Lão
Jack gom những mảnh than vụn lại bằng một tấm bìa cứng rồi khéo léo rải lên đống
than đang trở màu bạc trắng. Khi đống than được phủ sơ sài, gương mặt lão chìm
vào bóng tối; nhưng khi lão cúi xuống quạt lò, ánh lửa tỏa lên soi cái bóng lom
khom của lão lên bức tường đối diện và khuôn mặt lão dần hiện ra. Đó là khuôn mặt
của một ông già, rúm ró, râu ria lởm chởm. Đôi mắt tèm hem lúc nào cũng ươn ướt
có con ngươi màu xanh của lão chớp chớp nhìn vào lửa, cái miệng nhểu nhão khép
mở, lúc khép, nó nhóp nhép như đang nhai cái gì. Khi than đã bén lửa, lão dựng tấm
bìa vào tường, thở dài, nói:
“Được
rồi, thưa ông O’Connor.”
Ông
O’Connor là một người đàn ông chưa già lắm nhưng tóc đã hoa râm, da mặt lốm đốm
mụn, ông vừa cuốn xong một điếu thuốc lá gọn gàng, nhưng khi nghe lão Jack cất
tiếng, ông ngẫm nghĩ sao đó lại tháo ra rồi lại từ tốn cuốn lại, và sau một
thoáng cân nhắc, quyết định liếm mép giấy.
“Ông
Tierney có nói khi nào ông ấy quay lại không?” ông hỏi bằng cái giọng the thé.
“Chẳng
thấy nói gì sất.”
Ông O’Connor
gắn điếu thuốc lên môi, thò tay vào túi áo. Ông lấy ra một xấp thẻ mỏng.
“Để
tôi lấy diêm cho ông,” ông già nói.
“Chẳng
cần, tôi dùng cái này đốt thuốc được rồi.”
Ông
chọn một tấm, nhìn xuống hàng chữ:
BẦU CỬ HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ
KHU VỰC ROYAL EXCHANGE
Ông Richard J. Tierney, P.L.G., trân trọng
mong nhận được lá phiếu và sự ủng hộ của quý vị trong cuộc bầu cử sắp tới tại
khu vực Royal Exchange.
Ông O’Connor
được đại diện của ông Tierney thuê đi vận động cử tri ở một khu vực trong thành
phố, nhưng vì thời tiết hôm nay xấu và đôi ủng bị thấm nước, nên suốt cả ngày ông
chỉ ngồi bên lò sưởi trong văn phòng ủy ban nằm trên phố Wicklow cùng với Jack,
lão quản gia già. Hai người ngồi như thế cho đến lúc trời tối dần. Hôm đó là
ngày mồng Sáu tháng Mười [1], ngoài trời lạnh lẽo và ảm đạm.
Ông O’Connor
xé một tấm thẻ, châm lửa, đốt thuốc. Ánh lửa chiếu lên huy hiệu hình chiếc lá
thường xuân màu xanh lục đậm, bóng loáng, cài trên ve áo ông. Ông già giương mắt
chăm chú nhìn, rồi lại cầm tấm bìa uể oải quạt lửa lò trong lúc ông kia hút thuốc.
Lão bỗng
nói, “Thật chán, nuôi con cái bây giờ sao mà khó khăn thế chứ không biết. Nào ai
ngờ nó lại thành ra như thế! Tôi đã cho nó theo học trường Christian Brothers,
cố gắng hết sức mình vì nó, ấy thế mà nó chẳng chịu học hành gì cả, suốt ngày chỉ
rượu chè, chơi bời bậy bạ. Nói có Giời làm chứng đấy, tôi đã cố hết sức dạy dỗ nó
nên người tử tế.”
Lão
mệt mỏi đặt tấm bìa xuống chỗ cũ.
“Chỉ
tiếc là bây giờ tôi già rồi, không thì đã uốn nắn nó lại. Lúc còn sức tôi quất
roi vào lưng nó. Còn mẹ nó thì… ông biết đấy, bà ấy nuông chiều nó đủ điều…”
“Ấy,
chính thế mới làm hư con cái,” O’Connor nói.
“Chắc
chắn là thế rồi,” ông già đáp. “Mà nào có được lời cảm ơn, chỉ toàn những câu hỗn
láo, xấc xược. Hễ thấy tôi có chút rượu vào mồm là nó ra mặt khinh nhờn tôi ngay
[2]. Thế gian này rồi sẽ ra sao khi con cái đối xử với cha mình như vậy?”
“Thằng
con ông năm nay bao nhiêu tuổi rồi?” O’Connor hỏi.
“Mười
chín.”
“Sao
ông không cho nó đi làm cái nghề gì đi?”
“Từ dạo
nó bỏ học tôi nào dám có một lời mắng nhiếc cái thằng say ấy bao giờ. Tôi bảo
nó, ‘Tao không nuôi mày nữa đâu. Tự mà đi kiếm việc đi.’ Nhưng hễ có việc kiếm
được tí tiền là nó lại đi uống rượu sạch.”
Ông O’Connor
lắc đầu thông cảm. Ông già im lặng nhìn vào lửa.
Bỗng
có kẻ mở cửa, gọi to:
“Xin
chào! Đây có phải phòng họp của Hội Tam Điểm không?”
“Ai
đấy?” ông già hỏi.
“Sao
các ông lại ngồi trong tối?” giọng nói ấy vang lên.
“Có
phải anh Hynes đấy không?” ông O’Connor hỏi.
“Phải.
Sao lại ngồi trong phòng tối om om thế này?” Hynes nói, vừa nói vừa tiến gần đến
phía có ánh sáng lò sưởi.
Anh
là một thanh niên cao gầy với hàng ria mép màu nâu nhạt. Trên vành mũ và cổ áo
khoác ngoài kéo dựng che kín cổ lấm tấm vài giọt mưa.
“Mat
này, tình hình đến đâu rồi?” anh hỏi ông O’Connor.
Ông O’Connor
lắc đầu. Ông già rời lò sưởi, đi chập choạng trong phòng mang đến hai chân nến,
châm lửa rồi đặt xuống mặt bàn. Căn phòng trơ trụi hiện ra, ánh lửa trong lò sưởi
mất đi màu sắc tươi vui. Trên tường chỉ thấy treo bản tuyên cáo tranh cử. Giữa
phòng đặt chiếc bàn nhỏ, trên chất đầy giấy tờ lộn xộn.
Ông Hynes
đứng tựa vai vào bệ lò sưởi:
“Hắn
đã thanh toán tiền nong cho các anh chưa?”
“Chưa.
Cầu xin Chúa đừng để tối nay hắn bỏ rơi bọn tôi.”
Hynes
cười.
“Ồ,
hắn sẽ trả thôi. Đừng lo.”
“Tôi
chỉ mong hắn đàng hoàng nếu thật sự muốn làm ăn,” ông O’Connor nói.
“Còn
Jack, ông nghĩ sao?” Hynes hỏi ông già, giọng đượm chút mỉa mai.
Ông
già quay lại ngồi xuống ghế cạnh lò sưởi, nói:
“Dù
sao chăng nữa thì hắn cũng có tiền. Không như cái gã thợ dạo khố rách áo ôm
kia.”
“Gã thợ
dạo nào?”
“Colgan
đấy,” ông già nói, giọng khinh bỉ.
“Chỉ
vì Colgan là dân lao động nên ông nói thế à?” Hynes hỏi. “Sự khác biệt giữa một
người thợ hồ lương thiện và một chủ quán là gì, hử? Người lao động cũng có quyền
ngồi trong Hội đồng Thành phố như bất cứ ai khác chứ, phải không nào? Thậm chí
còn xứng đáng hơn mấy tên shoneen [3]
lúc nào cũng ngả mũ khom lưng khúm núm trước mặt bất kỳ ai có chức vị? Mat, không
phải vậy sao?” Ông Hynes quay sang phía ông O’Connor.
“Tôi
nghĩ anh nói đúng,” ông O’Connor đáp.
“Ông
ta là người thẳng thắn, lương thiện, không hề có trò luồn cúi. Ông ta tranh cử vào
đó để đại diện cho tầng lớp lao động. Còn cái ông mà các anh đang làm việc cho đây
này, ông ta chỉ muốn kiếm chác chức vị nào đó thôi.”
“Tất
nhiên giai cấp lao động cần được đại diện,” ông già nói.
“Người
lao động,” Hynes tiếp, “xưa nay toàn bị đá đít mà chẳng được hưởng xu teng lợi
lộc nào. Nhưng chính giới lao động tạo ra mọi thứ. Người lao động đâu có đi tìm
những chức vị béo bở cho con cháu họ. Người lao động không lôi danh dự Dublin
xuống bùn chỉ để lấy lòng một ông vua Đức.”
“Ý
anh là sao?” ông già hỏi.
“Ông
không biết à? Họ đang định soạn diễn văn chào mừng Edward Rex nếu năm tới ông
ta đến đây thăm viếng. Cớ gì ta phải khom lưng khấu đầu trước một ông vua ngoại
bang?”
“Người
của chúng tôi sẽ không bỏ phiếu tán thành bài diễn văn ấy,” O’Connor nói. “Ông ta
tranh cử với danh nghĩa người theo Chủ nghĩa Dân tộc.”
“Không
tán thành à?” Ông Hynes nói. “Chờ xem. Tôi biết hắn quá mà. Có phải cái gã Tricky
Dicky Tierney [4] ranh ma quỷ quyệt không?”
“Lạy
Chúa! Joe ạ, có lẽ anh đúng,” ông O’Connor nói. “Riêng tôi thì tôi chỉ mong hắn
xuất hiện tối nay với túi tiền.”
Ba
người im lặng. Ông già lại cời đống than trong lò sưởi. Hynes giở mũ giũ nước rồi
bẻ cổ áo để lộ huy hiệu lá thường xuân cài trên ve.
“Nếu
người này còn sống,” anh nói, chỉ vào chiếc lá, “ta đã chẳng phải bàn chuyện
chào mừng chào miếc gì cả.”
“Đúng
vậy,” O’Connor nói.
“Chao
ôi, xin Chúa ban phước lành cho những ngày ấy!” ông già Jack thốt lên. “Thời đó
mới thật là có sinh khí chứ chẳng như bây giờ.”
Căn
phòng lại chìm vào im lặng. Đột nhiên, một người đàn ông thấp bé nhưng dáng điệu
nhanh nhẹn, với cái mũi luôn khụt khịt và đôi tai lạnh buốt xô cửa bước vào.
Ông ta tiến thẳng đến lò sưởi, xoa tay vào nhau như muốn xẹt tia lửa từ đôi bàn
tay.
“Các
cậu này, tối nay không có tiền đâu!” ông nói.
“Ông
Henchy, ngồi xuống đây đã nào,” ông già mời, đoạn đứng lên nhường chiếc ghế.
“Ồ, ông
Jack, đừng đứng dậy, Jack, ông ngồi yên đấy.” Ông Henchy nói, khẽ gật đầu chào
ông Hynes, đoạn ngồi xuống ghế ông già nhường.
“Anh
đã đi hết phố Aungier chưa?” ông hỏi ông O’Connor.
“Rồi,”
ông O’Conner trả lời, thò tay vào túi trên túi dưới tìm tờ tuyên cáo.
“Có gặp
Grimes không?”
“Có.”
“Thế
nào? Hắn định bầu cho ai?”
“Hắn
không hứa mà chỉ nói, ‘Tôi không nói cho ai biết tôi sẽ bỏ phiếu cho ai.’ Nhưng
tôi nghĩ sẽ ổn.”
“Sao
ổn được?”
“Hắn
hỏi ai là những người đề cử; tôi nói, và có nhắc tên Cha Burke. Chắc là ổn
thôi.”
Ông Henchy
lại khụt khịt mũi, xoa hai tay gần đống lửa rồi kêu lên:
“Chúa
ơi, Jack, xin ông ít than nữa được không. Chắc than vẫn còn chứ?”
Ông
già đi ra.
“Chẳng
ăn thua gì đâu,” ông Henchy lắc đầu. “Tôi nhờ thằng bé đánh giày, nó bảo, ‘Khi
nào thấy công việc chạy tốt cháu sẽ không quên ông đâu, ông tin chắc đi.’ Đồ nhãi
ranh, mới tí tuổi đầu đã tinh ma! Nhưng, than ôi, cũng phải thôi, nó làm gì khác
hơn được cơ chứ?”
“Mat,
tôi đã bảo anh mà, Tricky Dicky Tierney là một tên ranh ma quỷ quyệt.” Ông Hynes
nói.
“Ranh
như quỷ ấy,” Henchy nói. “Đâu phải vô cớ mà hắn có cặp mắt lợn! Cho ma quỷ bắt
hồn hắn đi. Tại sao hắn không trả tiền như một người đàng hoàng mà cứ nói ‘À,
ông Henchy này, tôi phải đi nói chuyện với ông Fanning… Ồ, tôi tốn nhiều tiền lắm
rồi.’ Đồ quỷ con! Chắc hắn quên chuyện hồi ông già hắn còn bán đồ cũ ở phố Mary’s
Lane.”
“Có
chuyện ấy thật ư?” ông O’Connor hỏi.
“Chắc
chắn luôn,” ông Henchy nói. “Ông không bao giờ nghe chuyện ấy à? Sáng Chủ nhật nào
cũng thế, trước khi tiệm mở cửa cho khách hàng vào mua sắm quần áo cũ, và, moya! có sẵn mấy chai rượu giấu ở một
góc xó nào đó. Ông hiểu ra chưa? Đấy, hắn nhìn thấy ánh sáng cuộc đời từ đó.”
Ông
già Jack quay lại với vài cục than, ông rải đều mỗi chỗ một cục trong lò sưởi.
“Thế
này thì chịu sao nổi,” ông O’Connor nói. “Hắn muốn ta làm việc không công cho hắn
à?”
“Chịu
thôi! Tôi bó tay,” ông Henchy đáp. “Chắc về nhà sẽ thấy thừa phát lại đứng chờ
sẵn ở cửa.”
Hynes
cười, đẩy vai khỏi bệ lò sưởi, đứng thẳng lên, chuẩn bị ra về.
“Rồi
sẽ ổn khi vua Eddie đến đây. Thôi nhé, các cậu, tôi đi đây. Hẹn gặp sau.
Bye-bye.”
Anh bước
chầm chậm ra khỏi phòng. Cả ông Henchy lẫn ông già, không ai buồn cất tiếng
chào, nhưng khi cửa gần khép, ông O’Connor gọi với theo:
“Bye,
Joe.”
Henchy
đợi một lúc rồi hất đầu về phía cửa ra vào, hỏi nhỏ:
“Anh
nghĩ hắn vào đây làm gì?”
“Chao
ôi, tội nghiệp Joe mà, hắn cũng túng thiếu như bọn ta thôi,” ông O’Connor vừa nói
vừa ném mẩu tàn thuốc lá vào đống lửa.
Ông Henchy
khạc đờm trong họng rồi nhổ một bãi nước bọt to tướng và mạnh đến nỗi lửa trong
lò suýt bị dập tắt, từ đống than nổi lên tiếng xì xì như phản đối.
“Nói
thật nhé,” ông nói, “tôi nghi hắn thuộc phe bên kia. Có khi là gián điệp của
Colgan không chừng. Đi dò la xem ta thế nào. Họ không nghi ngờ anh. Anh hiểu ra
chưa?”
“A, Joe
là người đàng hoàng, tử tế, anh đừng lo viển vông” ông O’Connor lại nói.
“Cha
hắn thì tử tế, đáng kính thật,” ông Henchy thừa nhận. “Ôi, cái lão già Larry
Hynes tội nghiệp! Thời của lão, lão từng làm được khối việc hữu ích! Nhưng tôi e
anh bạn của chúng ta đây thì không được mười chín ka-ra [5]. Tiên sư bố nhà nó.
Nghèo thì hiểu được, nhưng cái tồi bại tôi không hiểu nổi là con người như vậy
mà lại đi ăn bám thiên hạ. Không lẽ hắn chẳng có chút tự trọng nào sao?”
“Tôi
chẳng bao giờ tỏ ra nồng nhiệt tiếp đãi hắn mỗi khi hắn tới đây,” lão Jack nói.
“Cứ để hắn làm việc cho phe hắn và đừng mò tới đây dò la làm gì.”
Ông O’Connor
nói một cách gượng gạo trong lúc vấn một điếu thuốc mới:
“Tôi
nghĩ Joe Hynes là người ngay thẳng. Lại có tài viết lách. Ông nhớ bài anh ta viết
chứ?”
“Mấy
tay hillsiders-fenians [6] này khôn ngoan
quá hóa nguy hiểm, nếu anh hỏi tôi thì tôi sẽ nói như thế,” ông Henchy nói.
“Tôi tin rằng phân nửa bọn họ ăn lương của Lâu đài [7].”
“Khó
mà biết,” ông già nói.
“Ồ,
tôi biết chắc mà. Chó săn của Lâu đài cả…” ông Henchy nói. “Tôi không muốn nói
thằng cha Hynes này là vậy… Không, tiên sư bố nó, tôi nghĩ hắn có vẻ khá hơn… Nhưng
có một nhà quý tộc bé người mắt lác, chắc hẳn anh biết tôi đang nói về nhà ái
quốc nào rồi chứ.”
Ông O’Connor
gật gù.
“Nếu
ông muốn nghe thì tôi có thể kể cho ông biết về một thằng dòng dõi trực hệ của
Thiếu tá Sirr [8]! Ồ, máu trong tim của một nhà ái quốc! Đó là một thằng sẵn
sàng bán rẻ đất nước mình chỉ lấy bốn đồng xu, ái chà, rồi còn quỳ mọp xuống mà
tạ ơn Đấng Ky-Tô Toàn Năng vì đã có một đất nước để mà bán.”
Bỗng
có tiếng gõ cửa.
“Vào
đi!” ông Henchy nói.
Một
người trông giống một linh mục nghèo hoặc một diễn viên nghèo xuất hiện ở ngưỡng
cửa. Ông mặc một bộ quần áo đen được cài khuy kín mít quanh thân hình thấp bé,
và không thể biết ông ta đeo cổ cồn linh mục hay cổ áo dân thường, vì cổ chiếc
áo choàng sờn cũ với những chiếc khuy phản chiếu ánh nến, che kín cổ của ông.
Ông đội chiếc mũ tròn bằng nỉ cứng màu đen. Khuôn mặt lấm tấm những giọt nước mưa,
trông như khoanh pho-mát vàng bủng nhúng vào nước, trừ hai đốm hồng nơi gò má.
Ông đột ngột há cái miệng rất dài ra để biểu lộ vẻ thất vọng, đồng thời mở to
đôi mắt xanh lam sáng rực để tỏ vẻ vui mừng và ngạc nhiên.
“Ồ,
Cha Keon!” ông Henchy bật dậy khỏi ghế. “Có phải Cha đấy không? Xin mời Cha vào!”
“Ồ,
không, không, không!” Cha Keon đáp nhanh, mím môi như đang nói với một đứa trẻ.
“Cha
không vào ngồi một chút sao?”
“Không,
không, không!” Cha Keon nói, bằng một giọng dè dặt, khoan dung và mềm mại như
nhung. “Đừng để tôi làm phiền các ông! Tôi chỉ đang đi tìm ông Fanning…”
“Thưa
Cha, ông ấy đang ở quán Black Eagle,” ông Henchy đáp lời. “Nhưng Cha không vào
ngồi một lát được sao?”
“Không,
không, xin cảm ơn. Chỉ có tí việc thôi,” Cha Keon nói. “Cảm ơn nhiều nhé.”
Ông
lui ra khỏi cửa, ông Henchy cầm một chân nến, ra cửa soi đường tiễn ông xuống cầu
thang.
“Ồ,
xin đừng phiền!”
“Nhưng
cầu thang tối lắm.”
“Không,
không, tôi thấy được mà… Thật cảm ơn.”
“Cha
đi được chứ?”
“Được,
được... Cảm ơn… Cảm ơn.”
Ông
Henchy trở lại, đặt nến lên bàn rồi ngồi xuống chỗ cũ bên lò sưởi. Căn phòng lại
rơi vào im lặng trong vài khoảnh khắc.
“John
này,” ông O’Connor nói, tay châm thuốc bằng một tấm thẻ bìa khác.
“Hử?”
“Ông
ta… chính xác là cái gì vậy?”
“Anh
hỏi tôi câu dễ hơn tí được không,” ông Henchy đáp.
“Fanning
với ông ta xem ra có vẻ kết nhau lắm. Tôi thấy hai người hay trò chuyện với nhau ở quán Kavanagh’s. Ông
ta có thật là linh mục không?”
“Ừm,
có lẽ thế… Tôi nghĩ ông ta là cái mà người ta gọi là ‘con chiên đen [9]’. Tạ ơn
Chúa, ta không có nhiều loại người như vậy! Nhưng cũng có một vài… Ông ta là kẻ
bất hạnh kiểu nào đó…”
“Vậy
ông ta sống bằng cách nào?” ông O’Connor hỏi.
“Lại
thêm một bí ẩn nữa.”
“Ông
ta có liên quan tới một nhà nguyện hay nhà thờ hay tổ chức nào không…?”
“Không,”
ông Henchy nói, “tôi nghĩ ông ta tự bươn chải kiếm sống… Chúa tha tội cho tôi,”
ông nói thêm, “thế mà tôi cứ tưởng ông ta mang theo cả chục lọ bia đen.”
“Giá
có tí rượu uống lúc này thì cũng thú ra phết đấy nhỉ?” ông O’Connor nói.
“Tôi
cũng đang khát khô cả cổ họng đây này,” lão Jack nói.
“Tôi
đã nhắc thằng bé đánh giày ba lần bảy lượt,” ông Henchy nói, “bảo nó giao một chục
lọ bia đen. Vừa nãy tôi định nhắc nó thêm một lần nữa, mà thấy nó cứ đứng dựa
vào quầy, hai tay áo xắn lên, hăng say nói giăng nói cuội gì đó với lão Nghị
viên Cowley.”
“Sao
ông không nhắc nó thêm?” ông O’Connor hỏi.
“À, chỉ
vì tôi không muốn cắt ngang câu chuyện giữa nó với Nghị viên Cowley. Tôi đợi đến
khi bắt được ánh mắt nó rồi mới nói, ‘Về cái việc nhỏ tôi có nói với cậu ấy
mà…’ ‘Sẽ ổn thôi, thưa ông H.,’ nó bảo tôi... Ối chà, cái thằng nhóc tì hỉ mũi
chưa sạch ấy chắc lại quên béng mất rồi.”
“Chắc
có đám gì đang diễn ra chỗ đó,” ông O’Connor trầm ngâm. “Hôm qua tôi thấy cả ba
người, họ bàn tán sôi nổi ở góc phố Suffolk.”
“Tôi
thì biết tỏng cái trò cỏn con họ đang chơi,” ông Henchy nói. “Thời buổi bây giờ
muốn được phong làm Thị trưởng thì phải chi tiền cho các ‘Bố Thành phố.’ Thế rồi
họ sẽ cho ông làm Thị trưởng. Chúa ơi! Tôi đang hết sức nghiêm túc nghĩ đến
chuyện mình sẽ trở thành một ‘Bố Thành phố’ đây. Ông thấy sao? Tôi có hợp với
cái chức ấy không?”
Ông
O’Connor bật cười.
“Còn
chuyện tiền bạc…”
“Từ Dinh
Mansion đánh xe tứ mã ra, oách phải biết!” ông Henchy nói, “trong bộ lễ phục lộng
lẫy của tôi, còn lão Jack đây đứng phía sau, đầu đội bộ tóc giả rắc phấn bột. Được
chứ, hả?”
“Và
cho tôi làm bí thư của anh nhé, John.”
“Được
ngay! Tôi sẽ bổ nhiệm Cha Keon làm Cha Tuyên úy riêng. Ta sẽ có một đảng phái
gia đình.”
“Thật
đấy, ông Henchy ạ,” ông lão nói, “trông ông còn bảnh hơn khối người trong số bọn
họ. Có lần tôi nói chuyện với lão Keegan, người gác cổng cho Dinh Thị trưởng ấy
mà. Tôi hỏi lão, ‘Này ông Pat, ông thấy ông chủ mới thế nào? Dạo này không thấy
ông chơi bời gì nữa.’ Lão trả lời tôi, ‘Chơi bời cái con khỉ tiều! Cái thằng
cha sống nhờ mùi giẻ chùi dầu [10] ấy mà chơi với bời cái đếch gì.’ Thế rồi hai
ông biết lão ta kể gì với tôi nữa không? Tôi xin thề trước Chúa rằng tôi chẳng thể
nào tin nổi.”
“Cái
gì?” cả ông Henchy lẫn ông O’Connor cùng hỏi.
“Lão
ta nói với tôi, ‘Ông nghĩ sao về một Thị trưởng Dublin mà phải sai người đi mua
một cân sườn cừu về ăn bữa tối? Như thế mà gọi là sống sang trọng đấy à?’ Tôi
kêu trời trong lúc lão nói thêm, ‘Ông nghĩ xem, một cân sườn được chở tới Dinh Thị
trưởng!’ ‘Trời đất!’ tôi nói. ‘Giờ thì cái hạng người nào đang nắm quyền thế ở
chốn này đây?’”
Đúng
lúc ấy có tiếng gõ cửa, một cậu trai thò đầu vào.
“Gì
đấy?” ông lão hỏi.
“Quán
Black Eagle giao hàng,” cậu ta nói, lách người bước vào đặt một cái giỏ xuống
sàn, tiếng chai lọ va vào nhau kêu lách cách. Ông lão giúp cậu ta chuyển đống
chai từ giỏ lên bàn và đếm đủ số lượng. Xong, cậu ta khoác giỏ lên tay, hỏi:
“Có
vỏ chai trả lại không ạ?”
“Vỏ
chai gì?” ông lão hỏi lại.
“Chẳng
lẽ không để chúng tôi uống đã sao?” ông Henchy nói.
“Người
ta bảo cháu hỏi vỏ chai.”
“Mai
quay lại lấy,” ông lão nói.
“Này
cậu!” ông Henchy gọi, “cậu chạy sang quán O’Farrell mượn giùm chúng tôi cái mở
nút chai, nói là cho ông Henchy mượn nhé. Bảo ông ấy chúng tôi không giữ lâu
đâu. Cứ để giỏ ở đây.”
Cậu trai
đi ra ngoài. Ông Henchy xoa tay vui vẻ, nói:
“Thôi,
cũng được, hắn ta không đến nỗi nào. Dù sao cũng giữ lời hứa.”
“Nhưng
không có cốc uống,” ông lão nói.
“Ồ,
chuyện đó không hề chi, ông Jack ạ,” ông Henchy nói. “Xưa nay khối người tử tế
vẫn tu rượu trong chai mà.”
“Dù
sao có còn hơn không,” ông O’Connor nói.
“Hắn
ta không phải hạng người tồi tệ,” ông Henchy nói, “chỉ vì lão Fanning vay tiền hắn
ta nhiều quá. Cũng thuộc loại người tốt đấy, theo cái kiểu tầm thường chật hẹp
của mình.”
Cậu trai
quay lại với cái mở nút chai. Ông lão mở ba chai và đang trả lại cái mở nút thì
ông Henchy nói với cậu ta:
“Cậu
có muốn uống chơi một chút không?”
“Dạ,
cháu xin ông,” cậu trai đáp.
Ông
lão miễn cưỡng mở thêm một chai nữa đưa cho cậu ta.
“Cậu
bao nhiêu tuổi rồi?” ông hỏi.
“Dạ,
mười bảy.”
Thấy
ông lão không nói gì thêm, cậu cầm lấy chai, nói:
“Cháu xin kính chúc ông Henchy mạnh khỏe ạ,” cậu ngửa cổ tu một hơi cạn chai
bia, xong, đặt cái chai không lên bàn và lau miệng bằng tay áo. Sau đó cậu ta cầm
cái mở nút chai, lách người ra cửa, miệng lẩm bẩm một câu chào gì đó.
“Đấy,
bao giờ cũng bắt đầu như thế,” ông lão nói.
“Lưỡi
mỏng của cái nêm [11] đấy mà, các ông hiểu không?” ông Henchy nói.
Ông
lão chia ba chai đã mở nút cho mọi người, và họ cùng uống một lượt. Uống xong,
mỗi người đặt chai của mình lên bệ lò sưởi trong tầm tay, rồi hít một hơi dài
khoan khoái.
“À,
hôm nay tôi làm được khá nhiều việc tốt,” ông Henchy nói sau một lúc im lặng.
“Thế
à?”
“Này
nhé, tôi kiếm chắc được một hai phiếu ở phố Dawson, Crofton đi với tôi. Nói nhỏ
thôi nhé, Crofton (dĩ nhiên ông ta là người tử tế), nhưng làm vận động tranh cử
thì hoàn toàn vô tích sự. Một câu để ném cho chó, ông ta cũng chẳng nói được. Cứ
đứng đó giương mắt ếch nhìn người ta trong lúc tôi nói chuyện.”
Ngay
lúc ấy có hai người đàn ông bước vào phòng. Một người rất béo, bộ quần áo may bằng
vải len serge [12] màu xanh lam dường
như sắp bật tung ra khỏi thân hình béo tròn béo trục. Ông có khuôn mặt phì nộn
phảng phất một con bê, với đôi mắt xanh nhìn trân trân và bộ ria lốm đốm bạc.
Người kia trẻ hơn nhiều và gầy gò, mặt dài, râu ria nhẵn nhụi. Ông ta mặc áo cổ
kép dựng đứng rất cao, đầu đội mũ bowler
[13] vành rộng.
“Chào
ông Crofton!” ông Henchy nói với người đàn ông béo. “Vừa nhắc đến quỷ là quỷ có
mặt…”
“Bia
bọt ở đâu ra thế?” người trẻ hỏi. “Bò đẻ à?”
“Ồ, lẽ
dĩ nhiên Lyons là kẻ ngửi thấy mùi rượu bia trước ai hết!” ông O’Connor cười
nói.
“Các
anh vận động cử tri kiểu thế này đấy à?” ông Lyons nói mỉa, “trong lúc tôi với ông
Crofton ở ngoài kia lạnh cóng, mưa gió mà vẫn phải đi kiếm phiếu?”
“Quỷ
tha ma bắt nhà anh,” ông Henchy nói, “tôi ấy à, chỉ cần năm phút là tôi kiếm được
nhiều phiếu hơn hai anh kiếm trong suốt một tuần lễ.”
“Ông
Jack đâu, khui thêm hai chai bia đen nữa,” ông O’Connor nói.
“Khui
sao được,” ông lão nói, “cái mở nút, thằng giao hàng nó đem trả mất rồi.”
“Chờ
chút, chờ chút!” ông Henchy nói, bật nhanh dậy. “Các anh đã bao giờ thấy cái mẹo
nhỏ này chưa?”
Ông
lấy hai chai bia đặt lên thành lò sưởi rồi ngồi lại bên lửa và uống thêm một ngụm.
Ông Lyons ngồi lên mép bàn, đẩy mũ ra sau gáy và đung đưa chân.
“Chai
nào của tôi?” ông ta hỏi.
“Chai
này,” ông Henchy nói.
Ông
Crofton ngồi xuống một cái thùng, nhìn chằm chằm vào chai còn lại trên thành lò
sưởi. Ông im lặng vì hai lý do. Lý do thứ nhất, tự nó đã đủ: ông chẳng có gì để
nói. Lý do thứ hai: ông cho rằng những người cộng tác với ông đây không xứng tầm
thế của mình. Trước đây ông từng đi vận động bầu cử cho ông Wilkins thuộc đảng
Bảo thủ, nhưng khi phe Bảo thủ rút ứng viên và, vì phải chọn một trong hai ứng
viên tệ lậu, ông chọn người đỡ tệ hơn; từ đó ông chuyển sang ủng hộ ứng viên Quốc
gia, ông được thuê làm việc cho ông Tierney.
Vài
phút sau trong phòng vang lên một tiếng “poóc!” nho nhỏ như tạ lỗi khi nút chai
bia của ông Lyons bật ra. Ông ta nhảy khỏi bàn, đến bên lò lửa, cầm chai đem lại
bàn.
“Ông
Crofton này, tôi vừa nói với anh em ở đây,” ông Henchy nói, “rằng hôm nay chúng
ta kiếm được kha khá phiếu.”
“Anh
kiếm được của những ai?” ông Lyons hỏi.
“Này
nhé, Parkes một phiếu, Atkinson hai phiếu, và cả lão Ward ở phố Dawson nữa. Một
ông già không đến nỗi tệ, đúng kiểu quý tộc xưa, dân Bảo thủ chính hiệu! Ông ta
bảo tôi, ‘Nhưng ứng viên của ông là người Quốc gia mà?’ Tôi đáp lời, ‘Ông ấy là
người đứng đắn, và ủng hộ bất cứ điều gì có lợi cho đất nước mình. Ông ấy là
người đóng những khoản thuế lớn. Ông ấy có nhiều nhà cửa trong thành phố và ba
cơ sở kinh doanh, chẳng phải chính lợi ích của ông ấy là hạ mức thuế cho thấp
sao? Ông ấy là công dân tốt và được kính trọng, nể vì, là thành viên Hội đồng Cứu
tế, và không thuộc phe phái nào, tốt hay xấu hay lơ lửng.’ Phải nói chuyện với
họ như thế mới có hiệu quả.”
“Còn
bản kiến nghị gửi lên nhà Vua thì sao?” ông Lyons hỏi, liếm mép sau khi ực một
ngụm bia.
“Nghe
tôi nói đây,” ông Henchy nói. “Điều đất nước này cần, như tôi trình bày với lão
Ward, là tư bản. Nhà Vua đến đây có nghĩa là tiền bạc sẽ đổ vào đất nước mình.
Dân Dublin sẽ được hưởng lợi. Hãy nhìn các nhà máy dưới bến cảng kìa, tất cả đều
nằm im không sản xuất gì cả! Hãy trông vào số tiền có trong nước để khôi phục
các ngành công nghiệp cũ, nhà máy xay, xưởng đóng tàu, nhà máy sản xuất. Ta cần
tư bản.”
“Nhưng
John,” ông O’Connor nói. “Tại sao ta phải chào mừng Vua nước Anh? Chẳng phải
chính Parnell đã…”
“Parnell
chết rồi. Bây giờ tôi nhìn vấn đề như thế này. Ông vua này lên ngôi sau khi bà
mẹ già của ông ta ôm lấy ngai vàng cho đến khi ông ta bạc tóc. Ông ta là người
từng trải, và có ý tốt với ta. Theo tôi, ông ta là người vui tính, đàng hoàng,
không màu mè vớ vẩn. Ông ta chỉ tự nhủ, ‘Bà già chưa bao giờ đi thăm cái đám dân
Ireland mọi rợ ấy. Nhân danh Chúa, ta sẽ tự đi thăm họ xem thế nào.’ Thế mà ta
lại định sỉ nhục ông ta khi ông ta đến đây trong chuyến viếng thăm hữu nghị ư?
Hử? Ông Crofton, có đúng thế không nào?”
Ông
Crofton khẽ gật đầu.
“Nhưng
dù sao đi nữa,” ông Lyons chen vào, bắt bẻ, “đời tư của Vua Edward, anh biết đấy,
đâu phải là…”
“Chuyện
cũ rồi, bỏ qua đi,” ông Henchy nói. “Cá nhân tôi, tôi ngưỡng mộ ông ta. Ông ta
cũng chỉ là một tay giang hồ bình thường như anh với tôi. Ông ta thích nhâm nhi
rượu, có thể hơi trăng hoa một chút, và là tay thể thao cừ khôi. Tiên sư nó,
người Ireland chúng ta chẳng lẽ không chơi đẹp được sao?”
“Nghe
thì hay lắm,” ông Lyons nói. “Nhưng thử nhìn vào trường hợp của Parnell xem.”
“Nhân
danh Chúa,” ông Henchy nói, “có gì giống nhau giữa hai trường hợp đâu?”
“Ý
tôi là,” ông Lyons nói, “chúng ta có lý tưởng của mình. Thế thì tại sao ta lại đi
dàn chào đón tiếp một người như vậy? Anh có nghĩ rằng Parnell vẫn xứng đáng là lãnh
tụ của chúng ta không sau tất cả những gì ông làm? Vậy thì tại sao ta lại phản
bội lý tưởng của Parnell bằng cách đón tiếp trọng thể Edward Đệ Thất?”
“Hôm
nay là ngày giỗ Parnell,” ông O’Connor chen vào, “xin các anh đừng khơi lại
chuyện xào xáo nữa. Ông đã qua đời và bây giờ ai cũng ngưỡng vọng ông – ngay cả
phe Bảo thủ,” ông xoay sang phía ông Crofton.
“Poóc!”
Nút chai của ông Crofton bật ra. Ông đứng dậy khỏi chiếc thùng bước đến lò sưởi.
Khi quay lại với “chiến lợi phẩm” trên tay, ông nói bằng giọng trầm:
“Phe
chúng tôi kính trọng ông Parnell, vì ông ấy là một quý ông.”
“Crofton,
anh nói đúng đấy!” ông Henchy to giọng, có phần gay gắt. “Ông Parnell là người
duy nhất có thể giữ cái chuồng mèo ấy trong trật tự. ‘Lũ chó! Nằm xuống! Lũ chó
ghẻ! Nằm xuống.’ Ông đối xử với chúng nó như thế đấy. Joe! Vào đi! Vào đi!” ông
gọi to khi thấy ông Hynes đứng lấp ló ở ngưỡng cửa.
Ông
Hynes chậm rãi bước vào.
“Ông
Jack, mở thêm một chai bia đen nữa cho ông Hynes,” ông Henchy nói. “À quên,
không có cái mở nút! Đây, đưa tôi một chai, tôi đặt lên lò sưởi.”
Ông
lão đưa cho ông một chai nữa và ông đặt nó lên thành lò sưởi.
“Joe,
ngồi xuống đi,” ông O’Connor nói, “chúng tôi đang nói về Thủ lĩnh.”
“Phải
rồi, phải rồi!” ông Henchy nói.
Ông
Hynes ghé mông ngồi lên mép bàn cạnh ông Lyons nhưng không nói gì.
“Dù
sao cũng có một người,” ông Henchy nói, “đã không phản bội ông ấy. Thề với Chúa,
Joe, tôi nói giùm anh đấy! Không, thề với Chúa, anh mới là kẻ trung thành với Lãnh
tụ!”
“À,
Joe,” ông O’Connor đột nhiên nói. “Đọc cho chúng tôi nghe bài thơ anh làm – anh
nhớ chứ? Anh có đem theo trong người không?”
“Ồ,
phải đấy!” ông Henchy nói. “Đọc đi. Đọc đi. Crofton, anh đã nghe bài thơ Joe làm
bao giờ chưa? Nghe đi, tuyệt lắm.”
“Joe,
cho anh em nghe đi,” ông O’Connor nói. “Ngại ngùng gì, chỗ anh em cả.”
Ông
Hynes hình như không nhớ bài thơ họ đang yêu cầu ông đọc, nhưng sau một chặp
suy nghĩ, ông bảo:
“Ồ,
cái đó… Cũ lắm rồi.”
“Thôi,
anh bạn ơi, đọc nhanh đi!” ông O’Connor nói.
“Suỵt,
suỵt,” ông Henchy nói. “Nào, Joe! Đọc đi, cho anh em nghe.”
Ông
Hynes ngần ngừ một lát. Rồi im lặng, ông từ tốn gỡ mũ khỏi đầu đặt xuống bàn và
đứng dậy. Hình như ông đang nhẩm lại bài thơ trong đầu, và sau một lúc khá lâu,
ông đọc, giọng dõng dạc:
CÁI CHẾT CỦA PARNELL
6 tháng Mười, 1891
Ông
hắng giọng một hai lần rồi mới bắt đầu đọc bài thơ:
Ông đã chết. Vị
Vua Không Vương Miện của chúng ta đã chết.
Hỡi Erin [14], hãy than khóc trong đau thương
Vì người nằm chết kẻ mà bọn gian ác
Giả hình thời nay đã hạ bệ.
Ông nằm chết bởi lũ chó hèn
Mà chính ông từng nâng lên vinh quang từ bùn lầy;
Và hy vọng của Erin, giấc mộng của Erin
Tiêu tan trên giàn hỏa táng của quân vương nàng.
Trong cung điện, túp lều hay gian nhà tranh
Trái tim Ireland ở bất cứ nơi đâu
Đều cúi mình trong tang tóc – bởi ông đã đi rồi
Người lẽ ra định đoạt vận mệnh nàng.
Ông muốn Erin của mình rạng danh,
Lá cờ xanh tung bay hiển hách,
Những chính khách, thi sĩ và chiến binh của nàng
Được tôn vinh trước các dân tộc trên thế giới.
Ông ôm giấc mơ (than ôi, chỉ là giấc mơ!)
Về Tự do; nhưng khi ông cố
Nắm lấy hoài bão ấy, sự phản bội
Đã tước đi điều ông yêu quý.
Ô nhục thay những bàn tay hèn nhát
Đã đánh đập Minh Chúa của mình hoặc bằng một nụ hôn
Bán rẻ ông cho đám đông ô hợp
Của những cha ghẻ xu phụ – chẳng phải bạn ông.
Nguyện nỗi nhục muôn đời thiêu đốt
Ký ức của những kẻ tìm cách
Làm hoen ố và bôi nhọ danh xưng cao quý
Của người đã khinh miệt họ trong niềm kiêu hãnh.
Ông ngã xuống như những vĩ nhân từng ngã,
Hiên ngang, không nao núng đến phút cuối,
Và cái chết nay đã kết nối ông
Với những anh hùng của Erin thuở trước.
Đừng để tiếng tranh chấp quấy nhiễu giấc ngủ ông!
Ông yên nghỉ thanh thản: không còn đau đớn phận người
Hay tham vọng cao xa nào thúc đẩy
Ông đã chinh phục đỉnh vinh quang.
Họ đã đạt được mưu đồ: họ hạ ông xuống
Nhưng Erin, hãy lắng nghe đây, linh hồn ông có thể
Trỗi dậy từ ngọn lửa như Phượng Hoàng
Khi bình minh ló rạng,
Ngày triều đại của Tự do đến với chúng ta
Và vào ngày ấy, Erin có thể
Nâng chén mừng vui
Chỉ còn một nỗi buồn – ký ức về Parnell.
Đọc
xong bài thơ, ông Hynes lại ngồi xuống mép bàn. Có một khoảng lặng rồi tiếng vỗ
tay vang lên; ngay cả ông Lyons cũng vỗ tay. Tiếng vỗ tay kéo dài một lúc. Khi
dứt, tất cả mọi người trong phòng đều im lặng uống tiếp.
“Poóc!”
Nút chai của ông Hynes bật ra, nhưng ông vẫn ngồi trên bàn, mặt đỏ bừng, đầu trần.
Hình như ông không nghe thấy lời mời uống.
“Joe,
hay lắm!” ông O’Connor nói, thò tay vào túi áo rút giấy vấn điếu và bao thuốc để
che giấu xúc động.
“Crofton,
anh thấy sao?” ông Henchy kêu lên. “Hay chứ? Hả?”
Crofton
nói rằng đó là một bài thơ rất hay.
(Trịnh
Y Thư dịch từ ấn bản Dubliners, NXB Alfred A. Knoff, 1991.)
*
Chú thích của người dịch:
[1] Ivy Day,
mùng 6 tháng 10, là ngày giỗ Charles Stewart Parnell, một nhà lãnh đạo theo Chủ
nghĩa Dân tộc Ireland, được biết đến với biệt danh “Ông vua không ngai của
Ireland”, người đã đấu tranh cho quyền tự trị của Ireland. Sau khi ông qua đời
năm 1891 sau một vụ xì-căng-đan tình dục, những người theo ông đã tưởng niệm
ông hằng năm vào ngày này. Họ lấy hình ảnh chiếc lá trường xuân làm biểu hiệu,
nên gọi là Ivy Day.
[2] Trong nguyên tác là câu “He takes th’upper hand of me whenever he sees I’ve a sup taken”, một
câu nói đặc trưng giọng điệu dân Dublin. Joyce sử dụng câu nói kiểu bình dân này
để thể hiện sự oán giận và tính cách dễ tổn thương của ông già Jack, đồng thời,
làm nổi bật động lực xã hội giữa những người dân Dublin thuộc tầng lớp lao động.
[3] shoneen,
một từ tiếng lóng, ám chỉ kẻ xu phụ, người Ireland nhưng quỵ luỵ, luồn cúi
người Anh để xin chút bổng lộc, quyền lợi hay địa vị.
[4] Tổng thống Richard Nixon của Hoa Kỳ bị các đối
thủ chính trị gọi là Tricky Dick. Hỗn danh này ám chỉ tai tiếng của ông về việc
sử dụng các thủ đoạn vô nguyên tắc, thao túng và lừa dối trong suốt sự nghiệp
chính trị của mình, bắt đầu từ vụ tranh cử vào Thượng viện năm 1950 và lên đến
đỉnh điểm trong vụ bê bối Watergate.
[5] “Mười chín ka-ra” là cụm từ tiếng lóng, ý mỉa
mai con người giả tạo, thực chất là người chẳng ra gì.
[6] hillsiders-fenians:
Hillsiders, nghĩa đen, là dân sống ở vùng đồi núi, một tiếng lóng, thường
mang tính chế giễu, dùng để ám chỉ người theo chủ nghĩa dân tộc Ireland cổ hủ,
sống ở vùng nông thôn. Trong ngôn ngữ chính trị ở Dublin thời của Joyce, gọi ai
đó là hillsiders có thể ngụ ý rằng họ
chân thành nhưng thiếu hiểu biết. Từ Fenians
dùng để chỉ một thành viên hoặc người ủng hộ Hội Huynh Đệ Fenian, cánh quân
cách mạng thiên về bạo lực của chủ nghĩa dân tộc Ireland vào cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX. Khi được ghép đôi, cụm từ này gộp hai loại người theo chủ nghĩa dân
tộc. Trong ngữ cảnh của truyện ngắn này, nó phản ánh tính cách bè phái chính trị
ở Dublin, sự căng thẳng giữa chủ nghĩa dân tộc truyền thống và khí hậu chính trị
mới mẻ, thực dụng hơn, và cách thế các nhân vật chế giễu đối thủ để thể hiện
lòng trung thành của chính họ. Đó là một cụm từ ngắn gọn, nhưng chứa đựng cả một
bức tranh chính trị.
[7] Trong thế giới Dublin của Joyce, và trong
ngôn ngữ chính trị Ireland nói chung, “Lâu đài” là từ viết tắt của “Lâu đài
Dublin”, tức là trụ sở trung tâm chính quyền Anh tại Ireland. Đây là một trong
những thuật ngữ mang nhiều ý nghĩa hơn nghĩa đen của nó. Đối với những người
theo chủ nghĩa dân tộc Ireland, “Lâu đài” tượng trưng cho bộ máy quan liêu, sự
tham nhũng, sự bảo hộ của nước ngoài, sức nặng ngột ngạt của chính quyền thuộc
địa. Vì vậy, từ này không bao giờ có hàm nghĩa trung lập. Nó luôn luôn đóng vai
trò chính trị. Các nhân vật của Joyce sử dụng “Lâu đài” như một loại ngôn ngữ
chính trị. Buộc tội ai đó là “Lâu đài” hoặc “được Lâu đài hậu thuẫn”, có nghĩa
là họ liên kết với lợi ích của Anh quốc, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, họ là
kẻ cơ hội hoặc bị mua chuộc, thỏa hiệp, họ không thực sự theo chủ nghĩa dân tộc.
[8] Thiếu tá Henry Charles Sirr [1764-1841] là một
nhân vật có thật trong lịch sử Ireland. Ông ta từng giữ chức Thị trưởng Dublin,
thực chất là người đứng đầu cơ quan an ninh cảnh sát, vào cuối thế kỷ XVIII đầu
thế kỷ XIX. Ông ta trở nên khét tiếng vì vai trò của mình trong việc đàn áp
Liên minh Ireland, nhóm cách mạng đứng sau cuộc nổi dậy năm 1798. Ông đích thân
bắt giữ lãnh tụ Edward Fitzgerald, một trong những thủ lĩnh của cuộc nổi dậy,
hành động này khiến ông trở thành biểu tượng cho sự đàn áp của Anh ở Ireland. Đối
với dân tộc Ireland, Sirr là một kẻ phản quốc.
Trong
truyện ngắn này của Joyce, việc nhắc đến Thiếu tá Sirr không phải là về bản
thân con người đó mà là về những gì ông ta đại diện, nó ám chỉ sự phản bội, làm
chó săn, tay sai cho ngoại bang quay lại đàn áp dân tộc mình.
[9] Trong tiếng Anh thông dụng, cụm từ “cừu/
chiên đen” là một thành ngữ chỉ người bị xem là kẻ lạc loài trong gia đình,
nhóm hoặc cộng đồng, thường là vì họ bị xem là nguồn gốc của sự xấu hổ, rắc rối
hoặc nhục nhã. Trong bối cảnh của Joyce ở tập truyện Dubliners, cụm từ này mang cùng một ý nghĩa nhưng với sắc thái
chính trị hoặc xã hội sắc bén hơn. Việc gọi ai đó là “cừu/ chiên đen” ở Dublin
thời Joyce thường hàm ý họ đã phản bội kỳ vọng của nhóm hoặc họ đã đi ngược lại
với số đông về chính trị hoặc xã hội, và bị bạn bè, người thân xem thường. Tiếng
Việt sử dụng nhóm từ tương đương, tuy không sát nghĩa lắm, là “con chiên ghẻ.”
[10] Trong nguyên tác, Joyce sử dụng một thành ngữ
Ireland, on the smell of an oil-rag. Là
một trong những thành ngữ sống động tuyệt vời của người Ireland mà các nhân vật
của Joyce thường dùng như thể ai cũng hiểu chính xác nghĩa của nó. Nó có nghĩa
là ai đó cực kỳ tiết kiệm, có thể sống sót gần như không cần gì, hoặc keo kiệt
đến mức chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ để sống qua ngày. Trong thế giới của
Joyce, ở truyện ngắn Ivy Day in the
Committee Room, nó thường có nghĩa là: một lời châm chọc về tính keo kiệt của
ai đó; một cách chế giễu một nhân vật chính trị hoặc đồng nghiệp vì tính bủn xỉn,
đặc biệt là trong việc trả tiền hoặc giúp đỡ người khác. Joyce yêu thích những
thành ngữ này vì chỉ trong một câu văn giản dị mà chúng bộc lộ giai cấp, thái độ
và tính cách nhân vật. Thành ngữ tiếng Việt có ý nghĩa tương tự là “vắt cổ chày
ra nước.”
[11] Trong nguyên tác là thành ngữ “The thin edge of the wedge.” Đây là một
trong những phép ẩn dụ ngắn gọn nhưng rất hiệu quả, nhất là trong các cuộc thảo
luận chính trị. Đó là lý do vì sao nó lại phù hợp trong bối cảnh truyện ngắn
này. Ý nghĩa cốt lõi của thành ngữ đề cập đến một khởi đầu nhỏ, tưởng chừng như
vô hại, nhưng có nguy cơ dẫn đến một phát triển lớn hơn, nghiêm trọng hơn nhiều.
Trong thế giới của Joyce, nó thường ám chỉ sự nghi ngờ về động cơ của ai đó; lo
lắng về sự xâm nhập hoặc thao túng chính trị; cảm giác rằng những hành động nhỏ
– phiếu bầu, ân huệ, liên minh – có thể tích tụ thành điều gì đó nguy hiểm hơn.
Các nhân vật của Joyce luôn lo lắng về việc ai đang giành được ảnh hưởng, ai
đang bán đứng và ai đang thay đổi lòng trung thành. Thành ngữ “Lưỡi mỏng của
cái nêm” đã nắm bắt hoàn hảo tâm trạng đó. Tôi không tìm được thành ngữ tiếng Việt nào có ý nghĩa
tương tự nên đành dịch theo nghĩa đen và chú thích nơi đây.
[12] Vải len serge
là loại vải dệt chéo bền chắc, thường được làm từ len chải kỹ, dùng cho đồng phục
quân đội, áo vét hay áo khoác dài.
[13] bowler
hat: Mũ quả dưa.
[14] Erin:
Nội dung bài thơ, “Erin” đơn giản chỉ là một cái tên thơ ca ám chỉ quốc gia
Ireland. Nó bắt nguồn từ chữ “Éire”
tiếng Ireland, có nghĩa là Ireland. Trong thơ ca mang nặng màu sắc Dân tộc chủ
nghĩa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Erin
là hiện thân, là hình ảnh lý tưởng hóa của Ireland – một người mẹ, một thiếu nữ,
hoặc một quốc gia đau khổ mang tính biểu tượng. Nó mang nặng ý nghĩa cảm xúc:
lòng yêu nước, nỗi nhớ, sự hy sinh và khát vọng tự do dân tộc.
*
Lời người dịch
Ivy Day in the Committee Room của James
Joyce
là một truyện ngắn tưởng như chỉ xoay quanh vài người đàn ông ngồi uống bia và
tán gẫu về chính trị bầu cử, nhưng thực chất nó là một bản
chẩn đoán lạnh lùng về tình trạng chính trị Ireland cuối thế kỷ XIX. Joyce không
tranh luận trực tiếp; ông chỉ cho thấy sự suy đồi, xuống cấp biểu hiện bởi lời
nói, thái độ, và sự dung tục tầm thường của các nhân vật.
Biểu
tượng trong truyện là cái huy hiệu hình lá trường xuân gắn trên ve áo các nhân
vật. Họ làm thế để thể hiện lòng trung thành và tưởng nhớ Parnell. Thời gian
truyện chính là ngày giỗ vị lãnh tụ nổi tiếng nhất của dân tộc Ireland thởi cận
đại. Truyện sử dụng ngày này để nhấn mạnh chủ đề về sự thờ ơ chính trị và sự
suy tàn của chủ nghĩa dân tộc Ireland. Ivy
Day nói lên ký ức về một lãnh tụ đã mất, nhưng ivy là loại dây leo, nó bám vào thứ khác để sống, gợi ý Ireland, sau khi Parnell chết, đang sống bám
vào quá khứ. Nó cũng là cây xanh mãi, không bao giờ úa vàng,
ngụ ý ký
ức về Parnell vẫn còn, nhưng chỉ tồn tại như nghi
thức,
không còn sức mạnh chính trị.
Chủ
đề lớn của tập truyện Dubliners là sự tê
liệt xã hội, và truyện ngắn này
là ví dụ chính trị tiêu biểu, rõ ràng nhất. Dùng phân cảnh căn phòng họp của Ủy
ban Vận động Tranh cử của một ứng viên đang tranh cử vào Hội đồng Thành phố,
Joyce vẽ một căn phòng lạnh tối, ít than củi, không tiền, các nhân viên chờ đợi
trong vô vọng, v.v. Đây không chỉ là bối cảnh, nó chính là ẩn
dụ cho Ireland.
Các nhân vật, không ai thèm làm gì, lười nhác, trời mưa gió suốt ngày ngồi lì
trong phòng chứ không ra ngoài đi kiếm phiếu; không lý tưởng thật sự mà chỉ
tranh luận về những đề tài vặt vãnh trong cuộc sống vốn rất nghèo nàn; rồi khi
có bia đem đến thì mừng rỡ như trẻ con được mẹ đi chợ mua quà.
Chính
trị đã trở thành công việc thuê mướn, không còn là phong trào giải phóng. Chính
trị như nghề kiếm ăn, hầu hết những người trong phòng là người đi vận động cử
tri bỏ phiếu, nhưng họ quan tâm đến tiền hơn là chính sách, sẵn sàng đổi phe, nghi
ngờ lẫn nhau, nói xấu ứng viên của chính mình. Joyce đang phơi bày sự chuyển đổi
từ chủ nghĩa dân tộc đầy đam mê (thời Parnell) sang chính trị thực dụng, vụ lợi.
Các lãnh đạo mới không phải anh hùng mà chỉ là những con buôn chính trị, dùng
chức vị để trục lợi bản thân.
Sau
cái chết của Parnell, phong trào tranh đấu giải phóng dân tộc Ireland tan
rã thành nhiều phe phái. Thế hệ những người tiếp nối nghi ngờ, công
kích nhau, sa vào những tranh luận vô ích và vô bổ. Joyce muốn nói: Kẻ thù lớn
nhất của Ireland không phải nước Anh, mà là sự chia rẽ nội bộ. Đây là một nhận
định rất táo bạo vào thời Joyce.
Trong
truyện, ta có thể nhìn vào cuộc tranh luận về việc chào đón Vua Anh để thấy sự
phân hóa đã dẫn đến sự biến dạng tiêu cực của lý tưởng dân tộc. Có hai quan điểm:
Nhóm thực dụng (Henchy) cho rằng nhà Vua đến tức là đem tiền đầu tư vào xứ sở,
nhờ đó kinh tế phát triển. Còn nhóm lý tưởng (Hynes) thì chống đối việc đó vì
cho rằng tại sao phải cúi đầu trước ngoại bang, chẳng lẽ không thấy nhục nhã ư?
Đây là xung đột cổ điển thường thấy trong các phong trào giành độc lập.
Joyce
không đứng hẳn về phía nào, ông chỉ cho thấy cuộc tranh luận đã trở nên nông cạn.
Không ai nói về tự do thực sự mà chỉ nói về tiền, việc làm, lợi ích. Nói khác
đi, Chủ nghĩa Dân tộc đã bị “thị trường hóa.”
Lúc Hynes
đọc bài thơ về Parnell là khoảnh khắc duy nhất có linh hồn, căn phòng thay đổi,
mọi người im lặng, xúc động, vỗ tay. Nhưng Joyce rất tinh quái. Các nhân vật sau
đó tiếp tục uống bia. Không có hành động. Không có sự thức tỉnh. Chỉ là hoài niệm,
một hoài niệm khô cứng, cạn kiệt, máy móc. Thông điệp Joyce muốn gửi cho chúng
ta có vẻ tàn nhẫn: Con người chúng ta giỏi tưởng niệm hơn là hành động.
Joyce
đang phê phán ai? Câu trả lời là khá bất ngờ. Ông không chỉ phê phán chính trị gia, mà toàn xã hội Ireland. Những người trong căn
phòng là tầng lớp dưới trung lưu, lao động, công chức nhỏ, vận động viên bầu cử,
kẻ thất nghiệp, vv. Họ đại diện cho quốc gia thu nhỏ. Không ai là phản diện. Tất cả đều tầm thường, ù lì, tê
liệt.
Đây
là kiểu bi kịch Joyce rất ưa thích triển khai trong các tác phẩm của ông. Không
có kẻ ác, chỉ có sự nhỏ bé, tầm thường.
Ý
nghĩa lớn hơn trong truyện ngắn này không chỉ nói về Ireland đầu thế kỷ XX, nó
nói về một quy luật chính trị phổ quát. Sau khi một lãnh tụ vĩ đại chết đi thì
điều gì thường xảy ra. Nó là sự mất phương hướng của phong trào; lý tưởng bị
thay thế bằng chiến thuật; những lãnh tụ mới thì tầm thường, trong lòng đầy
nghi kỵ, đố kỵ; cán bộ phân hóa, phân tâm, chia rẽ, luôn bới móc, thêu dệt cái
xấu của nhau; ký ức trở thành nghi lễ, nghi lễ trở thành mẫu mực quan trọng hơn
tất cả các hình thức đấu tranh khác.
Tôi có
thể thấy mô hình này lặp lại trong rất nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ ba từng
có thời sống dưới ách cai trị của thực dân. Thậm chí, tôi còn thấy nó trong
cái-gọi-là sinh hoạt chính trị-văn hóa của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại,
nơi tôi hiện đang sinh sống. Đó là lý do vì sao tôi thấy Joyce vẫn mới, vẫn hiện
đại. Thông điệp của Joyce không trở nên lỗi thời, mà vẫn là bài học đau đớn cho
chúng ta suy ngẫm.
Điểm
thứ hai đáng suy nghĩ trong truyện ngắn này là bài thơ ở phần cuối truyện. Tại
sao Joyce sử dụng nó?
Bài
thơ được viết theo phong cách trữ tình Dân tộc chủ nghĩa gắn liền với những người
ủng hộ Parnell. Việc sử dụng tên gọi “Erin” báo hiệu một thứ chủ nghĩa Dân tộc
lãng mạn; nỗi đau buồn trước sự phản bội chính trị. Bài thơ mang giọng điệu cao
cả, u buồn và lý tưởng. Nó gợi lên hình ảnh Erin/ Ireland, Parnell, ngôn ngữ của
sự hy sinh, sự phản bội, vận mệnh quốc gia dân tộc, vv.
Nhưng
không gian nơi bài thơ được đọc là một căn phòng chật hẹp, tồi tàn, có những
nhân vật đang uống bia, luôn mồm phàn nàn về tiền bạc, tranh cãi nhau về những
lời đồn đại, sự thù hận và những mưu đồ chính trị nhỏ nhặt. Sự tương phản này thật
tàn khốc. Sự vĩ đại của bài thơ rơi vào một không gian mà không ai sống đúng với
lý tưởng của nó. Mặc dù nó tạm thời nâng tầm không gian căn phòng, và trong khoảnh
khắc ngắn ngủi, những người trong phòng im lặng, lắng nghe, xúc động, nhưng
ngay sau đó, mọi thứ vẫn ỳ ra như cũ, không hề có sự thay đổi nào, một ý thức tỉnh
thức cũng không!
Joyce
cố tình cho thấy những nhân vật trong phòng hầu như không thể có được niềm tin
chính trị chân chính, thế nhưng bài thơ lại gợi lên hình ảnh Ireland vĩ đại,
huyền thoại – “Erin” – mà họ thề trung thành, đem tâm huyết ra phục vụ.
Đây chính
là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã
dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh
xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được
cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm
nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn
vinh.
Ẩn ý
trung tâm của truyện ngắn có thể gói trọn trong một câu đơn giản: Ireland
không bị đánh bại, mà bị trì trệ. Những người còn lại chỉ đại diện cho sự chờ
đợi, sự tầm thường, nói nhiều nhưng không hành động. – TYT