khuếch đại trong mối
tương tác với một môi trường vốn từ lâu đã bị con người tha hóa biến đổi theo
chiều hướng xấu. Toàn những vấn nạn to lớn cho con người và thế giới tương lai.
Giữa bối cảnh đó, bạn có nghĩ rằng thơ ca và nghệ thuật nói chung có vai trò
trong phản ứng của chúng ta trước những điều này và trong tiến trình biến đổi lớn
hơn của xã hội?
Ở
Việt Nam tôi thường nghe người ta tranh luận về sứ mệnh thơ ca, nhưng đó là thứ
sứ mệnh làm thế nào để cõng “sông núi trên vai” (mà họ dịch là “mountain river on
the shoulder” [sic]) hầu đưa đất nước tiến nhanh tiến mạnh lên Xã hội chủ
nghĩa, chứ ít nghe ai nói về những vấn nạn của thế giới bạn nêu trên. Thực chất,
ở ngoài này, từ lâu đã xảy ra những cuộc tranh luận về các vấn đề này.
Thế nhưng mục đích của nghệ thuật có phải là
thực hiện những công việc to tát nằm ngoài sự tồn tại của chính nó không? Nghệ
thuật có thay đổi điều gì bởi sự tồn tại hay không tồn tại của nó? Có nên để
nghệ thuật khoác chiếc áo sứ mệnh nặng khôn kham lên thân thể ốm yếu, còm cõi đến
thảm thương của nó không? Câu trả lời chung chung là, dù nhìn dưới lăng kính
nào chăng nữa, tôi đều cho rằng nghệ thuật, nếu thực sự là nghệ thuật, phải là
động lực hướng tới những cái tốt đẹp.
Nhưng
nghệ thuật hoàn toàn mang tính vị lợi sẽ không phải nghệ thuật nữa, mà là quảng
cáo hay tuyên truyền. Thơ Chế Lan Viên viết vào thời kỳ chiến tranh Nam-Bắc
khích động thanh niên miền Bắc vào Nam chiến đấu “chống Mỹ cứu nước” là những
văn bản tuyên truyền, không hơn không kém! Không phải thơ, thậm chí, không phải
vè.
Nói
cho cùng, nghệ thuật, nhất là nghệ thuật thơ ca, sau khi mọi chuyện ồn ỹ lắng đọng,
vào cuối ngày chỉ để lại chút niềm vui nho nhỏ trong lòng người làm thơ và người
đọc thơ. Một chút giao cảm nào đó dấy lên, và đó là hạnh phúc. Nhưng ngay cả niềm
vui vô ích cũng không phải là tầm thường. Niềm vui chẳng có ý nghĩa trọng đại và
không “đạt được” gì cả, nhưng lại là sự mở rộng thước đo không thể thiếu trong
bất kỳ cuộc sống nào. Tại sao chúng ta muốn công lý, hay giảm bớt đau khổ, nếu
không phải vì sự gia tăng hạnh phúc đơn giản mà nó mang lại?
Nghệ
thuật không hẳn chỉ là vấn đề đáp ứng được cái đẹp, đem đến sự an ủi hay tìm lòng
bình yên, mặc dù điều đó có thể xảy ra và có thể được hoan nghênh. Nghệ thuật cũng
không hẳn để chỉnh đốn tính cách khiến cho cuộc sống tốt đẹp hơn, mặc dù điều
đó đã xảy ra ở chừng mực nào đó trong lịch sử loài người, có thể đang xảy ra và
tương lai vẫn có nhiều hứa hẹn. Tôi chỉ có thể nói một cách hết sức giản dị rằng
nghệ thuật tốt là nghệ thuật có khả năng điều chỉnh lại tầm nhìn hầu làm giảm bớt
sự loạn thị trong mắt chúng ta, giúp trái tim chúng ta đập cùng một nhịp đập với
thiên nhiên và người bạn đồng hành. Điều này tôi không giải thích được mà chỉ cảm
thấy trong mạch đập của mình khi đọc những bài thơ hay.
Tôi
không nghĩ thơ ca sẽ biến mất khỏi mặt địa cầu, mặc dù ngày nay nó co cụm lại
thành những cái “túi nhỏ”, trong đó các thi sĩ vẫn đắm chìm trong chữ nghĩa của
mình để bày tỏ điều gì đó, không nhất thiết phải bày tỏ với ai, mà với chính
mình. Những người làm thơ của thời đại hôm nay là những kẻ tự chọn đứng bên lề
xu hướng thời đại, nhưng không chịu từ bỏ quan niệm cố hữu vốn xem mục đích của thơ ca bao gồm
nhiều chức năng khác nhau, phản ánh khả năng thích ứng và sự phù hợp lâu dài của
thơ trong cuộc sống.
– Trịnh
Y Thư