1.
Trong
văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được
thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan
biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy
vậy, trong cuốn tiểu thuyết Có những kẻ
đi mãi không về của nhà văn Nguyễn Viện, ta thấy đó là một cuộc chạy trốn
thật sự ra khỏi những thực tại tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh, của đời sống.
Nó không phải giấc ngủ hay giấc mơ để tạm thời quên đi những nhọc nhằn, khổ ải
do đời sống đem lại, như giấc ngủ của Iliad
của Homer, hoặc như Shakespeare từng nói: “Giấc
ngủ hàn gắn những vết thương lòng.”
Con
người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn
phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là
đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của
chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp
những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như
con người.
Cuốn
tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện va chạm đến vấn đề cốt lõi của cuộc sống hiện
đại: tại sao sống như một con người lại khó khăn đến thế; tại sao sống là trốn
chạy, là bế tắc, một nghịch lý hết thuốc chữa khi những tiến bộ về cả mặt khoa
học lẫn tư tưởng đều đạt được những thành tựu lớn lao chưa từng thấy trong lịch
sử?
2.
Thạch
Xung, nhân vật chính diện của cuốn tiểu thuyết, người con của núi rừng, sinh ra
trong một ngôi làng hẻo lánh heo hút ở vùng cao, với cái tên hoang dã, như
chính nó, Rume. Mẹ gã trao thân cho một người đàn ông được mọi người trong làng
gọi là “ông Thày” và sinh ra gã. Bà được gả cho một người đàn ông khác trong
làng trước khi gã ra đời. Bởi thế trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu gã mặc
nhiên xem người đàn ông đó là cha mình. Cùng lúc có một người đàn bà khác cũng hiến
dâng thân xác cho “ông Thày” và sinh ra một người con gái tên Thị. Ngôi làng
mang một khí hậu hiện thực huyền ảo, “… ẩn
khuất giữa đám cây rừng ấy chưa bao giờ lạnh lẽo. Nó luôn được sưởi ấm bởi những
hơi thở nóng của đàn bà ở Rume. Bởi không một người đàn bà nào không bị xao xuyến
bởi ánh mắt dịu dàng của Thày…” Và nặng mùi dục tính, “Mùi ma mị của bà hoà quyện với mùi rừng man dại nhồi ông lên xuống giữa
chơi vơi của đất trời. Mơ và thật. Bà Mắm rất tự hào vì được ông yêu. Như ân sủng.
Như biệt đãi. Cho dẫu niềm tự hào ấy vẫn phải che giấu như bóng tối trong lô cốt,
nhưng vẫn làm cho thần thái bà trở nên rạng ngời.” (Tiểu đoạn 1: Cái lô cốt ở Rume).
Tình
cảm khắng khít giữa Thạch Xung và Thị theo thời gian ngày càng nảy nở, nhưng
không có một tình huống “Trăm năm cô
đơn” nào xảy ra, mà thay vào đó là chiến tranh. Chiến tranh ập đến kéo theo tất
cả những chết chóc, đổ vỡ, chia lìa, tan tác. Làng Rume bị chặt khúc ra từng mảnh
bởi cả hai phe, Quốc gia lẫn Giải phóng. Ông Thày bị cắt đầu vì bị tình nghi là
Việt gian, các người khác như bầy chim vỡ tổ, mỗi người tìm một phương lánh nạn.
Thạch Xung và Thị cũng bị cuốn trôi theo cơn thác lũ ấy về thành phố chạy trốn,
kiếm miếng ăn, nhưng mất liên lạc với nhau một thời gian dài.
Nhà
văn Nguyễn Viện dành khá nhiều câu chữ trong cuốn tiểu thuyết để nói về cuộc
chiến tranh ấy, tuy vậy, ông không hề đả động gì đến việc cuộc chiến xảy ra như
thế nào; năm tháng, những biến cố trọng đại cũng không được moi ra từ lịch sử
hoặc ký ức, mà chỉ nói về những hệ lụy đau đớn do cuộc chiến gây ra. Điều này
không lạ. Bởi sứ mệnh (nếu có) của tiểu thuyết không phải minh họa cho Lịch sử,
mà là lấp đầy những chỗ trống do Lịch sử vô tình hay cố ý bỏ quên. Nguyễn Viện
nhìn chiến tranh với con mắt kinh hoàng tột độ, “… Con người bị ném vào chiến tranh như miếng thịt ném cho thú dữ trong sở
thú.” Ở một đoạn khác, ông viết:
“Đao kiếm hay
súng ống, xưa nay vẫn là thứ vũ khí để giết người và nó gắn bó với lịch sử con
người như một thuộc tính. Một cám dỗ huỷ diệt, mãnh liệt và ám ảnh. Vì thế, vũ
khí mỗi ngày một tinh vi và hiệu quả hơn. Nó cũng lôi cuốn con người hơn. Mang
đao kiếm hay súng ống không chỉ là tự vệ hay giết người, mà nó nâng cấp và thị
uy bản ngã.” (Tiểu
đoạn 5: Thành phố).
Đọc
đến đây, tôi bỗng nhớ một câu viết của nhà văn Mỹ Henry Miller, “Chúng ta giết nhau vì chúng ta hãi sợ chính
cái bóng của mình, sợ rằng nếu chúng ta sử dụng một chút lý trí, chúng ta sẽ phải
thừa nhận rằng những nguyên tắc cao cả của chúng ta là sai lầm.”
Đoạn
văn trên của Nguyễn Viện là tiếng dội từ vách núi vọng về của câu nói của Henry
Miller, mà tôi hiểu như sau:
Chiến
tranh là sự hủy diệt mang tính biểu tượng đối với kẻ khác, nhưng bạo lực không
bắt nguồn từ sức mạnh hay niềm tin, mà từ nỗi sợ hãi. Sợ hãi khi nhận ra khả
năng tàn ác của chính mình. Sợ hãi khi thừa nhận rằng chúng ta không trong sạch
về mặt đạo đức như chúng ta tuyên bố. Sợ hãi rằng “kẻ thù” không hoàn toàn ở bên
ngoài, mà phản ánh điều gì đó chưa được giải quyết bên trong chúng ta. Bằng
cách phóng chiếu bóng tối này ra bên ngoài, chúng ta biến xung đột nội tâm
thành xung đột ngoại tại. Kẻ thù trở thành một vật chứa tiện lợi cho những gì
chúng ta không thể chịu đựng được ở chính mình. Do đó, bạo lực là một hình thức
trốn tránh tâm lý.
Đoạn,
cái “bản ngã được nâng cấp” của Nguyễn Viện hay cái “nguyên tắc cao cả” của
Henry Miller là gì, và tại sao chúng ta hãi sợ nó là sai lầm?
Đây
là lời buộc tội cốt lõi. Miller không tấn công các nguyên tắc nói chung, mà là
các nguyên tắc được tôn vinh – những lý tưởng được nâng lên vượt quá sự phê
phán và tách biệt khỏi thực tế. Chúng trừu tượng (quốc gia, sứ mệnh, cách mạng,
tự do, sự trong sạch, sự tiến bộ, hệ tư tưởng, vv.) Họ đòi hỏi sự hy sinh –
nhưng không bao giờ từ những kẻ định nghĩa chúng. Họ biện minh cho sự tổn hại
là cần thiết, không thể tránh khỏi. Nói cách khác, chiến tranh, việc giết chóc
tiếp diễn không phải vì con người thiếu hệ thống đạo đức, mà vì họ bám víu vào
chúng quá cứng nhắc. Bạo lực trở thành một cơ chế phòng vệ để bảo vệ hình ảnh bản
thân về mặt ý thức hệ.
Tại
đây, ý thức hệ được trừu tượng hóa; những lý luận đạo đức, luân lý thông thường
bị đàn áp, dẹp bỏ; bạo lực được biện minh như một nguyên tắc. Và, khốn nạn thay!
Ranh giới giữa nguyên tắc và tội ác mỏng manh hơn chúng ta nghĩ.
Câu
chuyện “ông Thày” bị cắt đầu trong thiên tiểu thuyết không là một biểu tượng ẩn
dụ, không là một sản phẩm của tưởng tượng. Nó từng thật sự xảy ra nhiều lần
trong thời chiến tranh Việt Nam, từ nhiều phe phái, không riêng gì phe Việt
Minh hay Cộng sản. Cắt đầu người, một hành động tàn bạo kinh khiếp, bạn đừng
nghĩ nó chỉ xảy ra vào thời Trung cổ phong kiến, nó từng xảy ra vào thời gọi là
văn minh hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là, tại sao con người lại có thể tàn ác,
nhẫn tâm như thế với đồng loại?
Câu hỏi này đã được chính nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn
hỏi, và câu trả lời của ông giản dị là: Nó chính là cái ý thức hệ.
Theo Solzhenitsyn, nguyên uỷ của tội ác là ý thức hệ. Ý thức
hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả
những kẻ cản trở bước đường của mình. Nó được bao bọc bởi lớp hào quang giả tạo
rồi trang trọng đưa lên ban thờ. Từ đó kẻ gây tội ác cứ việc an tâm gây tội ác
mà lương tâm chẳng hề bị cắn rứt, bởi hắn chỉ cần vái lạy, nhân danh cái ý thức
hệ đó thì bất cứ việc gì, dù tàn độc cách mấy, hắn vẫn có thể thản nhiên làm được.
Cái ác tiềm ẩn trong DNA của mỗi chúng ta, với ý thức hệ như thùng phuy dầu
xăng, chỉ cần một tia lửa nhỏ lóe lên cũng đủ cho nó biến thành đám cháy lớn thiêu
đốt bất kỳ thứ gì nằm cản đường cản lối nó.
3.
Những
người con của núi rừng bỏ chạy về thành phố, một nơi chốn hỗn loạn, xã hội suy
đồi đến tận đáy đất đen, mọi giá trị truyền thống bị lật nhào, không lý tưởng,
mọi ý nghĩa tiêu tan, người ta giẫm đạp lên nhau mà sống, con trai làm du đãng,
con gái làm đĩ, hoặc khá lắm thì buông thả, sao cũng được, miễn sống. “Một chủ nghĩa hiện sinh được hiện thực hoá đồng hành
trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản.” Tác giả viết như
thế ở tiểu đoạn 7.
“… Trong cơn lốc xoáy ấy, Thạch Xung không muốn cầm súng vì tổ quốc hay một
lý tưởng nào, chàng cũng không muốn cầm súng như cách để kiếm miếng ăn, hoặc giết
người để bảo vệ cách sống của mình. […] Chiến tranh là một mâu thuẫn và nó tạo
ra những mâu thuẫn khác. Hơn bao giờ hết, những mâu thuẫn nội tại xé vụn Thạch
Xung. Và đó là một Thạch Xung du đãng. Từ chối làm nghĩa vụ công dân. Phủ nhận
thực tại. Mỗi bước đi của Thạch Xung là một hố thẳm... Và chàng trở thành hố thẳm,
bất khả vãn hồi.” (Tiểu
đoạn 7: Những ngã ba lạc lối).
Thế
là Thạch Xung bắt đầu cuộc trốn chạy của mình, trốn chạy theo cả nghĩa đen lẫn
nghĩa bóng. Gã bị phe Quốc gia bắt lính. Đào ngũ. Bị đuổi, bơi qua sông trốn, gặp
ngay thằng em Thạch Xâm chĩa AK vào đầu, lại bơi ngược về phía Quốc gia. Lại chạy.
Chạy thục mạng. Chạy miết. Cho đến khi trở thành một tay du đãng khét tiếng.
Tiếng
tăm gã được đồn thổi, và các thế lực chính trị thuộc cả hai phe tìm đến gã mời
mọc, chèo kéo, thậm chí dọa nạt. Nhưng gã cương quyết và khôn khéo chối từ, “Tôi không đủ cao cả để hy sinh thân mình cho điều gì. Sự thật, tôi là kẻ
sợ chết. Nên tôi sẽ không thể làm gì nguy hiểm đến an nguy của tôi. Tôi cũng
không muốn gây nợ máu với ai.” (Tiểu đoạn 8: Những giấc mơ bụi bặm).
Thế
nhưng, do hoàn cảnh và thời thế đưa đẩy, bỗng một hôm Thạch Xung trở thành một
nhân vật chính trị sáng giá. Và, kết quả đáng buồn là gã ngày càng bị cuốn hút
sâu vào vũng lầy của những thủ đoạn, mưu toan chính trị đen tối. “Chính trị vẫn là bán mình cho quỷ.” Gã
phải quỵ lụy “điếu đóm” các nhân vật như cụ Dunhill, lão Hà Việt bên cốc rượu
hay bàn đèn thuốc phiện. Gã cảm thấy chán ngán và cuối cùng, chịu đựng hết nổi,
gã bỏ lại tất cả, đi lập một cái am và giả dạng thầy tu. Gã lại bắt đầu một cuộc
trốn chạy mới.
“Thạch Xung không muốn
bị cuốn vào cuộc sát phạt địch-ta… Nhưng địch hay ta sẽ chẳng có bên nào cho
con người quyền lựa chọn.” (Tiểu
đoạn 8: Những giấc mơ bụi bặm). Đó là
bi kịch của chiến tranh Việt Nam.
Chiến tranh Việt Nam là một
cuộc chiến phức tạp, có kẻ nhìn nó dưới góc độ một cuộc chiến ủy nhiệm giữa hai
khối Tư bản và Cộng sản trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Sự thật là sau
khi tách cái vỏ bọc mạ vàng giả, gạt bỏ tất cả những khẩu hiệu tuyên truyền, đại
loại như “chống Mỹ cứu nước” hoặc “bảo vệ tiền đồn tự do”, thì cuộc chiến ấy hiện
nguyên hình là một cuộc nội chiến, anh em giết nhau, không hơn không kém. Sự lựa
chọn bi thảm của một con người trong cuộc nội chiến xuất phát từ sự xung đột giữa
nghĩa vụ đạo đức, bản sắc cá nhân và lưỡi răng cưa tàn bạo của cỗ máy lịch sử
vô nhân tính. Không giống như các cuộc chiến tranh thông thường chống lại kẻ
thù rõ ràng từ bên ngoài, nội chiến làm tan vỡ chính khung cảnh đạo đức. Nó xóa
bỏ sự phân biệt giữa “chúng ta” và “họ”, biến hàng xóm thành kẻ thù, anh em
thành đối địch, và lương tâm cá nhân thành một chiến trường tranh chấp khốc liệt.
Bi kịch không chỉ nằm ở sự đau khổ hay mất mát, mà còn ở sự không thể tránh khỏi
việc lựa chọn sai lầm, lựa chọn nào cũng là một lựa chọn mà cuối cùng đều đưa đến
những hậu quả đau đớn, những thảm cảnh, chẳng những cho mình mà còn cho bao người
khác.
Nó không phải sự tự do lựa
chọn giữa thiện và ác; thay vào đó, con người buộc phải lựa chọn giữa những điều
tốt đẹp nhưng lại mâu thuẫn với nhau. Lòng trung thành với gia đình có thể xung
đột với lòng trung thành với phe phái mình ủng hộ; lòng trung thành với nguyên
tắc đạo đức có thể mâu thuẫn với sự sống còn; lòng trung thành với sự thật có
thể gây nguy hiểm cho những người thân yêu. Bất kể con đường nào được lựa chọn,
hắn đều phản bội điều gì đó thiết yếu đối với bản sắc của mình. Hành động lựa
chọn không giải quyết được xung đột, nó vĩnh viễn bị đóng đinh vào tính cách của
hắn.
Nội chiến cũng phá hủy chuẩn
mực của sự rõ ràng về đạo đức. Trong lý luận đạo đức thông thường, trách nhiệm dẫn
đến một khuôn khổ giá trị ổn định. Nội chiến phá vỡ khuôn khổ đó. Mỗi bên đều
tuyên bố tính hợp pháp, công lý và sự cần thiết. Sự tuyên truyền, đe dọa, nỗi sợ
hãi, lòng bất mãn, vv., làm méo mó nhận thức, khiến hắn gần như không thể biết
liệu mình đang bảo vệ công lý và chính nghĩa hay đang phá hoại cho đất nước trở
nên tan hoang. Người chọn một phe thường làm như vậy trong điều kiện bất ổn cực
đoan, bởi biết rằng sự phán xét trong tương lai – bởi lịch sử hoặc bởi lương
tâm của chính mình – có thể lên án hắn.
Một khía cạnh bi thảm khác
là sự cưỡng bức được ngụy trang dưới dạng lựa chọn. Trong một cuộc nội chiến,
trung lập thường bị xem là phản bội. Một con người có thể bị buộc phải chiến đấu
không phải vì hắn tin tưởng, mà vì từ chối có nghĩa là chết, tù đày, gia đình bị
liên lụy. “Sự lựa chọn” của hắn trở thành hành động sinh tồn chứ không phải niềm
tin. Tuy nhiên, ngay cả hành động bị cưỡng bức cũng để lại hệ quả đạo đức. Hắn phải
sống với những gì mình đã làm, ngay cả khi hắn chưa bao giờ thực sự muốn điều
đó. Bi kịch xuất hiện ở đây từ khoảng cách giữa ý chí và trách nhiệm: hắn phải
chịu trách nhiệm về những hành động mà hắn không thể nào tránh khỏi.
Chiến đấu trong một cuộc nội
chiến thường đòi hỏi phải phi nhân hóa những người từng thân quen – những người
nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng phong tục, cùng một lịch sử. Giết một kẻ
thù như vậy gây ra vết thương sâu sắc hơn so với giết một người lạ, bởi nó hủy
diệt một thế giới chung. Ngay cả khi mục đích là chính đáng, hành động đó vẫn
làm xói mòn bản chất đạo đức của con người. Hắn không chỉ đối mặt với nguy cơ tử
vong, mà còn đối mặt với nguy cơ trở thành một người vong thân không thể nào hoàn
toàn hòa giải với con người trước đây của mình.
Nội chiến cũng đặt ra một lựa
chọn bi thảm giữa hành động và tội lỗi. Hành động là tham gia vào bạo lực và bất
công; không hành động là cho phép bạo lực và bất công hoành hành không kiểm
soát. Điều này phản ánh một vở bi kịch Hy Lạp cổ điển, trong đó mọi hành động
có thể đều vi phạm một giá trị thiêng liêng nào đó. Con người bị mắc kẹt trong
một tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, nơi hắn làm gì hay không làm gì đều
có tội như nhau. Bi kịch của hắn không phải là hắn lựa chọn sai lầm, mà vì cái thế
giới hắn ở bên trong đã được cài đặt để bất kỳ chọn lựa nào cũng sai lầm.
Cái bi kịch ấy không chấm dứt
sau khi chiến tranh kết thúc. Con người phải sống trong một xã hội có những ký ức
khác biệt so với hắn. Người chiến thắng viết nên lịch sử; người thua cuộc mang
theo sự im lặng. Những hành động từng được ca ngợi là anh hùng có thể sau này bị
coi là tội ác, hoặc ngược lại. Hòa giải đòi hỏi sự quên lãng, nhưng lương tâm lại
chống lại sự xóa bỏ. Con người trở thành một mâu thuẫn sống – vừa là người tham
gia vừa là người chứng kiến, vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm – không thể hoàn
toàn biện minh hay hoàn toàn hòa giải. Theo nghĩa này, lựa chọn bi thảm của con
người trong chiến tranh không phải là một khoảnh khắc mà là một trạng thái tê
liệt kéo dài suốt đời. Nó tiết lộ một sự thật cơ bản về đời sống đạo đức của
con người dưới áp lực cực đoan: rằng bi kịch không phát sinh từ sự yếu đuối về
tính cách, mà từ những tình huống mà trật tự đạo đức tự thân sụp đổ. Nội chiến
cho thấy sự mong manh của đạo đức, và cái giá phải trả để giữ được nhân tính
khi lịch sử không cho phép ai có được một đôi bàn tay sạch sẽ và sự minh triết
trong sáng.
Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về của nhà văn Nguyễn Viện (hay bất cứ một
cuốn sách lịch sử cũng như văn học nào về chiến tranh Việt Nam) với tâm trạng
như trên.
4.
Cuộc
chiến nào cuối cùng rồi cũng kết thúc, nhưng gã Thạch Xung không tìm được nơi
chốn an thân mà vẫn tiếp tục cuộc trốn chạy.
Thời
chiến tranh lúc chạy về thành phố, gã gặp lại Thị, và khi biết ra hai người là
anh em cùng cha khác mẹ, gã xem Thị như người em gái. Thị được xem là hoa khôi
trong các chốn ăn chơi có lính Mỹ lui tới và được một người lính Mỹ tên James
yêu thương lấy làm vợ. Thị theo anh ta về Mỹ sinh sống. Thạch Xung cũng gặp một
cô gái tên Mimi Đen, một cô gái lớn lên trong thời loạn, sống buông thả, bất cần.
Cô gái bám chặt gã trong bất kỳ cảnh huống nào, dù là khi gã đội lốt tu hành.
Cuộc sống như bào ảnh. “Không phải sống, cũng
không phải chết. Một cảnh giới vượt thoát mọi giới hạn, nhưng không phải niết
bàn, mà chỉ là nhất thể hoá ba la mật, chân như thực tại.” (Tiểu đoạn 10: Đào thoát).
Cuộc
sống ấy, như chúng ta đều biết, là một cuộc sống không có ngày mai, ngay cả khi
đất nước thống nhất, hòa bình trở lại, khi xã hội đầy bất công, phi lý, khi con
người bị phân biệt đối xử như súc vật. Gã vẫn sống với Mimi Đen, cả hai bươn chải
kiếm sống, tình yêu ấy vẫn còn, nhưng là một thứ tình yêu bị đầu độc.
“Tình yêu để kết sinh hoa trái nhưng tình yêu đã bị đầu độc. Bản năng và
khao khát làm mẹ của Mi bị bóp chết nhưng nàng không dám ép Thạch Xung, bởi
nàng biết hiện tại của họ mong manh bất trắc, mà tương lai thì không ai dám tin.”
(Tiểu đoạn 13: Đường dài).
Cứ thế diễn tiến, phần I của
cuốn tiểu thuyết chấm dứt với những nốt nhạc đượm buồn, chua xót trong câu nói của
Thạch Xâm: “Chiến tranh hay hoà bình, lịch
sử hay cuộc sống vẫn là cái cối xay thịt.” (Tiểu đoạn 13: Đường dài).
Trong phần II của cuốn tiểu
thuyết, Thạch Xung từ chủ thể ngôi thứ ba trở thành ngôi thứ nhất, và lúc này
đã là một ông già bảy mươi tuổi. Từ hòa bình tới chiến tranh rồi trở lại hòa
bình, nhưng bao giờ ông cũng cảm thấy bị mắc kẹt giữa gọng kềm của kiếp sống.
Hòa bình là một cuộc chiến khác không tiếng súng. Thế rồi, ông tự an ủi rằng dẫu
sao ông sống sót, và ông tìm về sống trong ngôi làng Rume xưa cũ của ông. Rất
khó khăn cho ông làm thế, không chỉ vì tiền bạc mà còn bởi một ký ức mà ông muốn
xóa nhòa. Trở về ngôi làng xưa là một cách thế hòa giải với chính con người
ông, bởi nó chính là món bảo vật linh thiêng nuôi dưỡng tâm hồn ông suốt đời
người. “Tôi đã gìn giữ cái huyền hoặc ấy cho suốt cuộc
đời mình như một thứ gia bảo. Đồng thời, tôi cũng bị dập vùi trong hiện thực khốc
liệt của con người, một cách trần trụi nhất mà tôi không thể trốn chạy, dù tôi
luôn trốn chạy.” (Tiểu đoạn 1, Phần II: Ký
ức của mùi).
Lúc
này Mimi Đen đã qua đời, Thị sống ở bên kia đại dương, những người thân yêu chẳng
còn ai, ông Thạch về quê cũ Rume mua đất, dựng nhà làm lại từ đầu. Ngày ngày
ông đi chăn bò, trồng rau, trồng cây, sống với những người dân quê lam lũ nhưng
chân chất. Ông cũng vui vì có người bạn già, ông Giải phóng, vốn là người theo
cách mạng dạo trước nhưng bị đánh bật ra ngoài như bao kẻ khác. Ông tạm ổn
trong tuổi già, tự an ủi bằng ý nghĩ, “Con
người có thể tàn ác, bất chấp… nhưng tính người sẽ không bao giờ mất đi.”
(Tiểu đoạn 3, Phần II: Mùi ở chân mây).
Ông an phận, vui với cuộc sống bình dị nơi thôn dã cho dù một hôm cơ ngơi của
ông bị nhà nước nhân danh sự phát triển kinh tế cho xe ủi đất đến ủi bằng, cướp
sạch. Ông chỉ cười, tự giễu, “… Tôi chỉ
là kẻ trốn chạy. Luôn luôn trốn chạy. Nên chẳng chẳng làm gì ra hồn.” (Tiểu
đoạn 5, Phần II: Mùi chuột đồng).
Ông
Thạch cũng vui vì có một tình yêu khác với người phụ nữ thông minh lịch lãm tên
Lữ Thảo, nhưng Lữ Thảo đến đến đi đi và cuối cùng cô đi luôn, không bao giờ trở
lại. Chẳng còn thiết tha chạy theo cuộc sống nữa, ông dựng một cái am tre mãi tận
thượng nguồn xa vắng của dòng suối, đêm đêm gõ mõ tụng kinh. Niềm an ủi sau
cùng là trong những ngày cuối đời ông có người đàn bà quê mùa gốc Miên săn sóc
ông, chính cô là người viết hai chữ THẠCH XUNG lên mộ chí của ông bên bờ suối.
Kết thúc một đời người.
5.
Cuốn
tiểu thuyết được viết với một văn phong bàng bạc tính hiện thực huyền ảo, đôi
khi như phi thực, tuy không sử dụng những thủ pháp hiện đại như siêu hư cấu hoặc
dòng ý thức. Chủ yếu của cuốn tiểu thuyết vẫn là miêu thuật một câu chuyện. Câu
chữ mạnh mẽ, có lúc sống sượng, như muốn lột tả tính cách tàn bạo của điều muốn
thuật. Cấu trúc truyện được viết theo tự sự biên niên, có những đoạn chuyển mạch
bất ngờ. Bối cảnh truyện là lịch sử nhưng không đi sâu vào biến cố, cũng không
đào sâu tâm lý nhân vật. Tự sự được sử dụng như những nét chấm phá trên một
toàn cảnh dàn trải rộng lớn, và những chấm phá tự sự đó nối kết nhau để tạo nên
mặt dệt của cuốn truyện.
Nhà
văn Nguyễn Viện có tham vọng tóm gọn một đời người trong cuốn tiểu thuyết trên
bốn mươi nghìn từ ấy, từ lúc sinh ra đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về
cát bụi. Cuốn tiểu thuyết là khúc giao hưởng buồn bã nói lên toàn bộ sự phi lý
của kiếp người. Sống là trốn chạy. Sống trong thất lạc. Mọi chọn lựa đều vô
nghĩa, đều đem đến cho bản thân sự hủy diệt.
Tự
thân cuộc sống vốn là vô nghĩa, nó dửng dưng với ta một cách phi lý. Câu hỏi
mang tính hiện sinh là, ta phải làm gì khi đối đầu với nó. Triết gia Jean-Paul
Sartre có câu trả lời rất giản dị và dễ hiểu: Bởi hiện thể đi trước bản thể, điều
đó có nghĩa là sự quan tâm hàng đầu cho mỗi cá nhân là chính cá nhân đó – một
con người (“hiện thể”) độc lập trong hành động và có trách nhiệm, có ý thức – không
phải cái gì thuộc về nhãn hiệu, vai trò, khuôn mẫu, định nghĩa, hoặc những phân
loại ước định khác gán ghép lên cá nhân đó (“bản thể”). Đời sống thực sự của cá
nhân mới đích thực là cái cấu tạo nên “chân bản thể” của hắn, không phải một bản
thể do kẻ khác tùy tiện áp đặt lên hắn, định nghĩa hắn là gì. Do đó, con người,
xuyên qua ý thức bản thân, kiến tạo nên giá trị cho chính mình và định hình một
ý nghĩa cho cuộc sống.
Nói
cho cùng, sống là đấu tranh và cuộc đấu tranh không hẳn là toàn bộ câu chuyện.
Chúng
ta không ngừng cố gắng vượt qua cuộc sống bởi vì sự đấu tranh gắn liền với ý
nghĩa. Nỗi đau, những nỗ lực và sự bất định là cái giá phải trả cho việc quan
tâm đến điều gì đó – sự sống còn, tình yêu, sự phát triển, phẩm giá. Nếu không
có gì quan trọng, sẽ không có đấu tranh… nhưng cũng sẽ không có lý do để thức dậy
mỗi sáng.
Sự
đấu tranh là bằng chứng của giá trị. Chúng ta không chiến đấu vì những điều vô
nghĩa đối với mình. Chính việc cuộc sống cảm thấy khó khăn có nghĩa là có điều
gì đó quan trọng trong đó.
Hơn
nữa, chúng ta được tạo hóa ban cho hy vọng. Về mặt sinh học và tâm lý, con người
được tạo ra để tìm kiếm sự giải thoát, sự cải thiện và những khả năng – ngay cả
sau thất bại. Hy vọng không phải ngây thơ; nó là khả năng thích nghi.
Sự
phát triển chỉ xảy ra khi có sự kháng cự. Sức mạnh vật thể, kỹ năng, tính cách,
trí tuệ – tất cả đều hình thành bởi vì có điều gì đó chống lại.
Những
khoảnh khắc quý giá bù đắp cho sự nỗ lực. Niềm vui, sự kết nối, vẻ đẹp, tiếng
cười, tình yêu – những điều này không xóa bỏ nỗi đau khổ, nhưng chúng khiến nỗi
đau khổ trở nên đáng chịu đựng.
Chính
sự lựa chọn là sức mạnh. Ngay cả khi chúng ta không thể kiểm soát hoàn cảnh, việc
lựa chọn cách phản ứng mang lại cho cuộc sống cảm giác chủ động thay vì chỉ đơn
thuần là chịu đựng. Chúng ta không vượt qua cuộc sống để chiến thắng nó, mà để
tham gia vào cuộc sống. Để nói rằng, “Tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn đang lựa chọn.”
Và
đôi khi, vào những ngày khó khăn hơn, câu trả lời đơn giản và nhẹ nhàng hơn: Chúng
ta cố gắng bởi vì việc dừng lại, bỏ cuộc, là cái gì tồi tệ hơn là tiếp tục.
Khác
với nhân vật Billy Pilgrim, trong cuốn tiểu thuyết Lò sát sinh số Năm của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut, từ chiến trận trở
về tâm trí trở nên không bình thường, sống với những giấc mơ hoảng loạn, Thạch
Xung của Nguyễn Viện may mắn hơn. Sau chừng ấy khổ đau và tuyệt vọng, ông vẫn tỉnh
táo tìm được niềm vui an tĩnh ở cuối đời và có cái chết tương đối êm ả. Ta còn
mong muốn gì hơn thế?
– Trịnh Y Thư
(California,
Trọng Đông, 2026)
*
Có những kẻ đi mãi không về
Tiểu
thuyết của nhà văn Nguyễn Viện
Nhân
Ảnh xuất bản
Giá
US$20.00
Sách
có bán trên amazon.com. Xin bấm vào đường dẫn sau:
Amazon.com:
Có Những Kẻ Đi Mãi Không Về (Vietnamese Edition): 9798295678660: Vien, Nguyen:
Books