MAN DI HOÁ BIÊN GIỚI PHÍA NAM TRUNG HOA ĐỜI MINH:
Việt Nam là một tỉnh ly khai hay một khu vực chưa
khai hoá
Nguyên tác:
De-civilizing Ming China’s Southern Border: Vietnam as Lost Province or
Barbarian Culture
Đối với giới nho
sĩ của các triều đại Trung Hoa trước đây, thung lũng sông Hồng và các vùng phụ
cận được nhớ tới như một nghìn năm do Trung Hoa kiểm soát (111 TCN đến 939 SCN)
vẫn còn thấm đẫm dù rằng người Việt đã giành được độc lập trong nhiều thế kỷ rồi.
Họ vẫn nhìn Việt Nam bằng câu mở đầu “An Nam 安南 trước kia được gọi là Giao Chỉ 交趾.
Trước đời Đường, họ bị Trung Hoa cai trị” như để nhắc lại thời kỳ gốc
gác vốn đã chinh phục họ.[1]
Vì chưng cả Giao Chỉ lẫn An Nam đều là tên gọi khu vực sinh sống của người Việt,
những tên đó khơi dậy thời kỳ mà Trung Hoa kiểm soát cơ cấu chính trị vùng đất
ngày nay là bắc Việt Nam.
Trong suốt mười thế
kỷ bị áp bức dài đằng đẵng không phải là không có những vụ chống đối. Cuộc nổi
dậy huy hoàng nhất là của hai chị em họ Trưng, Trưng Trắc 徵側 và Trưng Nhị 徵貳, người đã đứng lên chống lại các quan lại cai trị
của nhà Hán vào năm 40 CN. Ba năm sau, tướng nhà Hán là Mã Viện 馬援 dẹp được cuộc khởi nghĩa, xử tử hai
chị em và gửi thủ cấp của họ về kinh đô. Theo những nguồn sau này, Mã Viện đã dựng
những cột đồng để đánh dấu biên giới phía nam của đế quốc Trung Hoa. Những cột
đồng này là biểu tượng mạnh mẽ mặc dù các chi tiêt về vị trí, số cột được dựng,
và cả việc có hay không cũng không bao giờ được xác định.[2]
Tuy nhiên các cột đồng ấy đều được cả
Trung Hoa lẫn Việt Nam coi là thực, và được đánh dấu trên bản đồ. Cũng lạ lùng
thay, những dấu tích biên giới ấy, đúng ra phải rõ rệt và cố định thì lại di
chuyển lúc nơi này, lúc khi khác.
Nếu Mã Viện dựng cột
đồng để đánh dấu biên giới phía nam của đế quốc Hán thì những cột đó phải có vị
trí đâu đó gần Huế, hiện nay là ở miền trung Việt Nam. Quả thực, một trong những
nguồn sớm nhất đề cập đến những cột đồng này, bộ Tấn Thư của Trung Hoa vào thế
kỷ thứ VII, đặt vị trí cột đồng ở Nhật Nam 日南 là khu vực kiểm soát tận cùng ở phía nam của nhà Hán[3].
Tuy nhiên đến cuối thế kỷ thứ XV thì những
cột đồng lại nhảy lên phía bắc, gần nơi biên giới giữa Trung Hoa và Việt Nam
ngày nay. Một bộ bản đồ do triều đình Việt Nam biên soạn năm 1490 là Hồng Đức Bản
Đồ thì vẽ những cột đồng đó ở vùng duyên hải Việt Nam và Trung Hoa gần Móng Cái
ngày nay[4].
Vị trí này trùng khớp với bản đồ Trung Hoa vẽ năm 1551 trong Giao Lê Tiễu Bình
Sự Lược 交黎勦平事略 [5].
Giao Lê
Tiễu Bình Sự Lược
(Tủ sách NDC)
Hồng Đức Bản Đồ
Làm sao giải thích
được việc di chuyển 500 dặm lạ lùng này? Trong tài liệu tiếp theo đây, tôi (Kathlene
Baldanza) đưa ra một giả thuyết là giao thiệp Hoa – Việt đã trải qua một thay đổi
sâu xa từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI, trong triều đại nhà Minh
(1368-1644). Mặc dầu Việt Nam đã giành được độc lập từ Trung Hoa từ thế kỷ thứ
X nhưng vua Vĩnh Lạc nhà Minh (tức Minh Thành Tổ) vẫn ra lệnh xâm chiếm Việt
Nam vào năm 1407. Hai mươi năm sau quân Minh đã bị đánh đuổi mà không gặt hái
được lợi thế lâu dài nào. Thất bại hao tổn và đáng hổ thẹn này khiến cho họ phải
thay đổi không chỉ ở mặt chính sách mà còn ở cách các nho sĩ Trung Hoa giải
thích và trình bày về lịch sử. Việt Nam đã gia tăng xác định rằng lãnh thổ của
họ đứng ngoài sự kiểm soát của Trung Hoa, một sự thay đổi về quan niệm mơ hồ mà
giới sử-nho-gia sau này vẫn tiếp tục dùng những từ ngữ thời cố như Giao Chỉ, An
Nam hay những hình ảnh như cột đồng chép lại từ sách vở cũ. Trên thực tế, các
quan lại-nho sĩ đã tiếp tục sử dụng những biểu tượng và từ ngữ cũ để diễn tả một
tình hình mới.
Sau khi việc chiếm
lãnh An Nam không thành công, các hoàng đế và quan lại nhà Minh đành phải chấp
nhận một thực tế là Việt Nam là một quốc gia độc lập thuộc về nhà Lê, một triều
đình đánh bại quân Minh đồng thời cũng tiếp nhận các định chế chính trị của nhà
Minh một cách dễ dãi. Phải mất gần một thế kỷ thì các vua nhà Minh và triều thần
mới chấp nhận được những thay đổi trong liên hệ đó để sử dụng một ngôn ngữ
chính trị mới diễn tả sự việc đó – một ngôn ngữ định hình lại những cột đồng là
dấu mốc biên giới và loại Việt Nam ra, coi đó là một vùng man di nhằm kiến tạo
chia cách chính trị và văn hoá giữa hai nước. Đây là điểm nhấn mạnh rằng từ
quan điểm dân tộc Việt Nam cần thiết phải khai hoá sang một khu vực không thể
khai hoá được.
Thành thử, chính
xác ra là vào lúc đất nước Việt Nam trở nên tập quyền và tương đồng với cơ cấu
của Trung Hoa hơn thì dân tộc Việt Nam được miêu tả như khác biệt với Trung Hoa
từ cơ bản và vì thế không thích hợp để trở thành vùng đất của Trung Hoa. Công
tác man di hoá này là một nỗ lực xếp người Việt thuộc một nền văn hoá khác,
không phải là một đối tượng để đồng hoá mà để vạch ra một phân cách rõ rệt giữa
“ta và họ” và cũng là để tạo thành một biên giới chia cắt hai quốc gia. Nói
cách khác, việc tu từ này không phải chỉ là định kiến hay ngộ nhận mà là một
chính sách chiến lược có tính toán được vạch ra để hợp thức hoá những can thiệp
quân sự khi cần đến.
Trong nghiên cứu
sau đây, tôi (tác giả Baldanza) dùng ba sử liệu xếp theo thời gian để lần theo
sự phát triển này. Sử lệ thứ nhất tôi xem xét là vào đầu đời Minh, khi lúc đó
người ta vẫn coi Việt Nam như một tỉnh ly khai của Trung Hoa và do đó đây là một
khu vực mà họ có quyền lấy lại hay cần phải thu hồi. Thái độ đó đã đưa tới việc
Trung Hoa chiếm lãnh Việt Nam vào đầu thế kỷ XV. Lần thứ hai là thời kỳ giữa đời
Minh, khi nhà Lê của Việt Nam tiến hành những cải cách đã khiến cho Việt Nam
càng gần hơn mô hình Trung Hoa. Ngược lại với cho rằng đây là một công tác khai
hoá, những tương đồng trong định chế đã tạo ra sự khó chịu trong triều đình
Trung Hoa vì họ cho rằng một triều đình
phản chiếu ở bên kia biên giới đã công khai xác lập một “Nam đế” chứ không phải
là công nhận một “thiên tử nhà Minh” [6].
Lần thứ ba là vào thập niên 1540 khi việc thay đổi triều đại ở Việt Nam đã buộc
Trung Hoa phải sửa đổi lại chính sách với Việt Nam. Minh triều phải quyết định
có nên can thiệp vào nội bộ của Việt Nam hay không khi nhà Mạc lật đổ nhà Lê
vào năm 1527. Để đáp ứng với thách thức này, quan lại nhà Minh đã đưa ra một
cách tu từ mới miêu tả người Việt Nam là giống quật cường không phù hợp với lề
luật của Trung Hoa và như thế không nên can thiệp vào làm gì. Với sự nhận thức
giản dị là không thích hợp và cũng không nên chinh phục để đưa khu vực Việt Nam
vào lãnh thổ Trung Hoa, triều đình nhà Minh đã tái định hình quan hệ Hoa Việt để
cho phù hợp với những thực tế mới đưa đến việc đặt lại vị trí các cột đồng là địa
điểm giao lưu của hai quốc gia độc lập chứ không còn là nơi bành trướng tận
cùng của một đế quốc.
Sử lệ thứ nhất:
Việt Nam là một tỉnh ly khai của Trung Hoa
Những văn bản đời
Minh khi nói về Việt Nam cho thấy Việt Nam luôn luôn bị coi là một tỉnh của
Trung Hoa nay không còn nữa. Quan điểm đó không hoàn toàn đáng ngạc nhiên: giới
nho sĩ Trung Hoa luôn luôn quan tâm đến một nghìn năm Trung Hoa đã cai trị vùng
hạ lưu sông Hồng. Đối với một số người, quan điểm Việt Nam là một tỉnh đã đánh
mất đã khiến cho họ không coi việc chinh phục Việt Nam là xâm lăng mà chỉ là
đòi lại. Qua quan điểm này, Trung Hoa không tấn công một nước ngoài mà chỉ là
thu hồi lại biên giới cũ của đế quốc Trung Hoa. Một phần của kêu gọi này cho
các hoàng đế Trung Hoa là phải đưa biên giới phía nam về chỗ của các triều đại
của các hoàng đế danh tiếng trong lịch sử, đó là Hán Vũ Đế (trị vì từ 141-87
TCN) và Đường Thái Tông (trị vì từ 626-649 SCN).
Quan điểm Việt Nam
thuộc lãnh thổ Trung Hoa còn được củng cố thêm bởi chữ dùng để gọi dân tộc Việt
Nam. Cái tên Việt Nam chỉ được dùng từ thế kỷ XIX khi triều Nguyễn (1802-1945) [7]
đòi hỏi dùng làm quốc hiệu. Dưới thời Minh của Trung Hoa, người Việt được gọi bằng
hai cái tên, hoặc là người Giao hay một từ ngữ nặng phần chủng tộc hơn đó là
người Di. Các nguồn sử liệu Trung Hoa coi Việt Nam là một tỉnh ly khai thường gọi
dân tộc Việt Nam theo địa lý là đất Giao hơn là dùng chữ Di, gắn liền căn cước
của người Việt vào địa danh chứ không phải là khác biệt về văn hoá. Ngược lại,
những nguồn nhấn mạnh vào khác biệt văn hoá thì có khuynh hướng dùng chữ Di.
Đầu đời Minh là thời
điểm cuối cùng đã hành động dựa theo phần nào về quan niệm lịch sử rằng đồng bằng
hạ lưu sông Hồng là một phần của đế quốc Trung Hoa bị đánh mất. Ở Việt Nam vào
năm 1400, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Khi vua Minh Vĩnh Lạc (trị vì từ
1402-1424) nghe tin này, ông đã gửi một đạo quân sang tái lập con cháu nhà Trần.
Người thừa kế bị quân của họ Hồ phục kích giết chết ngay khi ông này vừa đặt
chân lên lãnh thổ Việt Nam. Khi nghe tin đó, vua Vĩnh Lạc được ghi nhận là đã
nói rằng: “Nếu chúng ta không diệt chúng thì quân đội còn để dùng làm gì nữa?”.
Ông lập tức gửi thêm quân sang dưới quyền chỉ huy của tướng Trương Phụ để trừng
phạt họ Hồ. [8]
Sau chiến thắng sơ
khởi ở Việt Nam, Trương Phụ gửi thư về triều đình Trung Hoa báo tin là đã sáp
nhập Việt Nam và cai trị như một tỉnh của họ:
…安南本古交州,漢唐僅能羈縻,宋元猶被侵侮。僭竊跳梁,狃於故習,雖知兵而致討,終叛服而不常,覆載不容,人神共憤。…
數百種雕題鴃舌之民,咸躋壽域,幾千里魚鹽繁衍之地,盡入輿圖。復隆古之封疆,布中華之禮制。
Thần Trương Phụ đã xem sách sử. An Nam vốn là Giao Châu, dưới đời Hán, đời Đường
thì triều đình lỏng dây cương, qua đời Tống, đời Nguyên thì họ lại sang xâm phạm
quấy phá theo thói nổi lên. Mặc dầu đã đưa quân sang trừng trị nhưng là giống
phản phúc bất thường, trời đất không dung, thần người căm hận …
… Vài trăm đứa xâm
trên trán và miệng lưỡi ríu rít đã bi đưa lên trời, vài ngàn dặm khu đánh cá,
làm muối đã nhập bản đồ, thu hồi phong cương cũ và vun trồng lễ chế Trung Hoa. [9]
Trương Phụ biết
khai thác lịch sử, trước hết ông ta xem lại những tài liệu về việc Trung Hoa
cai trị Việt Nam. Sau đó ông ta nhắc lại một số hình ảnh về tính cách của người
Việt Nam : chưa khai hoá (xâm mình, tiếng nói ríu rít như chim hót), tính tình
phản trắc và hay nổi loạn. Ông ta kết luận rằng cần phải tiến hành một công tác
khai hoá: sáp nhập vùng đất này và hướng dẫn họ theo phong tục Trung Hoa. Ông
ta cũng lưu tâm tới lợi ích kinh tế (một khu vực màu mỡ nếu sáp nhập vào bản đồ),
cũng như lý do đạo đức – gieo trồng văn minh Trung Hoa. Ngoài ra, Trương Phụ
cũng viết là có đến 1,100 nhân sĩ người Việt đã yêu cầu họ được thu nhập trở lại
vào nước Trung Hoa để cho thấy chính người địa phương cũng tán thành việc được
Trung Hoa cai trị. [10]
Quân đội Trung Hoa
nay biến thành một lực lượng chiếm đóng. Trung Hoa đã cai trị Việt Nam như là một
tỉnh của họ, tốn kém suốt hai mươi năm trước khi bị các lực lượng chống đối ở địa
phương đánh đuổi. Mặc dầu được một số thành phần trong xã hội Việt Nam ủng hộ,
trong khoảng 10 năm đầu của thời kỳ chiếm đóng thì lực lượng Trung Hoa vẫn phải
thường xuyên đánh dẹp các lực lượng nổi dậy. Trên hình thức Trung Hoa đã thiết
lập một bộ máy hành chánh cai trị tại địa phương nhưng quân sự vẫn phải tiếp tục
giữ gìn an ninh trên mọi tầng lớp. Trong suốt triều đại vua Vĩnh Lạc, An Nam
chưa bao giờ có thể sản xuất đủ gạo để cung cấp cho lực lượng quân đội Trung
Hoa trú đóng tại đó đưa đến hậu quả là cái tỉnh mới này tiếp tục tiêu hao tài
nguyên của Trung Hoa thay vì là một nguồn lợi kinh tế[11].
Sau khi vua Vĩnh Lạc qua đời và sự đi lên của một lãnh tụ kháng chiến có uy tín
là Lê Lợi 黎利, vua Tuyên Đức của
Trung Hoa (trị vì từ 1425-1435) đã từ bỏ An Nam vào năm 1427. Những ai còn bàn
cãi về việc tham dự vào khủng hoảng kế thừa của Việt Nam đều bị nhắc nhở về chiến
dịch tốn kém vô bổ này.
Sử lệ thứ
hai: Hậu quả không lường trước của đế quốc
Vào thời kỳ triều
đại Trung Hoa về sau, việc giáo dục và công tác trị quốc liên hệ với nhau không
thể tách rời được. Ở trường, thanh niên học các kinh điển của đạo Khổng để mong
thi đỗ và làm quan. Những học giả được đào tạo qua cách thức giáo dục này đều sẽ
phải làm việc cho nhà vua, là người duy nhất được trao cho quyền cai trị toàn
thể đế quốc bằng Thiên Mệnh. Vào thời kỳ Trung Hoa đô hộ Việt Nam ở đầu thế kỷ
XV, hệ thống thi cửa này được mở rộng qua tới Việt Nam. Các truyền thống cũ của
khu vực bị thách đố và 126 trường học được thành lập để đào tạo một tầng lớp sĩ
phu nhằm phát huy luân lý Khổng giáo với hi vọng sẽ co thể ganh đua được trong
các kỳ thi của người Trung Hoa. [12]
Thử nghiệm thất bại
của nhà Minh về việc đô hộ An Nam đã gây ra những hậu quả không lường được chẳng
hạn như việc đưa cơ cấu giáo dục và chính trị của người Việt Nam cho gần với mô
hình Trung Hoa[13]. Những
vận động đầu tiên để đi tới một mô hình hành chánh theo kiểu nhà Minh về sau lại
được thúc đẩy bởi ông vua thứ tư nhà Hậu Lê, tức Lê Thánh Tông (trị vì
1460-1497), một nho sĩ được đào tạo trong cửa Khổng và có khuynh hướng nghiêng
về hướng đó.[14] Trong
37 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông đã theo đuổi một đường lối cai trị, cải cách
giáo dục để huấn luyện và tuyển mộ quan lại đưa quốc gia xuống ảnh hưởng tới tận
cấp xã thôn. Để tới mức độ ấy, Lê Thánh Tông tuyên bố rằng ông đang khôi phục lại
việc cải tổ và tái cấu trúc chính quyền theo cách thức gần với cách của vua Hồng
Võ nhà Minh (tức Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương trị vì 1368-1398). Cũng như vua
Hồng Võ, Lê Thánh Tông củng cố các học hiệu Nho gia, tuyển bổ quan lại qua những
kỳ thi và xây dựng các định chế chính quyền có khả năng đi sâu vào xã hội địa
phương.
Việc tái cấu trúc
xã hội Việt Nam từ bên trên đưa xuống đã được coi là “một ngã rẽ vĩ đại trong lịch
sử Việt Nam” [15]. Một đạo
dụ viết năm 1471 công bố cải cách của vua Lê Thánh Tông được coi như lấy mẫu
theo một dụ chỉ của vua Hồng Võ. Những thay đổi này khiến cho chính quyền Việt
Nam mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong lịch sử trước đó và tiếp tục là tiêu chuẩn
trong ba thế kỷ tiếp theo[16].
Cũng giống như ở Trung Hoa, giới nho sĩ phân biệt giáo hoá với man di để chỉ những
cải cách của Khổng giáo. Theo như họ nói, nhà Lê “là khởi thuỷ của một thế
giới đã được cải hoá” và loại trừ được ảnh hưởng của man di. [17]
Những thay đổi đó
không phải Trung Hoa không hay biết, như ta thấy trong Minh Sử:
[Lê Lợi] chiếm
được nước và tự phong cho mình làm vua, đặt niên hiệu là Thuận Thiên[18]
thiết lập Đông Kinh và Tây Kinh, chia nước ra thành 13 đạo … Tại mỗi đạo ông ta
đặt một quan coi việc hành chánh, một người trông coi hình pháp và một võ quan
coi việc quân sự, giống như ba ngành của Trung Hoa… Ông ta cũng đặt ra các cấp
quan lại, mở trường học, dùng kinh điển của Nho gia và thơ văn để tuyển chọn
quan lại. Việc tinh lọc này có phong khí Trung Hoa. [19]
Trung Hoa đã phản ứng
thế nào về một quốc gia là cái bóng của mình ở phía bên kia biên giới như vậy?
Dường như thay vì ăn mừng, việc bắt chước này khiến họ cảm thấy phải cảnh giác.
Nếu những người quan sát từ Trung Hoa quả thực chấp nhận Việt Nam là một quốc
gia độc lập thì sự tương đồng về các định chế với Trung Hoa sẽ bị coi như là một
mối đe dọa hơn là củng cố. Thay vì dân tộc này ăn mặc theo lối Trung Hoa, học
kinh điển cổ ở trường học và được huấn luyện để thi cử nhằm phục vụ cho triều
đình Trung Hoa thì đây lại là một dân tộc được huấn luyện để thi cử ở một quốc
gia bên ngoài, phục vụ một hoàng đế ngoại quốc, người đã tuyên bố là cai trị một
trung tâm văn hóa Khổng giáo đối nghịch. Việt Nam dưới triều Lê có thể coi như
một chiếc bóng của nước Trung Hoa, có một ông vua đứng song song nổi lên tranh
đoạt với ngai vàng của Trung Hoa. Nói cách khác, đây là một hiện tượng nổi loạn.
Trong suốt một thế
kỷ đầu tiên của triều Lê, triều đình Trung Hoa hầu như nhắm mắt bỏ qua những gì
đang xảy ra tại Việt Nam. Tuy nhiên, năm 1527, một người tên là Mạc Đăng Dung 莫登庸 đã cướp ngôi của nhà Lê và khởi đầu một cuộc nội
chiến kéo dài hầu hết thế kỷ XVI. Hậu quả của những rối loạn ở biên giới là vua
Lê lưu vong gửi một phái bộ sang yêu cầu Trung Hoa giúp đỡ khiến triều đình nhà
Minh dưới đời Gia Tĩnh (trị vì từ 1521-1567) đã phải thảo luận xem họ có nên gửi
lực lượng quân sự sang Việt Nam hay không? Tháng 9 năm 1537, quân Minh đóng ở
biên giới bắt được một số gián điệp do Mạc Đăng Dung gửi sang để dò thám sức mạnh
của lực lượng Trung Hoa.
Khi quan quân
Trung Hoa khám xét những người dò thám này, họ tìm thấy những văn bản xấc xược.
Đặc biệt nhất, họ tìm tìm được một tài liệu có tên là Đại Cáo (大誥) bắt chước theo mẫu của vị vua khai sáng nhà
Minh đã ban hành. Trong tài liệu này, Mạc Đăng Dung tuyên bố mệnh trời đã về
tay ông và khi tự xưng thì ông dùng chữ Trẫm (朕) [20].
Về phần Mạc Đăng Dung, ông chỉ đi theo bước chân của Lê Thánh Tông và chịu ảnh
hưởng của tờ chiếu năm 1471. Không phải để thách thức quyền lực với Trung Hoa,
ông ta muốn khẳng định với thần thuộc người Việt rằng ông không phải là một kẻ
soán vị mà là một kế thừa chính trị của Lê Thánh Tông. Trên thực tế, những văn
bản lịch sử do nho thần nhà Mạc đã nhiệt liệt ca tụng việc tái lập những cải
cách đời Lê Thánh Tông mà Mạc Đăng Dung chủ trương để hợp thức chế độ mới như sự
tiếp nối với quá khứ[21].
Mặc dù tiến trình chuyến đổi Lê Mạc không suôn sẻ, Mạc Đăng Dung đã tổ chức những
kỳ thi ba năm một lần và cải tổ Quốc Tử Giám[22].
Thế nhưng vua Gia Tĩnh và các sứ giả của ông không tán thành các vai trò này. Từ
góc nhìn của thiên triều, chỉ có thể có một thiên tử được giữ thiên mệnh, chỉ
có một người được xưng là trẫm và gửi ra các chỉ dụ, đó là vua Gia Tĩnh.
Sự việc đã làm nổi
bật vị thế không hài lòng của các nhà lãnh đạo Việt Nam đối với chính quyền
Trung Hoa. Mô hình noi theo mẫu Trung Hoa của Mạc Đăng Dung có vẻ như phù hợp với
chủ trương thay đổi theo lý tưởng Trung Hoa qua giáo dục (giáo hoá 教化). Các sĩ phu Trung Hoa nói về chuyển đổi các giống
dân man di, một đường lối phù hợp với chủ trương khai hoá của chủ nghĩa thực
dân Tây phương. [23]
Thế nhưng mô hình
lý tưởng này liệu có đưa đến tự cải cách hay không? Đâu là ranh giới giữa giáo
hoá và phản kháng? Minh triều không tán thành việc mô phỏng chính trị của nhà Mạc
theo lối Trung Hoa mà ngược lại coi đó như một sự đe doạ, khôno thần phục và cần
phải động binh trừng trị.
Việt Nam không phải
là quốc gia láng giềng duy nhất có một liên hệ lâu dài với Trung Hoa. Cao Ly là
phiên thuộc gần gũi và mật thiết nhất của nhà Minh, với tương quan với Trung
Hoa khác hẳn Việt Nam. Tuy nhiên mực độ căng thẳng trong liên hệ Việt – Hoa
không thấy trong liên hệ với Cao Ly[24].
Sau khi Mông Cổ xâm lăng Cao Ly vào thế kỷ thứ XIII, Cao Ly đã từ bỏ những từ
ngữ chính trị như thiên hay thiên tử và chỉ khôi phục vào năm 1897. Cao Ly trở
thành phiên thuộc thân cận nhất của Trung Hoa – một quốc gia được tổ chức tương
tự Trung Hoa trên nhiều mặt nhưng lại không coi mình là tương đương hay ngạo mạn
như nhà Lê hay nhà Mạc của Việt Nam[25].
Cuối đời Minh, Việt Nam là một vấn đề độc đáo đối với Trung Hoa.
Sử lệ thứ ba:
Một công tác từ bỏ khai hoá
Coi người Việt Nam
là phản bội không thể thích hợp, nếu Việt Nam là quốc gia không chịu phục tùng
thì phải xảy ra chiến tranh. Sau khi bắt được những thành phần do thám tại biên
giới, vua Gia Tĩnh nóng lòng muốn tấn công vương triều Mạc để trừng phạt thuộc quốc
này. Tuy nhiên, nhiều cố vấn của ông ta lại nhắc nhở về sự thất bại trong việc
đô hộ Việt Nam thời vua Vĩnh Lạc và muốn tránh một cuộc can thiệp tốn phí ở
phía nam.
Từ 1536 đến 1538,
một loạt các đại thần phản đối mạnh mẽ các đề nghị của bộ Binh xin gửi một đạo
quân sang trừng phạt Việt Nam. Những tấu
sớ gửi lên nhà vua được lưu trữ trong Minh Thực Lục (明實錄). Chiến dịch nhiều đau đớn từ 1407-1427, tuy
không công khai nói ra nhưng cũng cho thấy họ rất miễn cưỡng với việc phải đem
quân sang Việt Nam. Trong tiến trình cố gắng thuyết phục hoàng đế và các quan lại
chủ chiến[26], những
người chống chiến tranh đã đưa ra một đường lối mềm mỏng hơn khi đề cập đến vấn
đề Việt Nam. Người chống chiến tranh miêu tả Việt Nam là vùng đất di địch (夷狄) vốn thích chống đối nên không phù hợp với lề luật
Trung Hoa. Họ dẫn ra một truyền thuyết nổi tiếng của người Việt rằng họ không
có liên quan gì đến tỉnh trước đây và lãnh thổ lân cận, cố tình bỏ qua việc người
Việt du nhập các mô hình giáo dục và chính trị của Trung Hoa. Để làm điều đó, họ
dùng phân biệt Hoa Di (華夷)
hay Trung Hoa và man di để nhấn mạnh việc khác biệt văn hoá. Không như phe đối
nghịch, những người chống đối chiến tranh thường dùng từ ngữ Trung Quốc để đề
cao một nước Trung Hoa văn hiến trong đó không bao gồm Việt Nam. [27]
Minh Thực Lục chứa
đựng nhiều thí dụ từ trong các tấu sớ do các quan lại gửi lên hoàng đế. Đầu
tiên là một tờ sớ gồm bảy điểm chống lại chiến tranh do Tang Zhou, dẫn chứng những
chi tiết lịch sử, các tiêu chuẩn nghi lễ, các mục tiêu chiến lược, lảnh thổ
biên cương, gánh nặng tài chánh và tình hình khẩn trương quốc nội để làm luận cứ
chống lại chiến tranh. Ông ta cũng là người đầu tiên dùng từ Trung Quốc và Man
Di trong những thảo luận về vấn đề Việt Nam.
Giữa Hoa và Di
khác nhau như trời với đất, vốn dĩ chia cắt tự nhiên và các hoàng đế của Trung
Hoa không từng dùng quyền cai trị họ. Vì lý do đó, vuaq đầu tiên của nhà Minh
không gửi đạo quân hùng mạnh của mình thưởng xuyên và trong Tổ Huấn có ghi là
không nên xâm chiếm An Nam. Bệ hạ nên tuân thủ điều đó. [28]
Nơi đây Tang Zhou
dùng một từ ngữ chủng tộc và văn hoá – Di – để phân chia Việt Nam và Trung Hoa,
chứ không nhắc đến họ bằng địa danh (Giao). Ngoài ra, ông cũng đề nghị phân biệt
tự nhiên đã phân chia người Việt với khu vực chính trị của Trung Hoa. Sau cùng,
ông đề xướng một lịch sử khác chống lại các cơ sở lịch sử cho rằng Việt Nam là
một tỉnh của Trung Hoa nay đã mất. Để ủng hộ điểm này, ông tuyên bố là vị trí
các cột đồng là bằng chứng rằng An Nam không phải là lãnh thổ Trung Hoa trong lịch
sử. Vị trí đó, theo Tang, ở châu Tư Minh
tỉnh Quảng Tây, nay nằm trong lãnh thổ nhà Minh. [29]
Trong khi sự bất ổn
chính trị và thay đổi triều đại được Trương Phụ diễn giải như lý do để họ sáp
nhập Việt Nam, một thế kỷ sau lại được dùng như một lý do để không làm như thế.
Trong một lối thay đổi ngôn từ mà Trương Phụ đã dùng năm 1407, một viên quan phải
đối khác là Pan Zhen đã biện luận là “đất của họ không đáng để lập thành quận
huyện, tính tình họ lại phản phúc không như ở Trung Hoa” [30].
Ý kiến đó về sau
đã được khai triển thêm trong một tờ biểu của Pan Dan. Bỏ qua những cải cách
theo lối Tân Nho đã thực hiện dưới triều Lê, Pan viết: “Di Địch không khác
gì điểu thú, trên cơ bản họ thiếu tính đạo đức của loài người. Nếu chúng ta
ràng buộc họ bằng luật pháp của trung nguyên, không một ai trong số họ đáng để
ngồi trên ngai. Thế nhưng nếu chúng ta cai trị họ theo đường lối của di địch
thì Yuan Hao[31] có
thể chúa, kẻ vô đạo có thể là công hầu,
kể cả là vương. Họ sẽ đánh nhau và gây chiến không ngừng nghỉ.” [32]
Để đáp lại, thượng
thư bộ Binh diều hâu là Zhang Zan và thượng thư bộ Lễ là Yan Song đã đưa ra một
lập luận về đạo lý để trừng trị kẻ soán nghịch và trách nhiệm bảo vệ một phiên
thuộc như nhà Lê. Theo đánh giá của họ, Việt Nam không giống như những quốc gia
di địch ở phương bắc:
An Nam là một quốc
gia thần phục ở sát biên giới chúng ta. Họ được công nhận là một nước triều cống
và được gọi là ngoại phiên, đáng coi trọng vì đã mang cống phương vật. Vì những
lý do đó nên họ khác với Bắc Lỗ và Tây Nhung. Mạc Đăng Dung đuổi chủ giết vua,
kiểm soát chính quyền, chiếm lấy nước – tội trạng đã rõ ràng … Vì các ông đã
nói rằng Di và Địch từ bản chất đã thiếu đạo đức, và Yuan Hao có thể làm vua,
và kẻ bất trung được làm chúa nên mới có tình trạng loạn thần Dung giết vua rồi
gửi biểu xin được công nhận. Việc đó chúng ta phải làm thế nào?
Vua Gia Tĩnh thuận
theo lời tâu này và ra lệnh cho chuẩn bị động binh. Mặc dầu hoàng đế đã trừng
trị, cách chức và giáng cấp liên tiếp năm người dâng sớ chống lại chiến tranh,
các quan vẫn tiếp tục tiến lên cố gắng thuyết phục nhà vua ngưng các chuẩn bị lại.
Một người là Y Guang, án sát Quảng Đông, nhắc lại chi tiết về việc người Việt
có thói quen “thay đổi vua chúa và các công hầu. Cũng giống như những ngưởi đi
trước, Yu Guang nhắc lại lịch sử Việt Nam là nơi loạn lạc và bất ổn để bác bỏ
những truyện cũ nói rằng Việt Nam là một tỉnh đánh mất của Trung Hoa.
Trong các giống Di
Địch, những lực lượng nổi loạn là việc rất bình thường. Kể từ đời Tống, nhà Lý
thay nhà Đinh, nhà Trần chiếm quyền hành của nhà Lý, nhà Trần bị nhà Lê cướp
ngôi và rồi sau đó lại qua tay nhà Mạc. Đối với họ Lý thì họ Trần là bọn cướp,
đối với họ Trần thì họ Lê là ăn cướp, và nay đối với họ Lê thì họ Mạc là ăn cướp.
Đạy là cách của những người coi đây là sự quả báo mà thôi. [33]
Ở đây, thay vì coi
Việt Nam thuộc về một khu vực của những quốc gia chư hầu có văn hoá, Yu đã mỉa
mai người Việt Nam về cách thức họ cố gắng du nhập không chính đáng trong nỗ lực
để văn minh mà quên rằng việc thay đổi triều đại ở Trung Hoa cũng thường xuyên
như vậy trong cùng một thời kỳ đó.
Hai phe của cuộc
tranh luận trở nên bế tắc và chỉ đến khi Mạc Đăng Dung đi qua biên giới để
“hàng phục” nhà Minh vào tháng 11 năm 1540 và giải trừ những toan tính quân sự.
Đến lúc đó, luận điệu châm cọc trong tấu thư của Yu Guang được đáp lại bằng một
đoạn văn viết cùng thời gian đó trong Việt Kiệu Thư, một tập hợp những tài liệu
viết về Việt Nam của Lý Văn Phượng để đáp ứng lại khủng hoảng về họ Mạc. Lý đã
dẫn những tài liệu của phía Việt Nam trong các văn bản cũ nhưng kèm theo những
lời bình được soạn để phân cách về văn hoá của họ Mạc với Trung Hoa.
Công trình biên tập
của Lý Văn Phượng quan trọng nhất là chương về phong tục. Những nguồn gốc đó
theo sát bộ sách An Nam Chí Lược (安南志略) của Lê Tắc (黎崱). Lê Tắc là một nho sĩ Việt Nam đã cộng tác với đoàn quân xâm lăng của
nhà Nguyên vào thế kỷ XIII. Khi quân Nguyên bị đánh đuổi khỏi Việt Nam, ông đi
theo họ về Bắc Kinh, nơi đó ông tham khảo tài liệu trong thư khố triều đỉnh để
viết lịch sử Việt Nam.
Việc đối chiếu hai
đoạn về phong tục Việt Nam trong hai cuốn sách rất đáng học hỏi. Những gì Lý
Văn Phượng thêm vào trong văn bản được in nghiêng.
An Nam Chí Lược (1335)
男耕賈,女蠶績;言善欲寡,見遠人漂至其國,數相存問,此其常性。交、愛人倜儻有謀;驩、演人淳秀好學;餘皆愚戇。民文身,效吳越之俗。柳詩云:「共來百越文身地。」暑熱好浴於江,故便舟善水。平居不冠,立叉手,席坐盤雙足。謁尊貴者,跪膝三拜。待客以(梹)〔檳〕榔。嗜(鱮)〔鹹〕酸海味,飲過度,多羸弱。
Đàn ông cày ruộng và lo công việc buôn bán, đàn bà nuôi tằm, dệt cửi. Họ
lễ phép trong ngôn từ và có một số ham muốn. Khi có người ở xa đến vương quốc của
họ, người Việt có thói quen hỏi rất nhiều. Người dân vùng Giao Ái thoải mái và
tinh tế, những người ở châu Hoan và châu Diễn thì sang cả và ham học, còn lại
thì chất phác và khờ khạo. Người dân xâm trên mình, bắt chước thói quen của người
Ngô và người Việt. Một bài thơ của Liễu Tông Nguyên[34] có viết: Chúng tôi cùng
đi với nhau đến đất của người Bách Việt vẽ mình”. Họ thích tắm dưới sông khi
mùa hè nóng nực cho nên giỏi bơi lội và chèo thuyền. Họ thường không đội nón, đứng
khoanh tay và ngồi xếp bằng trên chiếu. Khi đến thăm những gia đình tôn quí, họ
quì gối và cúi lạy ba lần. Khi tiếp khách thì họ mời khách ăn trầu. Họ quen ăn
các loại mặn, chua và thuỷ sản. Họ uống rượu nhiều, người ốm yếu. [35]
Việt Kiệu Thư (1540)
秀好學,男耕稼,女蠶績,一歲再稻。八(蠶)〔蠶〕。遠人漂至其國,數相存問,率以為常。然其地偏小,其俗矜誇,陵犯弒君賊主,篡奪之轍,相尋為帝為王。為公為侯,獰然奮臂抗衡。天朝王侯以下,跣足。二輿夫舁以笈,過市不以為恥。夷風猶存焉。
餘皆愚詐,與蠻獠同。蔑禮義,喜擴悍,富者稱雄,爭奪魚倂。後屬貧弱,日事俘掠。斷髮文身,黑齒,方領侏離。輕既暑,即浴於江,故善水。黎楂莫盎,庸既貴,尚跣足裸體入水捕魚。平居不冠,席坐盤雙足。謁尊者,跪膝三拜。待客,婚姻俱以檳榔為禮。嗜鹹酸,多羸弱。
Người từ châu Giao
châu Ái thì thoải mái và tinh tế, người từ châu Hoan và châu Diễn thì sang cả
và ham học. Đàn ông cày ruộng còn đàn bà nuôi tằm, dệt cửi. Mỗi năm họ trồng
hai mùa lúa và tám đợt tằm. Khi có người từ các nơi xa xôi đến vương quốc của họ
thì họ thường hỏi hết câu này đến câu khác. Mặc dầu đất đai nhỏ hẹp, họ có thói quen hay phách
lối và phóng đại. Hiện tượng giết vua chúa và các lãnh tụ nổi loạn chiếm ngôi,
tranh nhau để làm vua, công hầu là những nỗ lực ngang bướng để được sánh ngang
với thiên triều.
Từ quí tộc xuống
thứ dân đều đi chân đất. Họ đi qua chợ trên một cái cáng tre do hai người
khiêng. Họ cũng không hổ thẹn gì khi các tập tục người di vẫn hiện hữu tại đây.
Những người khác đều ngu ngốc và gian xảo, và cũng như người Man hay người
Liêu, coi nhẹ lễ nghĩa và lẽ phải, ca ngợi sự liều lĩnh và kẻ giàu có, gọi những
người đó là anh hùng và chọn làm qua lại trong khi kẻ nghèo nàn yếu đuối thì bị
bắt giữ và cướp bóc. Họ cắt tóc, xâm mình, và nhuộm răng đen. Họ mặc áo cổ
vuông và nói năng không rõ ràng. Vì họ xuống sông tắm khi mùa hè nên bơi lội rất
giỏi.
Mạc Đăng Dung, người
được nhà Lê dựng lên, đi chân đất mặc dù là giai cấp cao. Y khoả thân nhảy xuống
nước bắt cá. Người thường thì để đầu trần không mũ nón gì, khi ngồi trên chiếu
thì xếp bằng. Khi thăm viếng người quyền quí, họ cúi chào ba lần. Tiếp đãi
khách hay trong cưới hỏi thì họ dùng trầu cau như quà cáp. Họ nghiện ăn đồ mặn,
đồ chua và hầu hết mọi người đều gầy gò ốm yếu. [36]
Tuy dựa trên văn bản
của Lê Tắc, Lý Văn Phượng đã tìm cách miêu tả tập quán của người Việt có vẻ như
kỳ quặc hơn những gì Lê Tắc miêu tả. Lý chép lại đoạn đầu từng chữ nhưng lại
chêm vào những nhận định tiêu cực về người Việt Nam và nhất là về Mạc Đăng
Dung. Mạc có thể cố tình làm ra vẻ quân vương ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa
nhưng việc ông ta đi chân trần, ngồi kiệu dị hợm và trần truồng bắt cá khiến
ông ta trở thành một hình tượng khôi hài, không phải là một đe doạ cho thẩm quyền
của vương triều Trung Hoa. [37]
Khoảng giữa năm
1536 đến 1540, vua Gia Tĩnh và một cận thần có ảnh hưởng nhất đã tỏ ra có tham
vọng dùng quân sự can thiệp vào Việt Nam. Họ trình bày các luận điểm một cách
nghiêm túc, ấy là để làm tròn nghĩa vụ của Trung Hoa đối với thuộc quốc, tức
nhà Lê. Nhiều quan lại cố gắng bác bỏ kế hoạch này hẳn là vì không quên kinh
nghiệm đau đớn năm 1427. Họ hẳn đã cảnh giác rằng lần sau cùng nhà Minh cố gắng
tham gia vào tranh chấp ở Việt Nam đã dẫn tới 20 năm chiếm đóng bằng quân sự.
Khi việc tranh luận chi tiết mang tính chiến lược của Tang Zhou không làm thay
đổi được quan điểm của nhà vua, các quan lại chủ hoà đã đưa ra những ý nghĩa mới
về tính tình người Việt, cho rằng những vụ nổi loạn không dứt, nội chiến và
thái độ trịch thượng tỏ ra khác với Trung Hoa nên đã ra ngoài vòng ảnh hưởng của
thiên triều. Cái kết quả bế tắc ấy chỉ giải quyết được khi Mạc Đăng Dung đầu
hàng Trung Hoa và tuyên bố họ chỉ là một chư hầu của Trung Quốc thì việc động
binh mới bãi bỏ.
Kết
luận: Việt Nam, giới hạn tận cùng của đế quốc
Người
ta cố gắng xây dựng liên hệ Hoa – Việt bị thúc đẩy bởi sự xâm lăng của Trung
Hoa và sự kháng cự của Việt Nam vì như
thế đễ dàng kiếm ra được các chứng cớ hỗ trợ cho lập luận này. Thực ra, mỗi triều
đại lớn của Trung Hoa từ thế kỷ thứ X trở
về sau đều có những cuộc chiến đánh Việt Nam (Tống, Nguyên, Minh, Thanh). Mặc
dù những chiến thắng liên tục của Việt Nam đối với người láng giềng mạnh hơn
đáng được ca ngợi, những tường thuật này đã che đậy một sự thực là từ thế kỷ
XVI đến thế kỷ XVIII, bản thân Việt Nam cũng luôn luôn có chiến tranh, trải qua
nhiều thay đổi đã giúp cho chính quyền được mạnh hơn và mở rộng lãnh thổ. [38]
Triều
đình nhà Minh không chỉ bỏ qua những thay đổi và bành trướng của Việt Nam. Những
quan lại vụ thực biết rằng việc khống chế Việt Nam là chuyện thuộc về quá khứ cần
có sự thay đổi trong cả đường lối lẫn ngôn từ. Đối với họ, chấp nhận sự độc lập
của Việt Nam và không quan tâm đến việc người Việt Nam theo đuổi văn hoá chính
trị của Trung Hoa thì tốt hơn là để cho họ không được khai hoá, coi họ như man
di để chứng tỏ họ không thuộc trong vòng vương hoá. Việc xa cách văn hoá dành
cho người Việt Nam nay được dùng như một công cụ không chinh phục, một cách nói
của các quan lại muốn giới hạn thay vì bành trướng đế quốc Trung Hoa. Những
cách nói mới cũng được đưa ra để trì hoãn chiến tranh theo hai cách: thứ nhất
là thể hiện người Việt Nam như một loại man di không có thể trở thành thuộc quốc
của Trung Hoa, hai là giải thích cải cách chính trị của nhà Lê và những từ ngữ
đế vương của Mạc Đăng Dung từ thái độ ngạo nghễ trở thành những màn kịch vô hại.
Đến
lúc này, tương quan lịch sử giữa Trung Hoa và Việt Nam đã được tái định hình,
khuôn mẫu và ngôn từ nay được đưa vào những ý nghĩa mới. Lý Văn Phượng đã sửa lại
An Nam Chí Lược để đưa ra những trọng lượng mới vào cách lý lẽ dùng vào miêu tả
khác biệt chính trị và sự vô hại của vương triều Mạc. Lịch sử nay đã được diễn
giải lại để miêu tả Việt Nam là một vùng đất xa xôi thuộc về người Di chứ không
phải là một vùng đất bị đánh mất. Ngay cả những cột đồng cũng được di chuyển để
đánh dấu biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa thay vì là một cột mốc bao trùm cả
Việt Nam trong đó.
Mục
tiêu của bản đồ này nhằm thắp sáng ranh giới giữa Trung Hoa và Man Di, vạch rõ
núi và biển và biểu lộ sức mạnh của giống người Di nguy hiểm, đồng thời điều
tra quyền cai trị biên giới của Quảng Đông, Quảng Tây … Hệ thống này – họ là giống
người thích nổi loạn nên nếu như doạ nạt họ - thì đó là chính sách bình thường
cần phải làm. Nếu Giao Nam không nằm tại một góc biển bên ngoài Nam Quan thì
chúng ta có thể trừng trị bọn cướp, vỗ về kẻ tốt, bình định và giáo hoá họ để họ
thành dân của ta. [39]
Theo
như ngụ ý thì người Việt Nam quả thực ở bên ngoài tầm của Trung Hoa, là một dân
tộc man di không thể khai hoá để thành đất của họ.
Nguyên
tác: Trích từ Chinese History in
Geographical Perspective do Yongtao Du và Jeff Kyong-McClain biên tập. United Kingdom: Lexington Books (2013) tr. 55-69.
Nguyễn Duy Chính dịch
May-27-2026
[1] Câu
này trích trong quyển 321 của Minh Sử 安南古交趾地
唐前皆隸中國.
Đoạn này cũng hiện diện trong Tạ Toại Chức Cống Đồ Mãn Văn Đồ Thuyết Hiệu
Chú [謝遂《職貢圖》滿文圖說校注]
của Trang Cát Phát (Đài Bắc: Cố Cung Bác Vật Viện, 1979). Đây chỉ là hai ví dụ
về một câu thông thường. Giao Chỉ là tên vùng bảo hộ Bắc Việt Nam đời Hán. An,
có nghĩa là “miền Nam đã được bình định” là tên có từ đời Đường để gọi vùng đất
này. Trong bài này, tôi dùng từ Việt Nam và Trung Hoa để cho dễ hiểu. Gọi Việt
Nam bằng tên Đại Việt hay tên Trung Hoa Giao Chỉ sẽ nghiêng về ưu thế cho một
trong hai bên.
[2] Liam
Kelley, Beyond the Bronze Pillars: Envoy Poetry and the Sino-Vietnamese
Relationship (Honolulu: University of Hawai’i Press, 2005), 5-6. Ghi nhớ rằng
việc đề cập đến cột đồng chỉ xảy ra nhiều thế kỷ sau khi việc dựng cột xảy ra,
Kelley đã đưa ra chi tiết về tài liệu sớm nhất về đề tài này. Ngay từ đầu, vị
trí của các cột đồng đã khác nhau rất nhiều. Keith Taylor, The Birth of
Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), 37-41. Taylor
không đề cập về các cột đồng trong phần ông viết về hai chị em (Trưng Trắc,
Trưng Nhị) theo tài liệu sớm nhất ghi chép về hai bà Trưng, đó là Hậu Hán Thư. Xem
Phạm Diệp: Hậu Hán Thư, Kỷ Quang Vũ (quyển 1b) và Tiểu sử Mã Viện (quyển
24).
[3] Kelley,
Beyond the Bronze Pillars, 6.
[4] Trương Bửu Lâm, bt. Hồng Đức
Bản Đồ (Saigon: Bộ Quốc-gia Giáo-dục, 1962).
[5] Phương Dân Duyệt 方民悅, Giao Lê Tiễu Bình Sự Lược 交黎剿平事略 (Bắc Kinh, 2005), An Nam 24.
[6] Câu này được
dùng trong bài thơ của Lý Thường Kiệt thế kỷ 11th để đáp lại cuộc
xâm lăng của Trung Hoa: Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại
thiên thư. Như hà nghịch Lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Sông
núi nước Nam vua Nam ở, Việc này đã định rõ trong sách trời rồi. Tại sao đám giặc
các ngươi dám đến xâm phạm, Chúng bay sẽ bị chuốc lấy thất bại thôi (NDC dịch).
Huỳnh Sanh Thông, Heritage of Vietnamese Poetry (New Haven: Yale
University Press, 1979), 3. Các sách sử Việt Nam thường dùng bắc và nam để phân
biệt Trung Hoa và Việt Nam.
[7] Việc tranh luận
giữa hai triều đình Trung Hoa và Việt Nam về cái tên mới này được ghi lại trong
Đại Nam Thực Lục, đệ Nhất kỷ, Gia Long quyển 22. Tuy nhận tên này nhưng Việt
Nam không được dùng thường xuyên cho đến tận thế kỷ 20th.
[8]John
K. Whitmore, Vietnam, Ho Quy Ly and the Ming, (New Haven: Yale Center
for International and Area Studies, Council on Southeast Asia Studies, 1985),
88.
[9] Nghiêm
Tòng Giản (嚴從簡 Yan
Congjian). Thù Vực Chu Tư Lục (殊域周咨錄 Shouyu Zhouzi Lu), (Bắc Kinh: Trung
Hoa Thư Cục, 1993), 184-85.
[10] Whitmore,
Vietnam, Ho Quy Ly, and the Ming, 97-98.
[11] Whitmore,
Vietnam, Ho Quy Ly, and the Ming, 99.
[12] Nola
Cooke, “Nineteenth-Century Vietnamese Confucianization in Historical
Perspective: Evidence from the Palace Examinations (1463-1883),” Journal of
Southeast Asian Studies 25 (1994): 279.
[13] John
K. Whitmore, Vietnamese Adaptations of Chinese Government Structure in the
Fifteenth Century (New Haven: Southeast Asia Studies, Yale, 1970), 2.
[14] Whitmore,
Vietnamese Adaptations, 4.
[15] Nola
Cooke, “Nineteenth-Century Vietnamese Confucianization,” 277.
[16] Whitmore,
Vietnamese Adaptations, 6; Whitmore, “The Development of Le Government
in Fifteenth Century Vietnam,” ix. Liam Kelley coi ảnh hưởng Nho giáo là một phần
quan trọng và liên tục của xã hội Việt Nam trước thế kỷ 16th. Xem
Kelley, “Confucianism in Vietnam: A State of the Field Essay,” Journal of
Vietnamese Studies 1, nos. 1-2 (Feb/Aug 2006): 314-70. Ngoài Tân-Khổng giáo, việc
nhà Minh đô hộ Việt Nam còn mang lại sự cải tiến trong kỹ thuật chế tạo thuốc
súng tại bắc Việt Nam. Cải tiến này giúp cho Việt Nam lật ngược thế quân bằng với
Champa và bắt đầu tiến trình nam tiến. Sun Laichen, “Assessing the Ming Role in
China’s Southern Expansion,” trong Geoff Wade và Sun Laichen, eds., Southeast
Asia in the Fifteenth Century: The China Factor (Singapore: NUS Press, 2010),
55; và Sun Laichen, “Chinese Gunpower Technology in Dai Viet, ca. 1390-1497,”
trong Nhung Tuyet Tran và Anthony J.S. Reid, eds., Viet Nam: Borderless
Histories (Madison: University of Wisconsin Press, 2006), 72-120.
[17] John
K. Whitmore, “Chung-hsing and Cheng-t’ung in Texts of and on Sixteenth Century
Việt Nam,” trong Keith W. Taylor và John K. Whitmore, eds., Essays onto
Vietnamese Pasts (Ithaca: Southeast Asia Publications, Cornell University,
1995), 118. Bản dịch của Whitmore từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Xem thêm tr. 122,
123.
[18] Niên
hiệu này có nghĩa là “theo mệnh Trời” hay “tuân theo mệnh trời”. John Whitmore
đã chỉ ra đây chỉ dùng cho nhà Minh.
[19] Trương
Đình Ngọc (張廷玉),
Minh Sử (明史明), quyển 321, Liệt Truyện 29.
[20] Lý Văn Phượng, Việt Kiệu Thư (1540) Đài Nam, Tứ Khố
Toàn Thư Tồn Mục Tùng Thư, 1996: 36; Trần, Kinh Hoà (bt) Daietsu Shiki
Zensho/ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越史記全書 (Tokyo: Tokyo Daigaku Toyo Bunka Kenkyujo Fuzoku Toyogaku
Bunken Senta, 1984), 843, dưới đây viết tắt là DVSKTT.
[21]
Whitmore,
“Chung-hsing and Cheng-t’ung.”
[22] Các kỳ thi của
nhà Mạc có ghi trong DVSKTT, và cải cách Hàn Lâm Viện năm 1536. DVSKTT,
838-867.
[23] Về công tác
khai hoá ở Trung Hoa, xem Taylor, Birth of Vietnam, 298; Stevan Harrell
xếp loại việc thúc đẩy khai hoá tại Trung Hoa là “công tác Khổng hoá” tương
đương với các công tác giáo hoá ở phương Tây.Ỏ đây tôi (Baldanza) không phi bác
phát kiến này về những thuộc quốc không phải Trung Hoa, tôi chỉ nhấn mạnh rằng
các quan lại Trung Hoa thấy có một giống người Việt bên ngoài tầm tay của Trung
Hoa chưa được nhắc đến. Xem “Civilizing Projects and the
Reaction to Them,” in Cultural Encounters on China’s Ethnic Frontiers (Seattle:
University of Washington Press, 1995). Kelley, Bronze Pillars, 17-19.
John Herman viết về công tác đồng hoá hay Hán hoá đã cho rằng các nho sĩ Trung
Hoa coi việc chiếm lĩnh Việt Nam là một công tác khai hoá hay Hán hoá nhưng thực
tế đó là một tiến trình xâm lược quân sự, không phải để lôi kéo những dân tộc
phi-Hán vào trong vòng văn hoá ưu tú. Amid the Clouds and Mist: China’s
Colonization of Guizhou (Cambridge, MA: Harvard University
Press, 2007), 12-14.
[24] Đầu
đời Minh, vua Hồng Võ cho rằng một số thư từ Cao Ly thất lễ và yêu cầu triều
đình Choson của Cao Ly phải giao nạp những ai đã viết thư dó đến Nam Kinh để xử
tử. Triều đình Cao Ly một mặt giải thích là việc thất lễ đó chỉ là một tai nạn
và từ chối việc giao phạm nhân. Ở trường hợp này, tội khi quân được chỉ định thẳng
vào cá nhân một viên quan Cao Ly chứ không phải cho cả nước nói chung. Câu chuyện
này đã nêu rõ lằn ranh mong manh mà các thuộc quốc phải bước đi để thoả mãn những
dòi hỏi của Trung Hoa mà không làm tổn thương đến quốc thể. Donald
N. Clark, “Sino-Korean Relations in the Ming,” Cambridge History of China,
Volume 8, Ming China, 272-300, 277. Nhiều học giả đã viết về các dân tộc bị Hán
hoá trong thời Thanh. C Patterson Giersch đã nêu ra hai cực trong quan điểm về
nhà Thanh: ý niệm tổng quát về bản chất con người (man di cũng có thể cải hoá)
đối với bản chất cố hữu của Trung Hoa (ngay cả người Mãn Châu cũng là di địch). Asian
Borderlands: The Transformation of Qing China’s Yunnan Frontier
(Harvard University Press, 2006), 64-67.
[25] Cám
ơn Sixiang Wang về nguồn tin này.
[26] Người
chủ chiến chính yếu là Thượng thư bộ Binh Zhang Zan, thượng thư bộ Lễ Yan Song
và đại học sĩ Xia Yan.
[27] Theo ý kiến của
Peter Bol về “sự chuyển hướng của Trung Quốc” thì danh từ Trung Quốc (nước ở
trung tâm) được dùng từ giữa thế kỷ VIII đến đầu thế kỷ XV là nói về liên quan
trên bỉnh diện không gian, bên trong là Trung Hoa bên ngoài là Di Địch. Trung
Quốc tượng trưng cho trật tự chính trị, tập quyền về trung ương và văn hoá liên
tục kế thừa từ đời Chu (1045 TCN đến 256 TCN) trong khi Di Địch có một trật tự
chính trị kém nhất quán hơn và khác với
Trung Hoa. Peter K. Bol, “Geography and Culture: The Middle-Period Discourse on the
Zhong guo – the Central Country,” trong Huang Ying-kuei, ed., Space and
Cultural Fields: Spatial Images, Practices and Social Production. (Taipei:
Center for Chinese Studies, 2009), 63.
[28] Zhao Lingyang,
bt. Minh Thực Lục Trung Chi Đông Nam Á Sử Liệu 明實錄中之東南亞史料, Volume 2, (Hong
Kong: Xuejin chubanshe, 1968-1976), 496.
[29] Zhao, Ming,
496-7.
[30] Zhao, Ming,
500-501.
[31] Nhà Lương giúp
Yuan Hao (?-529) lên làm vua ở Bắc Nguỵ. Y là một lãnh tụ tàn ác và là một chư
hầu bất trung.
[32] Chiu
Ling-yeong, Chan Hok-lam, Chan Cheung, Lo Wem, bt., Ming Shilu zhong zhi
Dongnan Ya Shiliao Xiace, Volume 1 (Hong Kong: Hsueh-tsin Press, 1976), 501.
Sau đây viết là Minh Thực Lục.
[33] Minh Thực Lục,
507.
[34] Liễu Tông
Nguyên (773-819) là một tác giả đời Đường nổi tiếng về thơ văn và những bài viết
về việc ông bị biếm trích sang Quảng Tây.
[35] Lê
Tắc, An Nam Chí Lược (Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2000), 41.
[36] Lý Văn Phượng, Việt
Kiệu Thư (1540) Đài Nam, Tứ Khố Toàn Thư Tồn Mục Tùng Thư, 1996: tập
162-163, 36; Trích từ tr. 681, tập 1.
[37] Tuy có vẻ bất
thường nhưng Lý Văn Phượng ghi nhận phần nào có vẻ sự thực. Lý là người gốc Quảng
Tây và có lẽ đã nghe trực tiếp từ những người đã du hành qua Việt Nam. Đại Việt
Sử Ký Toàn Thư có chép rằng Mạc Đăng Dung khi còn trẻ sống bằng nghề chài lưới
và năm 1529 ông nhường ngôi cho con lên làm thái thượng hoàng thì sau đó ông
thường đi câu cá va2qua lại mặc quần áo thường dân. Trần Kinh Hoà (bt) Daietsu Shiki
Zensho/ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Tokyo: Tokyo Daigaku Toyo Bunka Kenkyujo
Fuzoku Toyogaku Bunken Senta, 1984), 835-38.
[38] Nhiều
tác giả đã đề cập đến việc này, đáng kể nhất là Keith Taylor, “Surface
Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region.” The Journal of
Asian Studies 57, no. 4 (Nov. 1998): 949-78.
[39] Phương
Dân Duyệt, Giao Lê Tiễu Bình Sự Lược, 17.