Wednesday, May 1, 2019

THẦY CHƯƠNG / SONG THAO



Song Thao là một trong những cựu học sinh thân thiết của giáo sư thi sĩ Vũ Hoàng Chương tại lớp Đệ Nhị C trường Trung học Chu Văn An Sài Gòn, niên khóa 1955-56. Năm 1991, ông viết bài “Thầy Chương” để ghi lại một số kỷ niệm đặc biệt về vị thầy của mình. Gần 30 năm sau, ông đọc lại, viết thêm một số đoạn đặc sắc. 
Trang blog TTM rất hãnh diện được góp phần phổ biến bản nhuận sắc bài viết công phu và giá trị của ông.


Cứ như suy nghĩ thông thường thì một thi sĩ phải có bộ điệu bất cần đời, ăn mặc phải lôi thôi lếch thếch một chút cho có vẻ khác người. Niên học 1955-1956 tôi học lớp Đệ Nhị ban Văn Chương tại trường Chu Văn An Saigon. Giáo sư môn Văn Chương Việt Nam là thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Giờ Việt văn đầu niên học, chúng tôi hồi hộp chờ đợi xuất hiện bóng dáng "phong sương" của thi hào nổi tiếng họ Vũ. Nhưng người bước vào lớp chẳng như chúng tôi chờ đợi mà là một nhân vật ăn mặc chải chuốt như một chính khách. Không, phải nói như một nhà ngoại giao chuyên nghiệp mới đúng.
Áo sơ mi lụa màu mỡ gà. Quần nâu với hai đường li thẳng tắp. Giầy da nâu bóng loáng. Mũ phớt màu nâu nhạt. Và một chiếc cà vạt màu nâu hồng có điểm những nụ hoa nhỏ xíu màu hồng nhạt. Màu sắc từ trên xuống dưới ăn khớp với nhau một cách rất nghệ thuật. Như một bức họa. Chưa hết. Một chiếc kẹp cà vạt mạ vàng cùng với một cặp nút cài măng sét làm cho bộ quần áo thêm phần "vương giả". Không phải chỉ trong buổi dạy "ra mắt" học sinh thầy Chương của chúng tôi mới diện như vậy. Trong suốt năm học lúc nào thầy cũng chải chuốt một cách lạ thường. Những ngày nóng bức nhất cũng không làm chiếc cà vạt rời khỏi cổ thầy. Những ngày se lạnh chỉ thêm dịp cho thầy đóng nguyên một bộ đồ lớn loại sang.
Phải công nhận là thầy Chương có "gu" ăn mặc. Màu sắc luôn luôn hài hòa mát dịu. Thầy nổi bật trong phòng giáo sư hồi đó với phong cách rất mực phong lưu. Luôn luôn từ tốn, lịch sự nhưng không mất đi vẻ thân mật đối với các giáo sư khác cũng như đối với học sinh. Nét phong lưu còn rõ ràng hơn khi thầy ngồi ngất ngưởng trên xích lô đạp tới trường. Thầy là giáo sư duy nhất tới dậy học bằng xích lô đạp hàng ngày.
Ông xích lô đạp chắc không phải cố gắng nhiều khi chở trên xe một ông khách có sức nặng khiêm nhượng như thầy Chương. Người thầy mỏng lét. Bộ ngực lép kẹp được chúng tôi gọi là ngực...Oméga. Oméga là tên một loại đồng hồ đeo tay có đặc điểm là bề dày của nó rất mỏng. Càng mỏng càng đắt tiền. Ngực Oméga không phải là ngực "đắt tiền" nhưng là loại ngực mỏng của người thiếu sức khỏe. Nước da trắng xanh cùng với khuôn mặt gầy gò rất nhiều vết nhăn quanh miệng và quanh hai khóe mắt chứng tỏ điều đó. Nghe nói là thầy làm bạn với nàng tiên nâu nhưng chúng tôi không tìm thấy ở thầy những dấu hiệu của một người ghiền. Cặp môi không thâm và không có điệu bộ như một cặp môi đón dọc tẩu, dáng người không so bại, quần áo không lếch thếch dơ dáy và người không tỏa ra mùi khét lẹt. Chỉ có cặp mắt hơi lim dim nhưng là cái lim dim của một thi sĩ thoát tục hơn là cái lim dim mệt mỏi của một tiên ông.
Nhưng thực ra thầy cũng chẳng dấu cái tình bạn với ả Phù Dung của thầy. Tết năm đó một nhóm trong lớp gồm sáu anh em mặn mòi với văn chương tới nhà tết thầy. Nhà thầy ở trong một ngõ hẻm. Những chiếc xe đạp của đám học trò phải loay hoay mãi mới dựng được gọn gàng bên vách nhà mà không cản trở lưu thông trong ngõ. Cửa nhà vừa mở là mùi trầm đã ngạt ngào bay ra. Ánh sáng trong nhà yếu đuối vàng vọt. Chúng tôi lặng lẽ bước vào như đi hành hương. Như có một cái gì thật nghiêm trang bao quanh chúng tôi. Thầy lên tiếng bảo chúng tôi vào. Chúng tôi e dè kéo ghế chia nhau chỗ ngồi. Ghế không đủ cho đám khách đông đảo, chúng tôi phải ngồi bớt trên giường. Giữa thầy với chúng tôi là một bộ bàn đèn. Ngọn đèn dầu lạc còn leo lét cháy. Mùi thơm thuốc phiện phảng phất quanh nhà. Thầy mặc chiếc áo màu đà có khuy cài bên như kiểu áo dài. Áo buông ngang đầu gối. Một chiếc quần dài cũng màu đà.
Trông thầy như một bậc tu hành ở chốn thiền môn. Chỉ khác là thầy có mái tóc hoa râm dài rẽ ngôi ngay chính giữa làm cho khuôn mặt thầy vuông vức sắc cạnh.
Một anh đại diện anh em đứng dậy chúc tết và trình thầy mấy món quà tết nho nhỏ. Một lọ trà, một hộp bánh, một túi trái cây. Thầy nhận và kêu cô ra. Cô vén chiếc màn bằng vải hoa ngăn đôi phòng khách với phòng trong ra chào hỏi chúng tôi, nói dăm ba câu chuyện, bầy lễ tết lên bàn thờ rồi rút vào phòng trong. Thầy bảo chúng tôi rót nước trà uống.
Thầy trò đàm đạo về thi ca. Thầy nói ròng rã về những trào lưu thi ca ở Pháp. Câu chuyện xoay về với thực tại. Cái tết nóng nảy ở miền Nam. Tết mà không có xuân. Thầy trò quay về với cái tết miền Bắc, nơi mà những kỷ niệm còn mượt mà trong trí tưởng. Không khí xuân ở chốn quê hương xa xăm đó sao mà tuyệt diệu. Thầy trò nhắc tới những ngày xuân cũ bằng những lời bàng bạc nuối tiếc. Hai năm cơm gạo miền Nam chưa làm dịu được nỗi niềm xa xứ. Nỗi xót xa được nhắc nhở mỗi ngày khi thầy trò phải đi cổng sau vào học nhờ trong một căn nhà lầu cũ của trường Pétrus Ký.
Chúng tôi ngỏ ý cáo từ để thầy nghỉ thì thầy khoát tay bảo chúng tôi ngồi lại. Thầy lấy mực và một xấp giấy đỏ ra để tặng chữ kỷ niệm. Không khí vui nhộn hẳn lên. Chúng tôi lật những tập thơ của thầy ra tìm những câu thích nhất để xin thầy viết. Có được những câu thơ ưa thích do chính tác giả viết phải là một kỷ vật thích thú lắm chứ. Nhưng có anh lại xin thầy một câu đối chữ Hán. Những ông đồ non này bảo là có đôi câu đối với nét chữ bay bướm như vậy treo trong nhà ngày tết thì có lý vô cùng. Thầy chỉ khẽ mỉm cười vung tay viết ra những chữ đẹp như vẽ. Chỉ cần nhìn vào nét chữ cũng đủ thấy cái tài hoa khôn sánh của thầy. Mỗi chữ lững lờ như tiềm tàng niềm ngây ngất ẩn dấu. Thấy chữ như buông thả mà trong chữ dường như có tâm sự riêng.
Tôi chẳng có thể nhớ được những câu thơ thầy viết cho chúng tôi bữa đó. Nhất là nhiều câu thầy cho bằng chữ Hán, thứ chữ mà tôi ăn đong! May sao, trong dịp tết Kỷ Mùi 2019 vừa qua, tôi qua California ăn tết và gặp anh Trần Huy Bích, một trong sáu anh em cùng tới tết thầy năm đó. Anh Bích, nay là một Tiến sĩ về Trung-Hoa-học, có trí nhớ dai khủng khiếp lại thông thạo Hán tự, còn nhớ được những câu thơ, câu đối thầy tặng từng người hồi đó.
Nói về quà của tôi trước. Bữa đó tôi đi cùng với người em ruột là Tạ Trung Dũng, hiện sống ở Novato, California, được thầy tặng mỗi người hai câu chữ Hán:
興酣怒見奔秦鹿
曲罷驚聞泣洱河
Hứng hàm nộ kiến bôn Tần lộc
Khúc bãi kinh văn khấp Nhị hà
Và hai câu tiếp:
知不知兮桑海客
故園谁掃夜來花
Tri bất tri hề tang hải khách
Cố viên thùy tảo dạ lai hoa?
Đó là bốn câu chót trong bài Đường luật bát cú “Đăng Lâu” của thầy. Sau này, bài thơ được in trong tập “Hoa Đăng”, xuất bản tại Sài Gòn năm 1959, và được thầy dịch sang thơ Việt như sau:
Hứng lên giận ngắm hươu Tần chạy
Ngâm dứt ghê nghe sóng Nhị cuồng
Hoa rụng đêm nào, ai có biết
Quê nhà ai quét mảnh vườn tuông?
Anh Phạm Công Bạch, đã mất tại San Jose, được hai câu thơ tức cảnh. Mấy ngày trước, báo chí Sài Gòn loan tin ngoài Bắc rất lạnh, có tuyết trên núi cao. Căn nhà mái tôn, rất nóng của thầy lại có chậu cúc đại đóa đón tết. Thầy tức cảnh sinh tình viết cho anh hai câu:
北塞雲行春有雪
柴都日暖菊生烟
Bắc tái vân hành xuân hữu tuyết
Sài đô nhật noãn cúc sinh yên
(Ải Bắc mây đi, mùa xuân có tuyết
Sài đô ngày nóng, hoa cúc bốc khói)
Hai câu thơ sau, anh Trần Huy Bích không nhớ rõ thầy tặng cho anh Phạm Văn Quảng, hiện sống tại Toronto, Canada, hay anh Đào Trường Khánh, hiện sống ở Sài Gòn.
天邊忽報來芳信
乍起姑蘇夜半愁
Thiên biên hốt báo lai phương tín
Xạ khởi Cô Tô dạ bán sầu
Hai câu này là thơ của thầy trong bài tứ tuyệt “Khởi Sầu”, được in trong tập “Rừng Phong”.
Hai câu trước là:
不許塵聲入卧樓
夢中合浦正還珠
Bất hứa trần thanh nhập ngọa lâu
Mộng trung Hợp Phố chính hoàn châu.
Thầy đã dịch cả bài ra thể lục bát như sau:
Bên trời vẳng báo xuân sang
Giữa khi Hợp Phố mơ màng về châu
Gác nằm hiu quạnh bấy lâu
Nửa đêm chợt nổi cái sầu Cô Tô.
Anh Trần Huy Bích thường được bạn bè gọi là “thầy đồ” vì anh thạo chữ Hán. Nhưng tới anh, thầy cắc cớ không cho thơ chữ Hán như mọi người mà lại viết cặp câu đối bằng chữ quốc ngữ:
Sông đỏ còn loang dòng máu giặc
Hồ xanh chưa tắt ánh gươm thần.
Thấy thầy viết chữ quốc ngữ, anh tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng sau khi thầy viết xong, hình như đã hiểu ra, anh mới vui vẻ cười. Thầy rất thâm thúy. Khi đó, lớp Đệ Nhị C chúng tôi vừa hoàn tất một giai phẩm xuân mang tên “Hoàn Kiếm” được in ronéo nhưng chúng tôi trần thân chơi trội, in màu đàng hoàng. Mỗi trang báo, nếu chỉ in chữ đen thì chỉ cần quay một lần, nhưng in màu thì phải quay máy tới hai lần. Lại phải đánh máy và vẽ trên giấy stencil thành hai bản, canh cho ăn khớp với nhau. Mỗi khi đổi màu in, chúng tôi phải hì hục rửa máy bằng cồn. Ngày đó chúng tôi rất tự hào về công trình này. Anh Bích là “chủ bút”, thầy là “cố vấn” của tờ báo xuân thứ “xịn” của học trò thời đó. Trong câu viết cho anh, “Hồ xanh chưa tắt ánh gươm thần”, thầy có ý nhắc lại cái tên “Hoàn Kiếm” của tờ báo, và tỏ cho chúng tôi biết là thầy đặt chút tin tưởng nơi chúng tôi, một lời khen khiến “chủ bút” không thể không vui và tự hào.
Trên đường về tôi cười một mình khi thấy sao mà cảnh tết thầy vừa rồi giống như cảnh tết thầy của một thời xa lắc xa lơ khi các cụ đồ nho ngồi dậy học được coi như những bậc hiền nhân quân tử được mọi người bái phục kính nể. Sự so sánh lẩm cẩm này làm nẩy sinh ra một câu hỏi. Vì sao thầy lại có một chỗ đứng riêng biệt trong lòng chúng tôi như vậy? Bởi vì chúng tôi mến mộ thi tài của thầy? Bởi vì chúng tôi quí trọng tư cách của thầy? Bởi vì chúng tôi yêu mến thầy? Bởi vì chúng tôi xót xa cho sức khỏe của thầy? Bởi vì chúng tôi trân trọng cố gắng truyền đạt kiến thức của thầy? Có lẽ phải cộng tất cả những cái "bởi vì" này mới có một câu trả lời tạm đầy đủ.
Đặt biệt danh cho các giáo sư là nghề của chúng tôi hồi đó. Thầy Vũ Khắc Khoan nổi tiếng nghiêm khắc, lớp học trong giờ thầy im phăng phắc như một nguyện đường. Thầy có đôi mắt to và sắc sảo lạ thường. Chúng tôi đặt cho thầy biệt danh "Cú Vọ". Thầy Bùi Đình Tuyên dậy Vạn Vật hay kể chuyện nhảm làm chúng tôi nín thở ngồi nghe. Ưa thì ưa lắm nhưng cũng tặng cho thầy hỗn danh...Tề Tuyên! Thầy Nguyễn Văn Lộc dậy Anh Văn người ốm yếu, tay chân lêu nghêu loạng quạng nhưng lúc nào cũng lên gân làm điệu bộ mạnh bạo ngang tàng được chúng tôi cảm hứng từ tên một viên tướng thời Quang Trung đặt cho cái tên "Đô Đốc Lộc". Thầy Giám thị Tự đi đôi giầy đế da mới tinh mỗi lần vào lớp là khua lóc cóc inh ỏi được tặng cho biệt danh "Tây Gỗ".
Trong khung cảnh "nguy hiểm" như vậy mà thầy Chương không có một biệt danh nào cả kể cũng là một sự lạ. Chúng tôi không nỡ hay không dám? Có lẽ cả hai. Chúng tôi vừa thương vừa kính thầy. Thầy thật gần gũi nhưng cũng thật cao xa.
Chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị ban Văn Chương hồi đó, ngoài phần thơ văn thế kỷ 19, còn có phần thơ mới. Đây là phần lý thú nhất của cả thầy lẫn trò. Những nhà thơ trong thời kỳ này từ Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, đến Đinh Hùng, Anh Thơ, Vũ Đình Liên...đều là bạn hoặc những người thầy quen biết. Những bài giảng vì vậy đã vượt ra ngoài khuôn khổ một bài giảng giáo khoa. Những bài thơ trữ tình, diễm tuyệt đã tạo dịp cho thầy quay về với tuổi trẻ của thầy. Chúng tôi đã chứng kiến một thầy Chương sôi nổi, lãng mạn, tha thiết với thơ văn của bạn hữu. Những kỷ niệm tràn ứ trong thầy tỏa ra thành những lời giảng trau chuốt, mặn mà, đầy xúc cảm. Xuân Diệu không phải chỉ là một Xuân Diệu gói kín trong thơ mà là một Xuân Diệu cuồng nhiệt, vội vàng, đam mê như đang đứng trước chúng tôi. Đinh Hùng cũng thoát ra ngoài những khuôn chữ để trở nên một con người sống động, tình tứ trong những lời nói đam mê xúc động của thầy. Và rồi những thơ của Thế Lữ, Huy Cận...đều có xương, có thịt, có máu qua những lời giảng miên man đầy ắp hoài niệm của thầy.
Thầy đi quanh lớp bằng những bước chân nhẹ nhàng, đầu nghểnh cao, mắt xa vắng, giảng bài bằng cái giọng nhừa nhựa thanh thanh. Có những lúc mắt thầy như nhắm hẳn lại, đầu lắc lắc từng chặp. Những lúc đó thầy như thoát hồn bay về một trời thơ nào đó. Thầy say thơ. Thầy ngâm thơ như một người đồng thiếp. Như không còn thầy. Như không có trò. Như không phải là một lớp học. Chỉ có một cõi thơ lồng lộng bát ngát. Chúng tôi cũng thấm thơ. Vô cùng nồng nàn là những giòng thơ đất Việt. Chỉ có tiếng chuông báo hết giờ học mới có thể kéo thầy trò ra khỏi cơn mê văn chương.
Nhưng khi thầy Chương giảng thơ Vũ Hoàng Chương thì thầy lại có một phong thái khác hẳn. Có một cái gì sường sượng nơi thầy. Thầy như cố tách rời cái ông thi sĩ họ Vũ ra khỏi cái ông giáo sư họ Vũ đang đứng trước mặt chúng tôi. Để nói về cái ông thi sĩ họ Vũ thầy dùng ngôi thứ ba. Tác giả viết thế này, thi sĩ viết thế kia...Làm như chẳng có gì dính dáng tới thầy cả. Sự "từ chối bản ngã" đó lúc đầu làm chúng tôi ngỡ ngàng nhưng khi quen rồi thì thấy có cái gì là lạ ngộ nghĩnh. In tuồng như thầy đang chơi trò trốn tìm với thi sĩ họ Vũ. Giọng thầy cố gắng làm như xa cách nhưng tâm hồn thầy như muốn trở lại với những giây phút cầm bút viết nên những vần điệu đang được giảng dậy. Thi tài của thầy đặt thầy vào một tình huống hơi éo le. Và thầy phải vất vả với sự chèo kéo của đôi bên.
Nhưng khi thầy ngâm thơ của thầy thì lại là chuyện khác. Giọng ngâm của thầy tha thiết hơn bao giờ hết. Hồn thơ năm cũ như vất vưởng trong giọng ngâm tạo nên niềm hứng khởi lạ lùng. Thầy trò như hòa tan trong nhạc điệu của thơ. Tôi còn nhớ mãi cái giọng say sưa cuồng nhiệt của thầy khi ngâm bài "Tối Tân Hôn" trong đó có những câu:
Gió bỗng đổi chiều trên táp xuống
Nặng chĩu hai vai nàng cố gượng
Thắt vòng tay ghì riết lưng ta
Những luồng run chạy khắp thịt da ngà
Run vì sợ hay vì ngây ngất?
Ta chẳng biết, nhưng rời tay chóng mặt
Toàn thân lạnh ngắt
Thuyền chìm sâu, sâu mai bể Hư Vô
Mà hương ngát đâu đây còn phảng phất
Mà bên tai đàn sáo vẫn mơ hồ
Ngửa trông lên cung Quế tít mù xa
Dần dần khuất
Dưới chân ta
Thuyền mây sóng lật
Không gian vừa sụp đổ chung quanh
Một trời đêm siêu rụng tan tành
Dư hưởng yếu từng giây
Dư hương dần loãng nhạt
Trong tay níu đôi thân liền sát
Nhè nhẹ rơi vào lớp sóng khinh thanh

Sao lìa ngôi, phương hướng ngã bên mình
Cơn lốc nổi
Đờn tiên thôi gọi
Âm thầm xa bặt tiếng tiêu
Những mê man say uống miệng người yêu
Ta cũng như nàng
Cảnh mộng chốn Bồng Lai đâu nhớ tới.
Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn
Khi tỉnh dậy bùn nhơ nơi hạ giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn.
Vừa ngâm xong thầy nhỏ nhẹ "tự thú" là khi làm bài thơ này thi sĩ chưa hề biết đàn bà! Thỉnh thoảng thầy vẫn tiết lộ cho chúng tôi những điều bất ngờ như vậy. Một lần khác thầy ngâm bài thơ "Say đi em" vẽ ra một cách sống động khung cảnh một vũ trường:
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió,
Không biết nữa, màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta
Nghe xong chúng tôi nghĩ thầy là một khách sành điệu rất từng trải trong chốn ăn chơi. Nhưng thầy thản nhiên "phụ đề": khi làm bài thơ này tác giả không hề biết khiêu vũ!
Chốc đó mà bốn chục năm đã trôi qua. Kiểm điểm lại trong đám học trò Chu Văn An chúng tôi chỉ có hai người theo nghiệp của thầy. Ở lớp Đệ Nhị C niên khóa 1956-57 có anh Nguyễn Thiệu Hùng, bút hiệu Mai Trung Tĩnh, và anh Lê Đức Vượng, bút hiệu Vương Đức Lệ. Hai anh đã in chung tập thơ "40 bài thơ của Mai Trung Tĩnh và Vương Đức Lệ," và tập thơ này đã đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.
Cả hai anh đều đã bị Cộng Sản đầy ải trong ngục tù tại Saigon cùng với một số nhà văn nhà thơ khác trong nhóm “Diễn Đàn Tự Do” của Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt. Anh Mai Trung Tĩnh được thả năm 1994, mang bệnh tim, mù một mắt và sưng gan do hậu quả của những năm lao tù. Ngày 7 tháng 6 năm 1995, anh cùng vợ và hai con đã tới Hoa Kỳ và mất tại Virginia vào lúc 2 giờ sáng ngày 20 tháng 2 năm 2002 vì di chứng của những bệnh cũ. Anh Vương Đức Lệ cũng sang được Hoa Kỳ rất muộn, nhiều năm sau khi thoát khỏi lao tù, và cũng đã qua đời tại Virginia ngày 20 tháng 1 năm 2008. Tôi nghĩ tới thầy với những ngày lao tù bệnh tật dưới chế độ Cộng Sản, nghĩ tới cái chết tức tưởi của thầy vào ngày 6 tháng 9 năm 1976, chỉ ít ngày sau khi được thả vì quá đau yếu. Cả thầy lẫn trò đều chung nỗi truân chuyên của những khách văn chương gặp cơn gió chướng.
02/1991
Nhuận sắc: 05/2019


Thursday, April 18, 2019

Hành Trình Một Đời Người / BÙI BÍCH HÀ


Tôi đọc Nguyễn Đình Toàn ngay từ tập truyện đầu tay của ông: Chị Em Hải, 1961, thời còn cắp sách đến trường, hồn cũng như lòng còn rất tinh khôi. Thời gian trôi qua đã lâu, tôi không nhớ nội dung truyện nhưng tôi không quên không khí truyện. Thật đẹp. Thật dịu dàng. Thật ấm áp. Như một thứ nhan sắc chỉ gặp một lần là ghi nhớ mãi. Tôi biết ơn sự may mắn trong vài giây cuối cùng này vì chỉ chưa đầy một năm ngắn ngủi sau đó, tôi bước vào cuộc hôn nhân đầy bão tố. Từ đây, sách, truyện, báo chí, với tôi, trở thành cấm địa. Tôi như con cá ngáp trong bồn nước thiếu dưỡng khí. Là người, tôi đã sống nhờ hồi tưởng.

Cuối thập niên 90, tôi vui mừng nghe tin ông cùng gia đình tới Mỹ, định cư ở quận Cam sau 23 năm kẹt lại Saigon, trong đó có hơn mười năm tù đày dưới chế độ mới. Tôi cũng nghe tin ông bế môn tạ khách, sống bình lặng theo ý riêng nên nghĩ thầm hẳn là rất khó để được diện kiến ông. Đầu thập niên 2000,  một thân hữu giúp ông ra mắt CD đầu tiên ở hải ngoại: Hiên Cúc Vàng, tại vũ trường Majestic, thu hút một lượng khán thính giả đông vượt bực chưa bao giờ ngừng hâm mộ ông, trong đó có tôi và bạn bè tôi. Quả nhiên, ông không xuất hiện. Tôi đoán là ông chưa sẵn sàng cho một môi trường thù tạc mà ông xa lánh đã quá lâu.

Mãi sau này, khi ông chuẩn bị gửi ra độc giả bộ Bông Hồng Tạ Ơn gồm hai cuốn (2006/2012) và tôi bất ngờ được hân hạnh ông cho phép bày tỏ đôi chút cảm nghĩ của mình nhân dịp này, tôi mới thực sự biết ông trong đời thường. Hiền thê của ông, bà Thu Hồng, đi bên ông như bóng với hình. Bà có khuôn mặt trái soan, đôi mắt bồ câu long lanh và làn môi như đóa hồng hàm tiếu. Lần đầu gặp nhau, vẻ hồn nhiên và nụ cười thật tươi trên môi bà lập tức cho tôi sự yên tâm và cả cái tình ấm áp, dịu dàng của Chị Em Hải ngày nào. Chúng tôi chuyện trò râm ran bên tách cà phê tối và tôi nhận được tấm hình lồng khung rất lịch sự, chụp trong buổi giới thiệu Bông Hồng Tạ Ơn để làm kỷ niệm.

Nhiều năm sau này, biết tin bà mắc bệnh quên lãng, không còn lái xe nữa, tôi hay theo Nhã Lan, thỉnh thoảng có thêm một bạn văn từ xa về, đến thăm ông bà tại căn chung cư tọa lạc trong  một khu yên tĩnh thuộc thị xã Westminster.  Dù tiến triển chậm so với các trường hợp tương tự, bà ngày một mất dần khả năng tự chủ của một người trưởng thành và trở lại như trẻ thơ. Lần mới nhất chúng tôi đến thăm ông bà, bà vui cười, cung hai nắm tay dứ dứ về phía tôi như trẻ con vẫn dọa nhau, khiến ông khẽ lắc đầu và cũng cười theo cùng với lời giải thích bao dung và hiền hậu: “Có biết gì nữa đâu? Cứ như con nít vậy thôi!” 

Trong căn nhà nhỏ ở xứ người với bàn ghế, đồ đạc cũ kỹ, đủ cho sinh hoạt hàng ngày của ông bà, họ có một thế giới thu hẹp từ những khoảng không gian bao la thuở xưa chứa đầy kỷ vật: hình ảnh, CD, sách, tài liệu văn học, nhiều tập nhạc thủ bút của tác giả chưa vội gửi ra. Có cái gì ở đây làm tôi liên tưởng tới Căn Nhà Xưa của họ, với những “sớm mai nằm nghe nắng giòn trên mái, có giếng nước soi trời trong, có gió mát đêm bình yên, có những tháng năm buồn tênh, khốn khó quyết nuôi tình duyên đã trốn thoát qua nhiều phen.” Chỉ thiếu khu vườn cải và những liếp hoa vàng.
Ở ông giờ đây, tôi thấy trong ánh mắt luôn thấp thoáng nét cười Một Ngày Sau Chiến Tranh không còn chỗ cho máu đổ xương rơi, cho người đầy đọa người, cho oán thù hay căm phẫn dầy xéo lương tâm nhau mà chỉ còn hòa bình và yêu thương, bắt đầu từ nội tâm mình. Ở ông, tiếng cười ngắn, chân thực, tận lực, đã cất giùm người đối diện nỗi đau trong lòng họ, đã cho họ sự khôn ngoan của chiếc lá mềm đánh đổi màu xanh sẽ úa vàng lấy hương nồng thơm mãi đến ngàn sau.

Bạo lực bỏ tù văn chương của ông, ông buông bút. Bởi vì khi cần, bút trở thành vũ khí. Ông không chỉ có một con đường hãm hại hay phục thù. Ông có nhiều sinh lộ. Ông chọn cầm đàn. Âm nhạc không tàn sát ai cả mà hát lên sự khốn cùng của đời sống không niềm tin, không tình yêu.
“...Hãy thắp cho anh một ngọn đèn Dù tình đời mong manh Lòng chẳng còn trông mong gì nữa Hãy thắp cho anh một ngọn đèn Để một mình trong đêm Anh tưởng nhìn ra em còn hơn. Cố thắp cho em một ngọn đèn Bằng lửa sầu tim anh Một ngọn đèn lênh đênh ngày tháng Cố thắp cho em một ngọn đèn Dù mệt nhoài trông ngóng Để nhủ lòng gắng nuôi niềm tin Cố thắp cho em một ngọn đèn Bằng nhọc nhằn cay đắng Bằng hình hài rã trong trại giam Cố thắp cho em một ngọn đèn Dù lửa tàn trong anh Không còn đủ khêu thêm đèn sáng Cố thắp cho em một ngọn đèn Để dù trong xa vắng Em còn được cháy trong lòng anh...”

Có một thời, tôi đã mồi lửa từ ngọn đèn hiu hắt nhưng không chịu tắt của Nguyễn Đình Toàn để thắp lên ngọn đèn cạn dầu trong tôi những ngày lênh đênh quê nhà, quê người, nên tôi biết ơn ông. Ông có tài năng đã đành nhưng lớn lao hơn cả tài năng, ông có trái tim mẫn cảm chan hòa thiện ý. Ông biết buông bỏ để thu nạp nhiều hơn và đem trang trải cùng thiên hạ. Những gì ông nói ra, viết xuống, hát lên là của riêng ông, không thể lầm lẫn với ai, không vay mượn ai kể cả cuộc đời ông từng đi qua với niềm đam mê cháy lòng và những khao khát yêu thương đến vô biên.

Nhắc đến ông, một người bạn lâu năm của tôi ở xứ sương mù, giá rét, quanh năm mùa đông, đã nói những lời thiết tha như sau: “Phải nhận là chúng ta đã quá may mắn để được sống cùng thời với Nguyễn Đình Toàn. Ngôn ngữ của ông sang trọng, tinh tuyền, đẹp đến nỗi không la đà cùng khung nhạc mà bay bổng, mà lan tỏa, mà thấm vào những tầng cảm xúc sâu thẳm nhất trong tôi...”Ngày thần tiên em bước lên ngôi...” Cảm ơn ông về một quãng đời xa hoa, lộng lẫy, nhìn đâu cũng thấy tình ca.”

Ông đã đi gần hết cuộc hành trình một đời người trên địa cầu, qua nhiều hạnh phúc và khổ đau, qua nhiều vinh quang và nhọc nhằn, giờ đây“mộng ước đã xa xôi, theo giòng đời trôi,” ông không giữ lại gì cho ông, trong những bước chân chiều chầm chậm đi dưới những tàu chuối tả tơi trong khu vườn nơi ông ở nhưng tôi tin rằng mỗi người biết ông đã giữ giùm ông một chút gì ông tạo ra và để lại. Mỗi người biết ông sẽ còn buồn vui cùng ông bằng nước mắt, bằng tiếng cười vượt qua mọi tang thương nghiệt ngã với một trái tim trong trẻo và một tâm hồn cao thượng. Sẽ không ngồi trong bóng đêm nguyền rủa tối tăm mà “Cố thắp lên một ngọn đèn” để xua đuổi tối tăm, để hồi sinh những bông hoa nở trên huyệt mộ và những mảnh đời ngỡ đã chôn sâu
                                                      

 Có tay nào che nổi trời mưa
Cho vai đừng ướt nặng
 
Hãy nói với đêm khuya
Một lời nói nhỏ
Tình là chi mà nhiều khi chôn được ở lòng ta 
Tình là chi mà nhiều khi chôn lại nở thành hoa.”


Gặp ông nhiều lần nhưng chưa lần nào tôi nhớ hỏi ông lý do nào ông kẹt lại Saigon hơn hai mươi năm? Bây giờ tôi sẽ không hỏi nữa mà nghĩ rằng những người hâm mộ ông, yêu thơ nhạc của ông, đã mắc nợ ông món nợ đau thương to lớn ấy bởi vì người nghệ sĩ không gánh vác khổ đau riêng mình mà gánh vác cả tội lỗi lịch sử thời đại mình khi sống thay cho đồng loại. Ôi, một ngày sau chiến tranh ở miền nam vừa đổi chủ, càng có nhiều hơn những xác người vật vờ đi trong thành phố, trên các cánh đồng khô nhà nông không còn cấy mạ, ruộng không còn thấy lúa màu xanh, người dân đốt đèn thả trôi trên sông không để cầu nguyện cho linh hồn kẻ đã khuất mà cho những phận người đang sống trầm luân. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn Một ngọn đèn trăm năm Rồi thả đèn trôi trên dòng sông Như tháng giêng trong đêm nguyệt rằm Người thả đèn trôi sông Cầu nguyện cho những ai trầm luân...”

Bên ngoài con đường vắng vẻ đưa vào căn hộ biệt lập nơi ông và gia đình cư ngụ suốt hai thập niên qua, dòng sống hối hả, xô bồ, nhộn nhịp của nước Mỹ vẫn tiếp diễn như một dòng cuồng lưu, nuốt trọn thời gian tranh sống của mỗi cá nhân. Bao nhiêu người như kẻ viết bài này, hàng ngày ngược xuôi trên các con lộ xe cộ như mắc cửi, vẫn còn thấy mình tay trắng vật vã đi tìm những điều nghĩ là cần thiết nhưng thật ra có ý vị gì đâu nếu đã không được lớn lên, cũng hai mươi năm, dưới hai chế độ cộng hòa đã đóng góp cho đất nước, ngoài máu xương bảo vệ tự do, một nền văn học nghệ thuật rực rỡ đề cao các giá trị nhân bản, để chúng ta hãnh diện mang theo làm chính nghĩa khi bỏ nước ra đi vì các giá trị cao quý ấy bị cưỡng đoạt và triệt hạ.

Chiều hôm nay trong khi lướt mạng, tôi tình cờ đọc được một câu trích dẫn của Tryon Edwards, nhà thần học người Mỹ nổi tiếng với các bộ sưu tập lời hay/ ý đẹp, nói về bài học từ một chiếc lá vàng, đối với tôi thật có ý nghĩa vào lúc này: “Do your work well and then be ready to depart when God shall call.” (Hãy sống hết sức mình rồi sẵn sàng lìa cành khi Thượng Đế gọi.) Có lẽ nó giải thích cho tôi và nhiều người nữa, thắc mắc không hiểu tác giả Nguyễn Đình Toàn ngụ ý gì khi ông hạ bút viết lời cho bản nhạc Anh Đến Thăm Em Đêm Ba Mươi của Vũ Thành An, có câu: “Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em?” Ông có tự ví mình với chiếc lá vàng trong ngụ ngôn của Tryon Edwards không?

Viết về một nghệ sĩ lớn, có những cống hiến đáng kể về mặt nghệ thuật và nhân sinh qua một bài viết có giới hạn, chỉ xin được viết ở một góc độ nhỏ với những chia sẻ nhỏ vì rất khó để phác họa một chân dung đầy đủ về họ. Viết về nhà văn/nhà thơ và nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tôi thực sự không biết bắt đầu và kết thúc thế nào? Con đường ông đi trong vô thủy vô chung, những khoảnh khắc hiếm hoi gặp gỡ cũng xin còn mãi mãi lưu hương.  


BÙI BÍCH HÀ    
       
04/19/2019
Bài của chị Hà, đúng như là nhận xét của cac anh chị, đẹp và cảm động. Một bài tâm tình vừa có "tâm" vừa có "tình", được viết xuống bằng cảm xúc chân thực, chân tình.

Nghe nhạc của NĐT, nói thiệt, tôi ko thích như là đọc truyện và thơ của ông, nhưng vẫn muốn tìm nghe, vì ko còn đuợc đọc ông nữa, và vì chut hoài niệm, nói như chị Trùng Dương, như một khán giả "của nửa thế kỷ sau, tả tơi song cũng đang gắng thu dọn tâm hồn mình".

Thế giới văn chương của NĐT có một khí hậu riêng, thi vị, lại có chút gì ẩm ướt và lãng đãng như sương mù Đà lạt (ngay cả khi ông viết truyện cho tuổi mới lớn như truyện Giờ Ra Chơi).  
Văn ông thật ấm áp, thật dịu dàng, nói như chị Hà, và thật quyến rũ. Và giọng đọc của ông thì như vỗ về, như vuốt ve mơn trớn, cứ như là "thì thầm bên gối" hay "rót mật vào tai" vậy.  Đọc ông, có cảm giac ông có ~ giác quan thật tinh tế, bén nhạy, và như chị Hà nói, một "trái tim thật mẫn cảm". Lạ một điều, văn ông thật văn vẻ mà nguời đọc vẫn ko cảm thấy "tạo dáng" như là những ông bà nhà văn làm duyên làm dáng khác. 

Câu tôi thích nhất trong bài chị Hà là "mỗi người biết ông đã giữ giùm ông một chút gì ông tạo ra và để lại".  Phần tôi nếu có giữ lại được chút gì của ông, thì ko phải là ~ truyện, hay giọng văn giọng đọc quyến rũ của ông mà là một bài thơ, Khi Em Về.
Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu, cứ thế, rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che 
LH