1.
Giải
Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên
cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao.
Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi
xin có đôi điều nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao.
Một
nhà phê bình văn học không chỉ đơn thuần là người “yêu sách vở” hay có vốn từ vựng
phong phú, biết khéo léo sử dụng những thuật ngữ văn học lạ tai để tô điểm cho
bài nghiên cứu phê bình của mình mang vẻ hàn lâm trí tuệ, mà là người biết kết hợp
chặt chẽ giữa trí tuệ với một loại cảm thông giàu trí tưởng tượng. Họ có thể
phân tích một văn bản một cách chính xác đồng thời cảm nhận được những cộng hưởng
về mặt cảm xúc, lịch sử và văn hóa của nó.
Tôi rất tâm đắc với quan niệm “đọc” của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh
Phúc. Theo anh, một tác phẩm văn học là một thế giới “mở”, nó cho phép người
đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể
chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa; ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý
nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thể thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của
người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của
người đọc ấy.
Tino
Cao là một người đọc, một nhà phê bình như vậy. Anh mở một cánh cửa đi vào cõi
văn chương mà không chấp nhận, hoàn toàn không khoan nhượng, một chủ thuyết hay
chủ nghĩa nào. Cái đọc của anh là một khả thể cá thể, nó chấp nhận những khả thể
khác, không nhất thiết phải giống anh, bằng một cánh cửa khác, cùng đi vào ngôi
nhà văn chương. Cái anh tìm kiếm không phải chân lý, mà là một trong nhiều khả
lý khác nhau.
Anh
đọc kỹ, chăm chú, nhận thấy những mô-típ, chủ đề, sự thay đổi giọng điệu và những
lựa chọn cấu trúc mà người đọc thông thường bỏ sót. Anh giải thích cách một văn
bản tạo ra hiệu ứng của nó như thế nào, không chỉ là những gì xảy ra, mà những
gì không xảy ra. Đó chính là những
câu chữ không được viết xuống, những dấu lặng trong tấu khúc giao hưởng, những
ý nghĩa giữa những hàng chữ, mà nếu ta không nhận thức được thì tác phẩm văn học
đối với ta trở thành xơ cứng, nhạt nhẽo, thậm chí vô nghĩa.
Phê
bình truyện ngắn Lòng trần của nhà
văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, Tino Cao viết: “Nguyễn Thị Thụy Vũ triển khai toàn bộ cấu
trúc truyện như một phép thử về giới hạn của đạo đức và về sự bất khả của việc
tách linh hồn ra khỏi thân thể. Tác phẩm không đặt câu hỏi ‘Con người có thể
thoát tục hay không’ mà truy xét một vấn đề sâu hơn: bản thể của con người được
cấu thành bởi điều gì, tinh thần hay thân xác, hay chính là sự căng kéo giữa
hai miền ấy.”
Chính những suy ngẫm như thế đã làm nên nhà phê bình. Tino
Cao
không chỉ lặp lại những ý kiến thời thượng hay những quan điểm chính thống
trong giới học thuật, anh tự sắm cho mình một thứ triết lý, không hẳn phải nằm
trong một triết hệ tiên nghiệm, mà rất đời thường.
Cũng
trong bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ, anh viết:
“Cái tên Lòng trần vì thế không phải là một tiếng thốt cảm
thán mà là một cách định nghĩa. Con người, dù ở đâu, dù khoác áo gì, vẫn mang
trong mình một lòng trần không thể xóa. Và chính lòng trần ấy là nơi bắt đầu của
mọi nhận thức, mọi đạo lý, mọi ý tưởng sáng tạo cho nghệ thuật được xuất hiện
và đồng hành với con người trong cõi nhân sinh.”
Tôi nghĩ đây chính là điểm mạnh của Tino Cao trong lĩnh vực
phê bình. Anh không dựa nhiều vào các triết luận Tây phương (nhiều khi rất xa lạ
với người đọc Việt Nam), mà là những nhận thức đời thường, vốn từng ăn sâu vào
tâm thức người đọc, nhờ đó, dễ tiếp cận và tiếp nhận hơn.
Trong thiên tiểu luận về truyện ngắn Tặng phẩm của dòng sông của
nhà văn quá cố Nhật Tiến, anh viết: “… vì
thế không chỉ là truyện ngắn hiện thực về chiến tranh. Nó là một văn bản suy tưởng
về sự phân rã của đạo đức và của ký ức, về nhân dạng con người khi bị hoàn cảnh
ép đến khô kiệt. […] Tặng phẩm của dòng sông không
chỉ là một lát cắt hiện thực mà còn khắc vào ký ức người đọc hình ảnh một vùng
tối của lịch sử, nơi nhân tính phải cầm cự trước một hiện thực phi lý đến nghẹt
thở.”
Nhận
thức về lịch sử và văn hóa, nhà phê bình hiểu thế giới mà một văn bản xuất phát
từ đó: chính trị, ngôn ngữ, những căng thẳng xã hội, thực tại phi lý. Đặt một
tác phẩm trong bối cảnh lịch sử văn học để cho thấy nó phản ánh hoặc thách thức
các truyền thống trước đó như thế nào. Lịch sử, trong mắt Tino Cao, không hẳn
chỉ là nghịch cảnh tàn bạo, mà còn va chạm đến bản thể con người bị phân rã
toàn diện khi đứng trước vực thẳm. Bi kịch của Lịch sử không hẳn chỉ ở cảnh máu
lửa khổ đau mà ở chỗ nhân tính bị triệt tiêu.
2.
Nói
Tino Cao không xem triết học là yếu tố quan trọng trong phê bình văn học là
không hoàn toàn đúng đắn. Sự thật là anh đã đem tư tưởng Triết học Hiện sinh của
Jean-Paul Sartre và Albert Camus làm nền tảng cho luận điểm của mình về dục
tính trong các tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami. Trong
mắt nhìn của anh, khoảnh khắc hai thân thể nhập vào nhau trong tiểu thuyết
Murakami là khoảnh khắc vong thân, khi “con người đối diện rõ ràng nhất với sự cô đơn tuyệt đối
của bản ngã, mà tự nó, đã là cốt lõi sâu thẳm của tồn tại.” Nó mang sắc thái của “địa ngục là tha nhân” trong Triết học Hiện sinh của Jean-Paul
Sartre, hay, xa lạ và khó liên tưởng hơn, là cái phi lý của hiện tồn trong Triết
học Hiện sinh Phi lý của Albert Camus. Sự cô đơn của con người đến từ lòng khát
khao muốn nhận thức một ý nghĩa bên trong một vũ trụ hoàn toàn dửng dưng, im lặng.
Con người là một “kẻ lạ” sống trong một thế giới phi lý, vô ý nghĩa, nhưng theo
Camus, thì phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục
đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý
nghĩa nào.
Triết học và Phê bình Văn học luôn gắn bó mật thiết với nhau,
cả hai đều là những ngành học cùng chia sẻ mối quan tâm sâu sắc đến ý nghĩa, sự
diễn giải và bản chất của trải nghiệm con người. Triết học cung cấp cơ sở luận
giải cho những câu hỏi mà Phê bình đặt ra, bởi Phê bình không bao giờ chỉ là
câu hỏi “Cuốn sách này có hay không?” mà là “Văn bản này tiết lộ điều gì.” Hầu
như tất cả những phạm trù Triết học như Chân lý, Bản sắc, Đạo đức, Tự do, Quyền
lực, Cái Đẹp, vv., đều ít nhiều giao thoa với văn học. Một nhà phê bình khi đặt
câu hỏi “Cuốn tiểu thuyết này nói gì về thân phận con người?” thì mặc nhiên người
đó đã đang mặc áo triết gia rồi.
Tino Cao là một nhà phê bình như thế.
Tuy vậy, mặc dù có nêu tư tưởng Hiện sinh làm cơ sở lý luận
cho văn chương của Murakami, của Nguyễn Tuân trong tác phẩm Chùa đàn, vv.,
nhưng Tino Cao có vẻ “mặn mà” hơn với Triết học Đông phương được thể hiện trong
hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Có lẽ bởi thế anh đã dành khá nhiều câu chữ viết
về hai vị cao tăng danh tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại:
Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Quang. Anh đặc biệt kính ngưỡng Hòa thượng Thích Tuệ
Sỹ. Trong bài viết nhan đề Nhớ Thầy trong Piano Sonata 14, anh viết: “Trước mặt tôi không
phải một nhân vật được bao phủ bởi nhiều huyền thoại mà là một người gầy gò,
tĩnh lặng và an nhiên đến lạ. Ánh mắt Thầy sáng trong và chất chứa sự sâu lắng
của một người đã đi qua nhiều biến cố mà không để chúng xô lệch phần cốt lõi
bên trong.” Và, ở một đoạn khác, “… Ở đó có cái gì gần với huyền ảo, nhưng không phải huyền bí tôn giáo. Nó
gần với cảm thức rằng có những người đã đi qua đến tận bên lề của cái-gọi-là thực
tại, nhìn rõ bộ mặt bấp bênh của nó, rồi quay về với một cái nhìn trong sáng
hơn.”
Nói cho cùng, “bên lề của cái-gọi-là thực tại” của Tuệ Sỹ phải chăng chính là “vũ trụ dửng dưng, im lặng” của Camus, và hành động “quay về với một cái nhìn trong sáng hơn”
của Đông phương thì đồng nghĩa với hành trạng “phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho
có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không
có ý nghĩa nào” của Tây phương?
Tino Cao dấn thêm một bước nữa đi sâu hơn vào biện biệt đạo-đời
trong bài tiểu luận Huyền thoại Duy-ma-cật: Triết học của trí tuệ bất nhị và đời sống nhập
thế.
Huyền thoại
Duy-ma-cật là một chuyên luận của Tuệ Sỹ, mà theo Tino Cao, tác
phẩm không chỉ là một thiên khảo cứu về kinh điển Đại thừa mà còn là một cuộc đối
thoại mở giữa triết học, văn chương và tâm linh. Anh lý luận, “vì đạo không nằm
ngoài cuộc sống mà chính là cách con người hiện diện trong từng hoàn cảnh với sự
tỉnh thức và trí tuệ” nên “người giác ngộ không cần trốn khỏi thế giới
mà cần thấy rõ bản chất của nó bằng con mắt không phân biệt. Tự do, theo tinh
thần ấy, không đến từ sự cắt đứt với đời mà từ khả năng sống giữa đời mà không
bị đời chi phối.”
Kỳ thực, ý niệm này không mới, nó chính là tư tưởng chủ đạo
trong khái niệm “Cư trần lạc đạo”, vốn
là một trong những ý niệm đẹp đẽ và độc sáng nhất trong tư tưởng Phật giáo Việt
Nam, thể hiện triết lý tâm linh của Tôn giả Trần Nhân Tông một cách rõ ràng
đáng kinh ngạc. Thoạt nhìn có vẻ đơn giản, nhưng hàm ý của nó lại vô cùng sâu sắc.
“Cư trần lạc đạo” xuất
phát từ bài Cư trần lạc đạo phú của vua
Trần Nhân Tông, và ta có thể hiểu theo nghĩa đen là: “Sống trong thế gian,
nhưng hãy vui hưởng trong Đạo.” Nó thể hiện một nhận thức cốt lõi của truyền thống
Thiền học Trúc Lâm: Bạn không cần phải trốn tránh thế gian để đạt được giác ngộ.
Bạn có thể sống trọn vẹn trong xã hội – làm việc, cai quản, nuôi dạy gia đình, yêu
đương, đối mặt với xung đột – mà vẫn có thể tu tập hoàn thiện để giác ngộ. Đây
là khác biệt lớn lao so với định kiến về sự từ bỏ thế tục trong Phật giáo.
Triết lý đằng sau khái niệm của Trần Nhân Tông dựa trên ý tưởng:
Giác ngộ không ở nơi khác. Ngài bác bỏ ý tưởng cho rằng giải thoát tâm linh đòi
hỏi phải rời bỏ xã hội, phải từ bỏ trách nhiệm, phải lui về non cao rừng thẳm hay
vào chùa sinh sống, vv. Thay vào đó, cái “thế giới bụi bặm” (trần) này tự nó là lĩnh vực, môi trường
tu tập, tự nó là nơi chốn cho ta hành đạo. Điều này phù hợp với sự nhấn mạnh của
Thiền tông về tính bất nhị: Không có sự phân biệt nghiêm ngặt giữa thiêng liêng
và trần tục.
Đó cũng là ý nghĩa mà Tino Cao rút tỉa từ cuốn
sách của Tuệ Sỹ khi anh viết, “… Kinh
nghiệm bất nhị mà Duy-ma-cật nêu ra không khiến con người rút lui khỏi thế giới
mà giúp họ hiện diện trong thế giới với sự tỉnh táo. Đó là khả năng tham dự mà
không bị cuốn trôi, biết phân biệt đúng sai nhưng không dựng lên bức tường hận
thù, biết dấn thân mà không để mình bị đốt cháy trong cơn giận dữ hay ảo tưởng
cứu rỗi.”
Lý thuyết là vậy, nhưng thực hành là chuyện
khác. Đem ánh sáng trí tuệ của Phật học vào đời sống hằng ngày – sống giữa đời trần
tục mà không đánh mất cái tâm, hành đạo giữa đời hầu tìm kiếm con đường giác ngộ
– không phải là chuyện ai cũng làm được một cách dễ dàng.
3.
Tino Cao không dừng ngòi bút của mình tại đường biên thông
thường của văn chương chữ nghĩa, anh là người quan tâm đến xã hội với tất cả những xô lệch của Lịch sử, những điều tàn bạo
phi lý của chiến tranh. Với tấm lòng nhân hậu và cái nhìn nhân bản, anh đã kết
nối văn chương của nhà văn Han Kang (giải Nobel Văn học, 2024) với cuộc thảm
sát người dân Palestine tại Dải Gaza trong thời điểm hiện tại. Anh viết, “… Đọc Han Kang lúc này không còn là một thao
tác đánh giá Nobel đã lựa chọn “đúng” hay “sai” mà là một nỗ lực đặt lại câu hỏi
căn bản hơn về khả năng và giới hạn của văn chương khi đối diện với thảm sát.
Văn chương làm chứng vận hành ra sao khi bạo lực không phải là sự kiện đã khép
lại mà là một tiến trình được tổ chức, hợp thức hóa và tái diễn dưới những hình
thức khác nhau của quyền lực đế quốc và các thiết chế phụ thuộc vào nó.”
Đối với Tino Cao, văn chương không thuần túy chỉ là một nghệ
thuật làm đẹp nhằm thỏa mãn các nhu cầu trí thức, mà phải “gắn chặt với hiện tại khi mà bạo lực chiến tranh vẫn tiếp diễn và không
ngừng tìm kiếm sự hợp thức hóa.”
Tôi chẳng thể nào không đồng ý với anh, bởi văn học luôn là một
trong những phương thức mạnh mẽ nhất của nhân loại để chống lại nỗi kinh hoàng
của chiến tranh, không phải bằng cách lên án sự tàn bạo của nó (sự tàn bạo,
chính nó đáng bị phỉ nhổ rồi), mà bằng cách làm cho nó trở nên hữu hình, dễ liên
tưởng suy ngẫm và biến thành lời kêu gọi cấp bách về mặt đạo đức. Khi nhìn vào
các nền văn hóa và các thế kỷ khác nhau, bạn sẽ thấy cùng một mô hình: văn học
trở thành một lực lượng đối trọng với bạo lực, bởi vì nó có thể làm được những
điều mà các bài phát biểu chính trị, số liệu thống kê và báo cáo chiến trường
không thể làm được.
Văn học khôi phục lại bộ mặt con người mà chiến tranh đã xóa
bỏ.
Chiến tranh biến con người thành những con số, mục tiêu, hoặc
đưa ra những khái niệm trừu tượng như “kẻ thù”, “chiến thắng” hoặc “sự hy sinh”,
“đấu tranh”, vv., trong lúc văn học đảo ngược quá trình đó. Một cuốn tiểu thuyết,
một bài thơ, một cuốn hồi ký mang lại tên tuổi, ký ức, đời sống nội tâm, sự mâu
thuẫn, nỗi sợ hãi và hy vọng của con người trở lại với thực tại. Đây là lý do vì
sao những tác phẩm như Tất cả yên tĩnh tại
mặt trận miền Tây của Erich Maria Remarque; Lò sát sinh số Năm của Kurt Vonnegut; Những thứ họ mang theo của Tim O’Brien; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hay cuốn hồi ký tù Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, cùng
rất nhiều tác phẩm chiến tranh khác, mang tính phản kháng mạnh mẽ. Những tác phẩm
văn học này khẳng định rằng mỗi con người, mỗi nạn nhân, là một ý thức nội tại
có ý nghĩa, chứ không phải một biểu tượng, một con số vô cảm trong Lịch sử.
Cùng một biểu cảm như vậy, và với giọng điệu đầy thách thức, Tino
Cao viết, “… Giá trị của văn chương nằm ở
việc phá vỡ trạng thái chấp nhận đã trở nên quen thuộc đối với thế giới đang tồn
tại.”
Tino Cao cũng quan tâm đến khí hậu và môi trường của các sinh
hoạt tri thức trong quốc gia Việt Nam. Trong bài viết, nửa tường thuật nửa phê
bình, Việt Nam học và
câu hỏi về cơ chế tri thức, anh đưa ra nhận xét về một mâu
thuẫn mà người trong giới xưa nay đều thấy rõ: “… Tri thức được khuyến khích nhưng vẫn phải được kiểm soát; học thuật được
tôn vinh nhưng không được phép vượt khỏi khung giới hạn của hệ tư tưởng.”
Điều này là hiển nhiên, bởi đè nặng lên đất nước Việt Nam cho
đến ngày nay, hơn năm mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vẫn là một cơ cấu thể
chế độc tài đảng trị, toàn trị, công an trị. Mọi phản biện đều bị quy chụp là
phản động, và có thể bị tù đày, thậm chí chết chóc. Bởi thế, theo anh, “… tri thức ở Việt Nam chưa bao giờ được xem
như một lực lượng độc lập. Nó được gắn vào những mục tiêu chính trị, phát triển
hoặc tuyên truyền, và vì thế, vai trò của học giả bị thu hẹp vào việc hợp thức
hóa những định hướng đã được xác lập.” […] Khoảng cách giữa nghiên cứu và hành động, đó là vấn đề cốt lõi nhất của
học thuật Việt Nam hiện nay. Các viện nghiên cứu không được vận hành như trung
tâm tri thức độc lập mà như cánh tay nối dài của bộ máy hành chính. Nhà nghiên
cứu không phải là người đặt câu hỏi mà là người viết báo cáo. Họ bị cuốn vào vòng
xoáy của “nghiệm thu, đánh giá, tổng kết”, thay vì được khuyến khích phản biện,
thảo luận, hoặc đặt vấn đề mới.”
Những nhận xét và yêu cầu của Tino Cao trong bài viết nêu
trên là chính xác và đúng đắn, không ai có thể phản bác lại được, nhưng thử hỏi,
với một cơ chế lãnh đạo đất nước xem văn học, nói riêng, học thuật, nói chung,
là công cụ tuyên truyền cho chính trị, thì biết đến bao giờ và làm thế nào tri
thức Việt Nam mới có tự do trong tư tưởng, độc lập trong việc làm?
4.
Phải nói thêm về một ưu điểm khác nữa của Tino Cao, đó là,
văn
phong của anh mạch lạc, hấp dẫn và thường rất trau chuốt; ngoài phạm vi lý luận,
Phê bình ở đây trở thành một hình thức văn học. Anh rất xứng đáng được giải Văn
Việt, thể loại Nghiên cứu Phê bình năm 2025 này.
Ngoài
ra, cũng xin thú thực với anh cùng các độc giả rằng tôi đã gặp rất nhiều khó
khăn trong việc xét giải, bởi giữa ba nhà phê bình được vào chung kết – Tino
Cao, Nguyễn Hồng Anh và Đinh Thanh Huyền – tôi đã cảm thấy vô cùng lúng túng,
không biết chọn ai, vì ai cũng có ưu điểm, vượt trội hơn bình thường. Nhưng rồi,
tiếng chuông báo hiệu hết giờ của anh Hoàng Dũng réo gọi hối thúc bên tai khiến
tôi phải lật đật đặt bút xuống…
Khó
khăn. Lúng túng. Nhưng vui mừng. Vui mừng vì nhìn thấy sự trưởng thành, lớn mạnh
của ngành Phê bình Văn học Việt Nam; dần dà nó thoát ra khỏi cái bóng ma ý thức
hệ chính trị khiếp hãi, mà trong suốt bao nhiêu năm đè nặng lên tâm thức người
viết và người đọc. Xin cảm ơn tất cả. Vì tất cả đã giúp người đọc nhìn nhận văn
học như một phần của cuộc đối thoại rộng lớn hơn về ý nghĩa của việc làm người.
– Trịnh Y Thư
(Tháng
Hai, 2026)