Monday, September 6, 2021

Vũ Hoàng Chương, mấy đời thơ / Trần Mạnh Toàn

 

Thơ Vũ là dòng lịch sử của thơ, của cuộc đời thơ, và của chung cả cõi văn chương. Bởi vì thơ Vũ mang theo cái mốc của một tiến trình mà xu hướng lãng mạn đạt tới mức nghệ thuật cao hơn cả. Lãng mạn, sự phô bày không do dự trái tim đẫm lệ, là cảm hứng mạnh mẽ nhất và được bộc lộ dưới nhiều khía cạnh nhất. Thi nhân không chỉ đập mạnh vào trái tim mình mà còn vỗ về như an ủy một cơn mộng sót.

 1940, năm thi-nhân xuất hiện đem theo cái Say của kẻ chán chường, làm thay đổi hẳn bản chất của cái say quen thuộc của thi nhân lớp trước và đồng thời mở ra cuộc hành trình đi tới của cái Say tương tự cuộc truy tầm chân lý. Từ đó văn chương mở ra một cõi riêng, phong phú ngôn từ diệu vợi và hình ảnh huyền diệu phương đông. Như được phó thác cho sự sáng tạo nhiệm mầu, ngôn ngữ được tinh luyện, tinh lọc nhiều lần để mai một quá khứ hiện thân. Ngay cả điển-tích, ước-lệ của đời cũng được cải hoán thành kiếp mới. Ai thắt trên lòng những ngón tay, (1) là bước đi mới của câu " ruột thắt lòng đau" khi lần này, nguyên nhân của nỗi nhớ khởi sự từ ngón tay trau chuốt bên đèn như một tác phẩm nghệ thuật (2).

Ngôn ngữ như được tái sinh nơi cửa Vũ. Thả chiếc bách không chèo trên bể khói (3), câu  tám chữ chứa đựng cả một đời kẻ nguyện lênh đênh vô định theo giấc Say, bao hàm cách thả trôi thân thế, cảnh lục trầm của một lớp người u uất vì lẽ sống.

 Ngay từ tập thơ đầu, thi-nhân đã mở ra một cõi mà ranh giới đã theo thời gian kéo dài đến ngày cuối của một nền văn học yểu mệnh mà vinh hiển. Cõi ấy gần như không cùng vì chỉ trên lãnh vực địa lý nhân-văn, thơ đã từ chỗ ruổi rong theo quan niệm thoát trần tiến dần đến khắc khoải theo vận nước.

Như thế, nói đúng hơn, Vũ không chỉ có một cõi thơ hay một đời thơ. Thơ nhiều đời và gồm nhiều cõi mới là tầm vóc thế giới thơ của Vũ.

 Thơ Vũ gần như là hình ảnh một tinh cầu riêng biệt. Nhận ra được vì vẻ độc sáng của văn chương, nhịp điệu, nhạc điệu, âm điệu, hình ảnh và vóc dáng tráng lệ, mỹ xảo của ngôn từ, liền

lạc thành một khối. Gợi ra bản chất thứ ngọc huyết tẩm, tụ kết tinh anh của người và linh khí của đá.

Thơ Vũ gợi sự phối hợp siêu-nhiên giữa những yếu tố nơi trần thế. Gợi ra sự chuyển hóa phi thường những hiện tượng thiên nhiên được nhận diện qua tâm thức. Như thế, bằng cách riêng, thơ Vũ, có thể hiểu, đã đổi mùa cho mưa Ngâu, vẽ lại lộ trình cho đàn ô-thước.

Vũ đã nối liền hai châu Âu-Á bằng sợi dây tình, nhu nhuyễn như Mây. Với Ysabel, tóc vàng như gỗ quý còn thơ. Thay Thôi Hộ, dựng một đài thương nhớ thứ nhì trong mùa đào nở. Hay hành động tương tự người khắc trang sách họ Bồ, tìm kiếm một chân dung trong giấc mộng của người say.

 Vũ đã đón Mây để biết được ước mơ của gió, cũng như góp gió để làm hài lòng sự gửi gấm cho muôn ngả của Rừng Phong. Cũng như Vũ bắt được mạch của đất trời thuở gió bụi để đưa giấc mộng vào tranh gìn giữ. Trường hợp của Vân-muội không phải là một tình cờ của lịch sử khi thi-nhân lật ngược được thời gian để tìm cho được người thiên cổ. Nghìn thu cũ ! Chính người xưa ước thệ ! Chính em rồi, ta vẫn nhớ chưa quên. (4)

Vũ tái tạo một thực tế cho riêng mình để đổi lấy cái chán chường về thực tế đã bỏ quên cũng như  phiền muộn về cái cõi mình tự tạo.

 Thơ Vũ thời thanh xuân, hầu như phát tiết từ bóng tối của u tịch và lảng vảng bóng dơi của một quá khứ chồng chất hoài niệm. Ngôi nhà có gác gỗ sau Đền Bà Kiệu, ngôi nhà cổ trong một hẻm lầy khu Bạch Mai là những nơi tượng hình cho những chuyến viễn xứ của mơ với cánh buồm căng khói. Văn chương tưởng như đã dấy lên từ quá khứ ẩm thấp, điêu tàn như trang sách mốc, và tương tự nơi khởi nguyên khiêm tốn quen thuộc của dòng trường giang, nó như được sóng lớn vỗ bờ đưa đến nghìn trùng như trăm ngọn nước ra khơi.

 Nói thơ Vũ là lịch sử Thơ cũng vì mang theo những đổi dời nghệ thuật qua thời gian, những bước đi ghi dấu của khám phá lẫn truyền thống cả về thể thơ lẫn bút pháp, mang vết tích tư tưởng cả Á lẫn Âu nhưng để lại rõ rệt dấu tay thi-nhân như lịch sử do một người tạo dựng.

Những đêm Vũ gửi hồn tìm kiếm người ca kỹ Tầm-Dương nơi bến Đà giang.

Những buổi theo chân họ đến tận Hàng-Châu, Kim Lăng đến độ văn chương quấn quít lấy hồn người quên cả lối về

Đây Hàng Châu thường mơ ước đêm Hoa Đăng.

Đêm Hoa Đăng đường xanh bóng trăng.

Đêm Hoa Đăng đèn quanh lối xóm.

Đây cầm ca người mộng gái xưa Kim Lăng.

Những đêm dặn trăng bỏ ngỏ song cửa, đợi người con gái liêu-trai đến từ trang sách. Chỉ ánh trăng vào khuôn cửa thôi. Vũ đã để ngỏ cánh cửa văn chương cho đời được gần gũi giữa lúc bất an đến như người khách lạ báo tin dữ.

 Thơ Vũ vẫn là ngọn gió lành dù có lúc mang theo những ký thác không thể từ chối của miền nhiệt đới. Những gửi gấm của thời đại mà có lần được thi-nhân cho mang danh hiệu chung "loạn trung bút" vừa là tâm sự Vũ, vừa là nỗi khổ tâm của thi-nhân. Đó là cái nhìn xuống đời của một trích tiên, không phải là điều tục lụy. Đó gần như cũng là tâm trạng Nguyễn Du, nghe người con hát năm xưa đàn mà thương cho thân thế mình (Long Thành Cầm Giả Ca).

Khúc hát dâng đời được Vũ cất lên theo tiếng nhạc chung, dẫu có bị bỏ quên, về mặt văn chương, không làm thiệt hại đến Vũ. Nhưng nó là thái độ, trong một giai đoạn, của một người từng từ bỏ phần thưởng dành cho đời mình, nhưng lại không đành lòng thấy đời mà không nhìn lại. Đó là một phần của Hoa Đăng (1959) và cả cái nhan tác phẩm như một lần dành để cảm ơn thực tại.

 Thế giới Thơ của Vũ và đặc biệt thế giới của Vũ không nằm ở đời thường. Nó ẩn mình trong muôn tầng Mây biếc, đêm đêm cậy ánh sao để đọc thiên thư. Thiên thư một cuốn mở dần trao. Thiên thư của Vũ được thu gọn trong hai chữ Có-Không. Bẻ ngược máy huyền vi, cái Mất đổi ra Còn (Tiếng Gọi Mẹ, Trời Một Phương, 1962).

Tiếng-gọi-mẹ năm ấy của Vũ là sứ điệp gửi về trái đất, khước từ quỹ đạo luân hồi để tìm đường bay riêng cho mỗi kiếp người.

Vũ đi trước cả sứ mạng mà Trời thơ giao phó cho một trích tiên. Mượn hai mươi tám vì tinh tú để bày một ván cờ thiên cổ trong hầu hết những lúc lắng lòng. Và, Vũ đã tìm được nước cờ giành được chân thân. Hoa đợi trăng lên trả bóng mình (Giây Phút Đoàn Viên).

Trích tiên không phải là phúc thần nhưng thơ cũng bàn đến duyên và nghiệp và báo trước cơ trời. Bạch-thư dầy mấy muôn tờ đất đen (Đào Sâu Trang Sử).

Trời thơ Vũ nương náu có giấc bướm và mộng liêu-trai chở che nhưng Vũ không có tâm an hưởng. Văn chương Vũ gửi xuống đời vẫn là dằn vặt triền miên của người cô đơn cả trong ước vọng. Kể từ khi bất an, bạo lực lan tràn, bậc trích-tiên như nguyện ở lại với đời trong tinh thần quán-thế.

 

Ngồi Quán (1972), tập thơ gần cuối, là chung khúc gửi đi từ mặt đất bi thương thay lời trăn trối của một người trong cuộc. Không hẳn Vũ, một lần nữa, muốn gửi gấm bằng "loạn trung bút," mà là đích thân cùng chịu nỗi đau với đời khi, máu loang Đất Mẹ đêm ngày.

Thơ Vũ từ đây như tiếng dội từ mặt đất lên Trời thơ, như muốn đưa Thơ xuống chứng kiến nỗi niềm quán-thế.  Cái đau như đã chuyển kiếp khi được tùy duyên bố thí như một cộng nghiệp. Đã nghe cốt nhục đau nhừ Trường-sơn (Một Sợi Giống Nòi, Ngồi Quán).

Hình ảnh người quán-thế là hình ảnh của hải triều dâng trọn một cõi thơ. Nó mang đến ý nghĩa rộng lớn và sâu thẳm mà ý thức của người thơ về ngọn lửa tỉnh-thức năm xưa chỉ nên được xem là hiện tượng thứ nhất.

Cõi Thơ của Vũ từ đấy liên quan đến ý nghĩa của cõi cứu-khổ, một sự cộng-thông với khổ nạn, đau buồn mà con người có nghĩa vụ mở tay. Con người lớn dậy từ đây trong tâm hồn và gỡ được cái gông bất hạnh u minh. Cõi Thơ từ đấy vằng vặc với lời di thư mang nặng dấu tiên tri

ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại

chúng ta mất hết, chỉ còn nhau (Ba Kiếp Lang Thang).

Để sáng lên lời thơ cứu thế, Vũ đã vượt qua ngần ấy cơn Say, mượn Mây để xây riêng một cõi trời thiên thu bất hoại. Như thế, ngay cả lúc như thể quay lưng lại, Vũ không đoạn tình. Hệt như Bùi Giáng nghĩ về Vũ, " Phải yêu đời đến nước nào mới có đủ can đảm khước bỏ  mọi lạc thú của đời" (5).

Yêu đời, với Vũ, phải hiểu là tránh không để đời phải chịu thêm ràng buộc với mình. Nên thái độ tưởng như không vồ vập, hững hờ với đời, nên được xem là sự thể hiện cách-điệu một tình cảm, một suy nghĩ không theo quy ước.

Ngày mai bỏ cuộc để làm người (6). Cuộc chơi mà thi-nhân kêu gọi thoái lui chính là sự ràng buộc bất lợi cho cuộc sống ta có mặt. Nó không phải là cuộc đời mà ai nấy đều không thể không cưu mang.

Trong tinh thần quán-thế, thi nhân không chỉ gánh nhận nỗi đau mà còn chỉ ra hướng giải thoát cái đau. Hãy nghe phần lớn văn chương cuối đời, người đã dành cho mục đích cứu khổ. Thực-tại không còn là đối tượng để kích thích xu hướng của người chủ trương nhập cuộc hay xuất thế,

mà là hiện thân của nỗi đau chung cần giải trừ. Và không chỉ nỗi đau lớn nhất là cuộc tranh chấp diễn ra bằng bạo lực đương thời mà còn là đối đầu, xung đột dưới nhiều hình thức và trên nhiều lãnh vực.

Thi nhân sau khi chỉ ra một viễn ảnh mà ai cũng đều mong ước. Chúng sinh bao kiếp đọa đầy sạch trơn (7). Đã hóa thân theo tinh thần ba-mươi-hai tướng để thực hành nguyện ước với đời.

Trong đó, trước hết là ý thức về cuộc xung đột, là vết thương sinh tử hiện thời. Cuộc chiến cũng giao hoàn đứa trẻ. Từ lâu bày đặt những trò chơi (8).

Và, thứ nữa, mọi việc, được hay mất, vô nghĩa hay không, đều tự ở tâm người. Chuyện-vô-tích, Kịch-vô-hồi. Kể bằng tim diễn bằng môi tự đầy (9).

Giải trừ đau khổ không chỉ vì cái đau phi lý mà còn vì cái nghiệp duyên hình thành chúng chẳng của riêng ai. Vì... bụi vô danh, tro khuyết danh (10).

Thơ Vũ, từ đây, óng ánh những giọt tịnh-thủy. Trong những phút tự hào, thi-nhân đã dùng văn chương để hóa độ, mà đúng với tinh thần phá chấp, người không thấy việc làm là hành động mang ý nghĩa cứu thế. Bởi vì, có lần, dấu tay người thi-sĩ để lại trên vết thương-tâm, ngày một rõ rệt là cách chữa lành không chỉ cho riêng mình. Phút giây Trăng-một-phương tròn lại. Rồi tự hòa tan Rượu-đắng-mơ. Cùng nhịp tim trôi vào bất tận. Không-ngày-không-tháng-không-bơ-vơ (11).

Vũ trụ thơ của Vũ là thơ trăm cõi. Và, Vũ không chỉ có hai đời thơ như có người nghĩ, khi chỉ lấy Thơ Say, Mây làm mốc (12). Nhưng, như hình ảnh dòng trường giang cuồn cuộn, có thể lấy nơi dòng sông ấy thức giấc hay ngủ yên hay giận dữ để làm một cách ghi dấu.

 

1- Vết Thương Đầu, Một Cách Đối Diện Miễn Cưỡng Với Đời.

Hầu hết những người viết về Vũ (Tạ Tỵ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Bằng, Đoàn Thêm, Trần Tuấn Kiệt, Viên Linh, Nguyễn Đình Tuyến, Nguyễn Vy Khanh), gián tiếp hay trực tiếp, đều xem mối tình đầu của Vũ là nguồn cảm hứng, có khi là sâu xa, mạnh mẽ nhất. Là cội nguồn của rung động được dẫn truyền bởi sự nâng niu hiếm có của nghệ thuật.

Nhưng, với Vũ. tình yêu là cái cớ để Thơ nên lời. Không hẳn là cảm hứng nếu hiểu rằng Thơ không nằm trong lãnh vực của điều-kiện hóa. Nhưng không thể giấu, tình là thứ men nồng khiến Thơ thêm ngây ngất. Và thơ Vũ đã vượt qua, tình được dấy lên để lên cao, bay cao như con diều của tuổi thơ đầy ước vọng mong chờ.

Tiếng khóc Tháng Sáu cho Tình của Vũ, trước sau, được kể là tiếng khóc diễm lệ của văn chương, nên được hiểu như sự đối đầu trực tiếp nhưng miễn cưỡng với đời khi thi-nhân ban đầu tỏ ra muốn tránh mọi ràng buộc và gây thêm phiền nhiễu. Chính quan niệm sự thất bại tình cảm to lớn nhường ấy khiến Vũ thu mình sâu hơn trong bản ngã vốn đã bị cái nhìn không lạc quan làm thêm u uất. Ta vừa thấy một linh hồn mỏng mảnh. Níu vai ta đòi trả lại yêu đương (Bạc Tình, Thơ Say). Nếu không là kinh nghiệm, thì thi-nhân bị ám ảnh bởi quan niệm món nợ tình

yêu. Tình không hề là tặng phẩm hay ân huệ của đời. Là món nợ trả bằng máu lệ cũng chưa vừa. Tiếng nửc nở trên vai nhường nhỏ huyết (Bạc Tình).

 

Sự tan vỡ giấc mơ đầu đặt Vũ vào vị trí nạn nhân thiên cổ của thất bại, đến mức tự giam mình trong sinh phần của kỷ niệm, tuy rằng, đồng thời manh nha một cách "di lý" theo quan niệm người xưa. Xem hiện-thế ngắn ngủi và bất định như giấc Bướm. Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp. Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi (Mười Hai Tháng Sáu, Mây).

Tình đầu tan vỡ không chỉ là mối thương tâm. Nó khiến Vũ mang mặc cảm một đời kẻ thất thế. Biến một phần cái giả định của kẻ đời tàn trong ngõ hẹp thành một sự thực đắng cay (13). Thái độ của người lấy cái Say như cứu cánh, khiến Vũ tự hào có cái hào phóng với đời. Nay, trong tâm trạng thất thế, vết thương ăn sâu theo thời gian và khiến nó trở thành dữ kiện để lượng định mức độ tổn thất nơi Vũ.

Nhưng, người ta không tìm thấy lần nào Vũ chống trả đời, mà thay vào là ước vọng làm vĩnh cửu mối tình, theo cách riêng của thi-nhân, nghĩa là tâm trạng của người không bạc tình với quá khứ. Ta quyết gặp chính-em-mùa-thệ-ước (Bài Ca Hoài Tố, Rừng Phong, 1954.)

Của một niềm tin phục sinh, theo nghĩa nuôi dưỡng vững bền một ước vọng. Thì rẽ sang dòng năm tháng khác. Cùng nhau tái tạo giấc mơ tình (Giấc Mơ Tái Tạo, Trời Một Phương, 1962).

Nhiều năm sau, mơ ước được thúc đẩy thêm không kém thiết tha từ một dự cảm khoa học. Một hành-tinh mới, hai người-yêu xưa (Gấm Hoa, Cành Mai Trắng Mộng, 1968).

Và sau cùng, giấc mộng giải thoát đến với thi nhân như cái nhìn chung với toàn cục. Cùng với ý niệm phá chấp như cách giải quyết trước hiện tình xung đột, mối dây thương nhớ do ái dục lỏng thắt dần khi cơn sầu nửa kiếp Thơ chưa hẳn không để lại dấu không phai. Giây phút cũng tan thành biển lệ. Trả cho cát bụi nhé Kiều-Thu !" (Tố Của Hoàng Ơi, (viết 12.6.1972), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, 1974).

Có thể nghĩ thi-nhân đã thủy chung không rời cuộc tình lỡ ban đầu như đem theo trái tim bất hoại trương-chi. Và, Vũ xem mối tình đầu như chiếc gương soi, phản chiếu tấc lòng Vũ cho đến khi nhắm mắt.

Tình yêu, mà cách bảo vệ và ngay cả gìn giữ sự tan vỡ, không còn là cách thi-nhân đối phó với đời. Vũ nâng niu nỗi tiếc thương tráng lệ và cực kỳ sủng ái như một ơn thiêng, không chỉ từ khi văn chương nhuốm tinh thần quán-thế.

Cuộc tình lỡ trở thành sự trắc nghiệm cần thiết với thi nhân khi mà tình yêu, trong tập thơ đầu, như chìm khuất trong cơn Say, như phần phụ tùy của giấc Mộng, nhẹ như tơ và lãng đãng như mơ. Hương đã nhạt mà hoa dần đã héo. Còn chi đâu nồng thắm để yêu mơ. (Chậm Quá Rồi, Thơ Say.)

Cuộc tình lỡ, nấm mộ lòng bằng ngần ấy tinh ba ngôn ngữ và hồn thơ, là bằng chứng của người yêu đời không phải lánh đời như nhiều người nghĩ.

 

2- Công chúa mười-lăm, một kiếp thơ.

Tam ngũ thường nga bất nhiễm trần

Nhu trường uổng đoạn Vu San vân

Thi đàn xưng bá, hoa xưng hậu

Bỉ quốc hà duyên đắc thử nhân ?

(Mây Sóng Tình Thơ, Cảm Thông)

Tháng 9-1959 tại một thị trấn bên bờ Hắc-Hải nước Bỉ, Knokke-le-Zoute, Vũ tham dự một hội thơ quốc-tế tổ chức 2 năm một lần, và đây là lần thứ tư. Duyên thơ một thuở đến từ đây. Ysa tức Ysabel Baes, một trong những người thơ đại diện nước chủ nhà, tuổi mới mười lăm mà nhan sắc

khiến trăng rằm ngại đến bên để cùng so tuổi. Cả đến sắc màu hội-họa của nàng thơ cũng nguyện theo chân nàng tô điểm. Mộng trắng thơ vàng tóc bạch kim (Mây Sóng Tình Thơ, Cảm Thông (Communion), 1960).

Giấc mơ hoa năm xưa như bừng dậy và từ đây, Vũ có thêm một đời-thơ-nhuận bởi vì cùng lúc, sự tiếp xúc với giới thơ bên ngoài nước, đã mở thêm cho Vũ, một song cửa rộng giao cảm trong cái nhìn về trời Tây bát ngát. Và, Tâm Tình Người Đẹp (Les Vight-Huit Étoiles, éditions Nguyen Khang) in năm 1961, là cuộc thám hiểm dò tìm trong cõi sâu của hồn người và hồn vật cũng như khám phá khác biệt giữa 2 thế giới Á-Âu qua lòng người thơ bằng vào phương vị của mỗi từ ứng với hai-mươi-tám vì tinh tú.

Ở một phương diện, đời-thơ-nhuận của Vũ có ý nghĩa sự hiển linh của kiếp liêu-trai sau nửa-đời-thơ đợi mà không gặp. Hồ ly không hiện, người không đến. Chỉ ánh trăng vào khuôn cửa thôi (Chờ Đợi Hoài Công). Ysa như bước ra từ trang sách cổ để chứng minh vầng nguyệt rằm có thực và rằng điều thi-nhân khắc khoải về sự cảm thông kỳ diệu giữa những kẻ tài hoa không còn là vọng tưởng.

Ysa đột ngột đến với đời thơ Vũ hệt như giấc mơ được lặp lại vì những ảo ảnh để lại với thi nhân mà 160 câu thất ngôn trong Công Chúa Mười Lăm chưa thể chuyển hết. Cái kết thúc nàng đã nhận ra như sự thực mà người-thơ chẳng thể bàng hoàng. Anh nhích gần coi em vẽ bóng. Cho Thơ là một với Chiêm-bao. Nàng thơ đã là hiện thân của Họa và Thơ mà cuộc đời không ra ngoài sinh mệnh của vần điệu hay thể khối mầu sắc. Nàng đi mang cả hồn Thi, Họa. Trời biển nằm trơ mấy mảnh khung.

Cũng có thể nghĩ Ysa đến như giấc mộng tân Liêu-trai của thi-nhân khi viễn ảnh nối liền Âu Á bằng sự cảm thông không còn là huyền thoại. Khi mà sự cách biệt âm-dương trong liêu-trai đã được thi nhân xóa nhòa thì khoảng cách địa dư trong liêu-trai-mới không thể là điều cản trở. Bởi thế ta mới thấy thi-nhân lấy sở đắc của phương tây làm điều tin tưởng cho chính mình

ai gạt giùm ta trục địa cầu

xiên về bên trái của châu Âu ?

để ta chung một vòng kinh tuyến

khỏi bị Thời Gian chia rẽ nhau

(Mây Sóng Tình Thơ, Cảm Thông).

Giấc mộng liêu-trai hai mươi năm trước của thi nhân là cách giải tỏa một thực tại bị ngờ vực là lãnh đạm với người. Người góp tinh huyết vào giấc mộng này như loài chim ác-là lấy gan ruột mình nuôi bầy chim con. Liêu-trai là một phần hồn xác của nhà thơ, che chở người đi về trong trầm luân của cuộc thế. Lòng cháy yêu đương tự bấy giờ. Xá chi ngoài Thật với trong Mơ (Tình Liêu Trai, Mây).

Liêu-trai không còn là một huyễn tượng nữa, chẳng những vì biên giới giữa hư và thực đã được xóa nhòa, mà sợi dây tình kết nối hai cõi đã là một thực thể. Vang bóng hài xiêm chuyển thớ da (Đậm Nhạt, Mây).

 

Trong liêu-trai-mới 1959, người trong trang sách đến trước mặt thi-nhân bằng xương bằng thịt, có chân dung là kết hợp vẻ đẹp của đất trời. Bỗng dưng mái tóc nàng mê hoặc. Mây bỏ trời xanh tự bấy giờ (Ysa, Cảm Thông). Mối tơ duyên lấp lánh sắc của cầu vồng nối hai chân trời giao cảm văn chương. Thơ là huyết mạch, nay là mai nhân cho sự trùng phùng giữa hai tâm hồn, giữa hai hồn thơ. Bài thơ Ysa có dáng vẻ của tân khúc phượng-cầu-hoàng, dìu dặt nơi Mái Tây và dạt dào đằm thắm hương vị trần gian, điều mà đời liêu-trai của Vũ còn thiếu vắng. Hãy buộc lên Trăng thuyền mật ngọt. Đôi ta chèo đến bến Siêu-chân (Ysa, Cảm Thông).

Là mối duyên tân liêu-trai vì trước sau, thi nhân và giai-nhân thi-sĩ chỉ thường xuyên gặp gỡ nhau trong tâm tưởng, trong giấc mơ. Là sự kết hợp hai khối Mộng trong lúc chúng gặp nhau và cùng bay về một hướng. Trời sẽ chỉ còn một phương như nỗi nhớ làm mất đi ba hướng còn lại. Nàng ôi, Tình một phương không đáy. Ta phải làm ra đáy để tìm (Công chúa Mười-lăm, Cành Mai Trắng Mộng).

Đời thi-nhân là bến vắng chờ đợi. Tiếp nối người bước ra từ trang sách liêu-trai, người thi-nhân trông đợi đã " ba mươi năm " phải chăng là Ysa, người mà "mắt xanh ngàn thuở lại hồ ly."

Ysa đến như trong sự xếp đặt của thiên thư. Ra đi là để tới đây thôi (Công-chúa Mười-lăm). Chuyến đi của thiên sứ cho một giao tình nghệ thuật giữa sao Khuê và sao Văn, lấy nước Hắc Hải làm mực viết lời hẹn thề. Tay nàng nâng sách, ta nhìn xuống. Nàng chợt như tia nắng rụng vào ! (Công-chúa Mười-lăm).

Vũ, trong sự hiển linh của liêu-trai đã gặp Ysa. Trang sách họ Bồ có thể sẽ vĩnh viễn khép lại khi người trong sách đã trở về nơi đoàn tụ với Thơ như thi-nhân đã viết

công chúa Mười-lăm chẳng bỏ ngôi

ra đi là để đến đây thôi

cùng ta xum họp muôn ngàn kiếp

chỗ hết Thời-Gian, đích phản hồi ?

(Công-chúa Mười-lăm)

Thi-nhân không chờ đợi như bao lần để ngỏ song khuya chờ đợi liêu-trai hay mang tâm trạng trông chờ suốt 30 năm người trong Mộng. Lần gặp gỡ tại nơi xa xăm này đã chấm dứt sự đợi chờ.  Ysa đã chấm dứt giấc Mộng của thi-nhân, hiểu theo nghĩa, Ysa chính là giấc Mộng vĩnh cửu. Người thiếu nữ mà tóc quyến rũ được mây trời và đôi mắt làm chết đuối đại dương bao la, là sự chinh phục huyền thoại và ước mơ từ trang sách liêu-trai. Và khác với người thiếu nữ liêu-trai, Ysa đã chấm dứt huyền thoại và hiện thực hóa ước mơ như làm được phép mầu.

Người thiếu nữ mười-lăm của phương tây làm đau được lòng thần nữ yêu-đương của phương đông.  Nhu trường uổng đoạn Vu San vân (Mây Sóng Tình Thơ), phải là người ngự trị cõi của Tài Hoa.

 

Ysa để lại cho thi-nhân như kỷ vật, bốn phụ bản tranh trong Cảm Thông (1960) và bốn tranh minh họa trong Tâm Tình Người Đẹp (1961.)

Thơ cũng như Họa mang dấu tay Ysa là thiên thạch ly khai với hệ thái dương mang theo tinh anh của các nguyên tố làm nên sự sống, vì người ta tìm thấy ở đây ý niệm đi ra từ cuộc sống. Nhòa tranh siêu-thực bóng trang đài. Thơ trừu-tượng cũng nhòa linh giác (Công-chúa Mười-lăm).

Tranh phụ bản là sứ giả của ước mơ gửi đi từ thực tại cho cuộc hội ngộ giữa hai đại biểu của hồn thơ. Chúng phải là hơi thở của nghệ thuật giữ vai trò người mang sứ điệp. Đứng bên cạnh thơ Vũ, không thể xem sự chênh lệch trong tuổi của mỗi xu hướng, mà nếu có, là sự hòa hợp kỳ diệu giữa những khác biệt. Là nghệ thuật hòa hợp của tâm hồn đồng điệu trong tài hoa.

Bốn phụ bản trong Cảm Thông có thể mới là sự làm quen, dọ dẫm giữa hai tâm hồn. Mầu sáng, tươi, nguyên, trong trinh như giấc mộng đầu được đặt trong khung cảnh mâu thuẫn gần như tuyệt đối của thử thách. Thông trên tuyết.  Biển San-hô. Xương-rồng. Thần chết. Bối cảnh càng nghiệt ngã, đắng cay, càng làm sáng lên diện mạo một tâm hồn đạt tới điểm cao của chân thiện mỹ. Người vẽ như gắng nâng cao mức đối nghịch của thế giới bên ngoài để cõi lòng thêm cách biệt. Như nước được lóng trong. Mức xung đột cao nhất với con người là sự chết, cái vĩnh viễn. Tâm hồn trong như nguyệt của cô gái trăng rằm đã linh cảm mức đối nghịch quyết liệt nhất nơi trần thế. Nàng nhìn về với đôi mắt không còn ngây thơ. Tuổi vô tư đã khiến tài hoa giành mất vị trí. Có lần nàng được ví như mây trời." Lòng em là một cánh chim trời." (Ysa, Cảm Thông). Cũng như thi-nhân, tình cũng chỉ là những lần chắp mộng. Họa mới là phần tiềm thức của Ysa, còn Thơ là cõi tâm hồn và ước mơ được gửi theo. Tiềm thức nàng chất chứa không chỉ những giấc mơ chưa thành mà cả mộng lòng chưa nở. Và, chỉ có thi-nhân trực giác thêm rằng cái bến thực-hơn-cả-thực, bến tình vọng cầu của thi-nhân cũng chỉ là ảo ảnh. Bờ bến Siêu-chân vừa đánh đắm. Ngàn thu vào sóng tóc đầy vơi (Ysa, Cảm Thông).

 

Bài thơ đầu Ysa là tín vật "chạm ngõ" của thi-nhân, từ đó mới lần ra được lòng người nhận. Cánh chim bể Bắc chẳng vô tình, nhưng gió và mây đã giúp nàng nâng cánh. Tín vật chưa kịp trao, thi-nhân đã thành người chờ đợi. Diểu diểu nhất phương hề vọng mỹ (Ysa, Cảm Thông).

Thi-nhân hiểu thấu nàng hơn là với liêu-trai vì Ysa có một trái tim.

Tâm hồn Ysa còn có thể lãng đãng trong bốn tranh minh họa trong Tâm Tình Người Đẹp (1961). Hương thặng-phấn vương vấn trên bốn bài thơ 28 chữ được chọn để lưu tình. Thôi Hết Băn Khoăn, Tâm Tình Người Đẹp, Trăng Không Đổi Hướng Đám Cháy Đổi Dời.

Tranh cũng như tình đều ở thế Siêu-chân, nghĩa là vượt lên sự thực để giãi bày cái có thực. Cái thực không giản dị nằm trong quy ước.

Thi-nhân chọn trăng để gửi tình về hướng tri âm nhưng trăng chỉ có một phương:

ngọn móc vàng treo lửng sợi mây.

kéo đi nhằm một hướng Đông Tây.

đầu trăng cuối nguyệt thư tình đến.

em trả lời anh sao được đây.

(Trăng Không Đổi Hướng )

Ysa cũng mượn trăng thay cho lời hồi âm một tấm tình. Cũng vầng trăng khuyết như chiếc móc vàng hờ hững trên cao. Tình chẳng thể phản hồi khi thi-nhân chọn trăng làm sứ giả. Tình không là con đường một chiều. Trời đất thành bóng tối của vực sâu khi trăng non là hướng duy nhất trông chờ. Ysa để lại một vạch chéo sáng giữa một khối đen như đánh dấu điểm "vọng nguyệt" của thi-nhân. Điểm đứng thành bơ vơ giữa lòng đêm và các hành tinh khác vì chỉ nối liền với trăng theo hướng duy nhất.

Ysa còn gửi gắm ít nhiều khi thi-nhân diễn tả thâm tâm người nữ thần Tình-ái. Lòng đè nén như hỏa sơn ngủ yên. Đôi mắt như hồ thu sẵn sàng bùng lửa si-mê. Đáy sâu cặp mắt xanh Thần-nữ. Lửa khói đang chờ dịp bốc cơn (Tâm Tình Người Đẹp). Kẻ si tình không chỉ nhập thân vào ngọn gió đa tình đuổi theo tà áo. Tình-ái ẩn mình trong cái lặng lẽ chờ bùng vỡ. Nó là hiện thân của ngọn núi lửa ngủ quên, của ngọn thác dữ trong mùa cạn. Ysa không giấu lòng về mãnh lực của tình. Như một huyền thoại mù lòa nhưng đầy quyến rũ. Như một sức mạnh Siêu-chân nhưng dễ mềm lòng, chìm đắm vì sóng mắt.

Ở điểm này, ấn tượng gây ra trong nét họa Ysa gần gũi hơn với ngôn ngữ tượng trưng:

Và thể xác anh giữa cuộc đời

Tiêu ma vào thạch động làn môi

Vì trong cấm địa hàm răng ấy

Huyệt lạnh kề bên mỗi nụ cười

(Trái Tim Hồng Ngọc, Đinh Hùng)

Nhưng, người thiếu nữ còn có những ưu tư. Mối băn khoăn siêu hình đôi lần thoáng hiện trên vầng trán ngây thơ như đám mây đen lảng vảng trên trời thu. Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người. Sên bò nát óc máu thầm rơi. Nét siêu-thực lẫn trừu tượng thể hiện trong tranh là những bóng người chụm đầu nhau như cùng chung một cội nguồn, một nghi vấn phải cưu mang. Nét vẽ còn gợi ra hình ảnh đống củi được sắp xếp cho một đêm canh thức cho ưu tư không thể cất xuống. Bóng tối trùm phủ trên vai con người như gánh nặng ưu phiền và điều toan tính. Ysa dừng lại nơi Thôi Hết Băn Khoăn (Enfin L'épilogue) có thể cùng một mối trăn trở như thi nhân về cái chung cuộc của sự hiện hữu hơn là sự khám phá ngộ nghĩnh về ý nghĩa tượng hình của hai dấu chấm hỏi (?) và chấm than (!)

Ysa còn chung ý thức về lửa, một nguyên tố của sự sống, từ ngọn đèn leo lét cho đến khi thành một nhân tố hủy diệt. Ysa hình dung ra ngọn đèn khuya qụy xuống bên lề đường dưới sức nóng như người kiệt sức. Lửa như lưỡi loài ác thú, liếm sạch mọi vật trên đường đi. Lửa ở nội tâm cũng như ngoại giới đều mãnh liệt như nhau:

Lửa bị xiềng chân mắt đỏ ngầu.

Thèm đi... đi bất cứ nơi đâu.

Khát teo ruột bấc tim đèn rụng.

Lưỡi mọc dài ra nuốt Địa Cầu.

 

Ysa không thẹn với lòng, hứa như một cánh chim trời. Con thiên nga của xứ Tuyết hay cánh phượng lánh mặt thi-nhân nơi kiếp thứ mười. Nét họa nàng để lại như dấu chân chim vô tình bỏ sót trong lộ trình. Thi-nhân thêm một lần nữa, thành kẻ đợi chờ. Kỷ niệm tung hoành nát gối mơ. Giấc mơ liêu-trai 30 năm dài vẫn không vô nghĩa khi thi-nhân xem cuộc đời là bến đợi sông chờ.

 

3- Ngôn Ngữ, Tình Nhân Của Tâm Hồn Người Thơ.

Ngôn ngữ được triệu dụng tuyệt vời từ tay thi-nhân trong mọi hoàn cảnh. Kể từ khi muốn bày tỏ với đời một cái nhìn riêng biệt và với thái độ của kẻ mượn chén, Vũ lấy nguồn trong mát của suối nguồn tư tưởng phương đông làm nơi phát tích cuộc viễn hành của tâm hồn, kể cả phản chiếu những rung động có được nơi một tấm lòng rất mực chung thủy với cõi riêng. " Chết, thế tôi cũng thay đổi rồi ư ?" (14). Câu nói vô tình của thi-nhân hé lộ sự khép kín cá nhân trước những diễn tiến phải có của khách quan, ngay cả với những chiếu cố mà đời dành cho con người tài hoa. Phương đông là hướng duy nhất của mặt trời lên lẫn khuất bóng, trong cõi riêng khi thi-nhân bước vào đời.

Tiếng-thở-dài-của-phương-đông-trầm-mặc, một nét bút lập-thể tượng hình cho Vũ, đúng ra là nét đăm chiêu quá đỗi nơi một tâm hồn sớm buồn trước tuổi. Vũ đã mượn cái Say khi cái sầu chưa thực sự đến. Cái nhìn quen thuộc từ đông phương không muốn khoác lên vạn vật cái vui tươi để lộ trong lòng. Cái đẹp đông phương không ra ngoài sự trắc ẩn thường hữu và vô cùng với cái đau khổ, nỗi mất mát thường xuyên nơi kiếp người.

Nhưng cái buồn của kiếp người ly phụ vốn xuất thân con hát để lại chiếc bóng nơi bến vắng Tầm-Dương, với Vũ, lại là một chỗ khuyết nơi bến đợi chờ và ngay cả trong khúc hát. Khúc tỳ-bà trong thơ Vũ được viết lại như giấc mơ không thể tái sinh. Nẻo say hư thực bóng muôn đời.

Liêu-trai cũng là giấc mơ tiền kiếp không trở về cùng người một kiếp trông chờ. Trang sách bên song khuya để ngỏ bao lần nhưng thi-nhân từ chối khép lại để trông chờ. Vũ, ít ra là trong thơ, đã nghịch ý với người trong sách để chiều ý văn chương. Vì đợi-chờ, dở-dang là nàng thơ của Vũ. Gặp gỡ chừng như truyện Liễu Trai.

 

Một thời, tưởng như Vũ đã nhập kiếp liêu trai. "... thường bận áo gấm màu lam, đi giày ta, mang khăn xếp, tay cầm quạt và luôn luôn có đem theo cuốn Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh bằng chữ Hán. Vũ đi thất thểu, chậm rãi với phong độ nho gia." (15). Đây là lúc thi-nhân ra khỏi thế giới riêng trong cố gắng tự nhiên khi cõi này tưởng như bị xâm phạm do ngoài đời cuộc thế gia tăng nhiễu nhương. Văn chương giúp Vũ điều giải trong tình thế căng thẳng này và Vũ có kịch thơ Vân Muội như một chiến thắng, như một phép mầu bảo toàn được cõi thơ của Vũ. Hãy xem Vân Muội xuất hiện trong bầu khí không bình thường của thơ, giữa sát phạt của đòi hỏi khách quan, trong một đại hội văn nghệ tại địa bàn tản cư, để thấy xu hướng sống và viết của thi-nhân

vẫn vượt ra ngoài vòng cương tỏa. Giấc mộng và cả cuộc sống liêu-trai vẫn còn là giấc mộng hôm nay mà Vũ  là người canh thức.

Một lần nữa, ngôn ngữ góp phần làm sống lại giấc mơ phương đông, giấc mộng liêu-trai, như đã làm nên cơn Say bất diệt để chinh phục trời quên. Cái đẹp, vẫn là ước mơ, dù hư hay thực, của bao người. Nhớ nhau mờ thoáng hương về mong manh.

Ngôn ngữ thơ của Vũ có chìa khóa riêng để tương tri. Và có nhiều cho nhiều cõi.

Trước hết, ngôn ngữ gây được khí hậu riêng cho từng cõi. Ở Thơ Say, Mây,  Vân Muội, Rừng Phong, ngôn ngữ đậm đặc chất phương đông như cõi riêng của thi-nhân mượn cái Say làm trường mộng và giấc mộng Trang Chu làm nẻo chính đi vào đời. Say và Mộng chen vai trong văn chương như sự sánh vai của hai kẻ tài hoa chung một phận tài lụy. Trai lỡ phong vân, gái lỡ tình. Này đêm tri ngộ xót điêu linh.

Ngôn ngữ đã lui lại thời gian ra đời để nhường bước cho lòng thi nhân được vừa ý người xưa trong cái sầu muộn, đau thương hay tiếc nhớ. Cái sầu là cái sầu quá-khứ của người ra đời trước mười năm, Đông Hồ, không ngại sự chênh lệch thời gian. (16)

ái-tình nào phải bướm ngày xuân

tình-ái ngày xuân chỉ một lần

một thoáng bay qua không trở lại

gái xuân dỏ lệ khóc tình quân !

( Đông Hồ, Cô Gái Xuân, 1935)

Cái đau được mặc áo cổ điển, đi ngược với thời trang, như sự thách thức với đương thời. Kiều Thu hề Tố em ơi. Ta đang lửa đốt tơi bời Mái Tây. Ngôn ngữ của văn chương đã đưa cái đau

vượt qua được thời gian đến vị trí hôm nay mà không cảm thấy ngăn cách. Làm được điều mà cô gái xuân còn khắc khoải.

Ngôn ngữ trong phong vị ấy như thứ hương trà, chiếm lấy ngũ quan hiện thời cho một cảm giác thuộc về quá khứ.

Ngôn ngữ xưa để lộ tiền kiếp vì nghệ thuật sử dụng chúng là tân kỳ. Như hơi thở mới làm phục sinh xác cũ. Như liêu-trai bước ra khỏi trang sách xưa như một tình nhân.

Như trăng cũ không thể a tòng với người, theo cách của thi-nhân. Trăng mới cuồng si nụ bán khai (Cảm Thông, Mây).

Buồn xưa cũng không có dáng dấp sầu muộn như Vũ. Mà đây lòng trắng một mùa đông. (Đời Vắng Em Rồi, Mây).

Và, người đẹp như Kiều hiếm thấy trở lại trong văn chương như thi-nhân có lần dàn xếp. Trăng xế hoa lê ngả trước đèn. Hoa đèn trên bấc não nùng ghen. (Hợp Tan, Rừng Phong) (17).

Ngôn ngữ trong các tập thơ kế, kể từ Trời Một Phương (1962), dần dần rời khỏi thế giới xưa nghĩa là cõi Mộng và Mơ để bước vào nghi vấn mới quanh con người. Đây không hẳn là sự chuyển hướng của thi nhân, tương tự cái suy nghĩ của nhiều người khi có mặt Hoa Đăng (1959).

Đó là sự tìm kiếm con đường cho tâm thức, cho tâm linh, kế tiếp con đường dành cho một cách sống.

Người ta có thể nghĩ, ý thức có cơ hội gần gũi hơn với thi nhân nhưng ngôn ngữ vẫn chiếm vị trí không hề thay đổi. Ý thức được bộc lộ theo cách riêng nhưng ngôn ngữ vẫn xê dịch theo hồn thơ đúng mực. Không còn những Bài Ca, Bài Hát thể hiện cái hào sảng của người đập chén, cái phóng túng của người tận hiến ngay cả trong giấc mộng. Mà là những bài thơ không-thể, hay phá

vỡ thăng bằng nhịp điệu, thanh điệu được gìn giữ bấy lâu, như cách để chứng tỏ sự so lệch càng tăng theo thời gian giữa con người với ước mơ thường hữu.

Ngôn ngữ ở đây vẫn mang dấu tay Vũ, dù khác xưa, nhưng vẫn là cách để nhận dạng thi-nhân. Có thể nghĩ Vũ đứng ngoài mọi đổi thay, hiểu theo nghĩa của việc nhường bước trước thực tại để tồn tại.

Việc tiến tới tâm thức, tâm linh và nghĩa sống là chuyến đi không thể không có của thi nhân, đối với người tìm được chân lý ở cuối cơn Say, xem tận túy là chặng cuối để lòng bừng sáng. Người đã giác ngộ nẻo đi về của sự hiện hữu. Trông ra bến hoặc bờ mê. Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương (Nguyện Cầu, Rừng Phong). Cũng như ý nghĩa tánh không của vạn hữu. Thơ ta chẳng viết cho đời. Không vang nhịp khóc dây cười nào đâu. Người ấy không dừng lại bên đường để nhìn thơ như một kiệt tác cả về mặt kiến trúc.

Con đường đi tới là con đường của thi-nhân và vẫn là một trong những cõi riêng mà thi nhân tạo được không chỉ cho riêng mình. Nguyện  Cầu, chẳng hạn, là một bước ra khỏi cõi của Say và Mộng, nhưng trái lại, cũng coi như chưa hề rời khỏi, vì dấu tay, hơi thở thi-nhân vẫn hiển hiện trên từng phiến thơ, mạch chữ.

Có thể nghĩ khởi từ Trời Một Phương, một ngã rẽ đáng kể về mặt tư tưởng, thi-nhân trầm tư về con người và sự sống chết cũng như từ đó rút ra quan niệm về thực hữu của muôn loài. Ngôn ngữ rời bỏ môi trường quen thuộc của giấc Say và sự thăng hoa được trau chuốt diễm lệ như đêm hoa đăng Hàng Châu, Tô Châu. Và, buộc người đọc phải xem sự từ bỏ là bước đi cần thiết cho Thơ. Thơ Vũ sẽ phải nhiều đời đọc như có người nghĩ, cũng như không chỉ để một đời đọc lại.

Bước đi đầu có gây ngạc nhiên lẫn hoài nghi nơi người quen với môi trường thơ Vũ (18). Nhưng phải nhìn nhận rằng, con đường dẫn tới suy tư trước sự vật, trước cuộc đời, với Vũ, khó hồn

nhiên diễn đạt như thuở thi-nhân phóng túng hình hài với cái Say cái Cuồng của tuổi trẻ lênh đênh.

hỏa sơn cười sặc sụa

rung chuyển vòng đai Biển Thái Bình

một lần nữa uốn cong lưỡi lửa

ngùn ngụt thi nhau tập đánh vần

một phụ âm và hai nguyên âm...

( Khai Sinh, Trời Một Phương)

Những thí nghiệm tương tự như trên, ta không tìm thấy trong Thơ Say hay Mây. Nhưng thi-nhân vẫn có thể gợi ra ít nhiều tin tưởng khả năng triệu dụng ngôn ngữ tân kỳ cũng như đưa ra thử -thách thăng-bằng căng thẳng hơn nhiều bằng sự xô lệch táo bạo hơn xưa

để ta đủ chữ

viết giòng vui mừng

để ta đủ tiếng

nói lời rưng rưng

giòng này dài hơn độ dài nối liền trong

                  thân người muôn mạch máu

lời này vang như âm vang hòa điệu trong

                        một người hai trái tim...        (Tiếng Gọi Mẹ, Trời Một Phương).

Hay không cần tìm kiếm đâu xa khi trao cho ngôn ngữ bình dị, khả năng của loại văn chương như nhung như gấm. Đá đâu lên tiếng thay vàng. Gỗ đâu mở mắt hai hàng bạch dương (Cười Vang Giữa Cuộc).

Không còn trước mắt nguyên khối ngọc lành, nhưng đó đây là những hàng có thể độc lập trong  kiêu hãnh do sự thiết lập mà không tỏ dụng công như xưa. Lệ nhuốm thời gian chợt ngả mầu./  Còn phen lại cháy giấc chung đôi. / Con thuyền lại buộc khóe thu xanh.

Một thử thách mới được đặt ra nếu người ta lưu ý đến bầu khí cần thiết để ngôn ngữ được tái sinh dưới bầu trời mới. Những hình ảnh và ngôn từ gần như biểu tượng của thơ Vũ được thay thế bởi chính người tạo ra chúng.

Thơ bước vào cõi siêu hình, suy tư sẽ có thêm tuổi của đá thử-thách. Và, Vũ bước vào đời thơ thứ nhì, theo quan điểm một số người, như một nhà suy tưởng bước vào vườn thơ tìm thú tiêu dao với bầy sao hai-mươi-tám-ngôi ứng với phương vị của ngôn-từ được đặt định. Thi-nhân là đấng tạo hóa lấy ngôn từ để xếp đặt thiên cơ qua các vì sao di chuyển. Tâm Tình Người Đẹp (Les Vingt-huit Étoiles) in bằng hai ngôn-ngữ Việt-Pháp, năm 1961, là một đàn nhương-sao tương thông với trời về lẽ huyền nhiệm qua ý thức và tâm thức của một thi-nhân.

Bẩy bước thơ vừa gieo hạt châu

Ngang trời sao đã mọc thành câu

Đông Tây mây sóng tâm tình loạn

Phút chốc vồng lên bẩy sắc cầu.

(Cảm Hứng Đêm Khuya, Tâm Tình Người Đẹp)

Con người đông phương nơi thi-nhân được dịp trở mình trước thực tế. Thi- nhân chống chỏi đến cùng con người duy lý ngay từ cảm xúc hay ước mơ:

Vỡ đôi Trái Đất một đêm sâu

Nửa nhỏ văng đi hóa Nguyệt Cầu

Trên ấy người yêu ta vẫn ngủ

Mơ màng có biết chuyện gì đâu.

(Tròn Ý Ngây Thơ, Tâm Tình Người Đẹp)

Nói là tiếp nhận cảm hứng nhuốm mầu khoa học phương tây như sự mở rộng môi trường giao cảm, nhưng đã thấy nỗi phiền muộn của thi nhân trong cuộc cọ sát giữa những cái không thể dung hòa. Vũ trở thành sứ giả phương đông trong một cuộc đấu xảo tâm hồn với đề tài chỉ là một cách môi giới. Và, trong cuộc "tranh luận," Vũ đã chỉ ra con đường tâm linh cần thiết, đánh dấu sự manh nha đời thơ thứ ba của thi nhân. Vũ hóa thân như một tông đồ truyền bá. Người Thơ mất Đất, người Khoa Học. Trên nẻo huyền vi cũng mất Trời. (Hai Kẻ Bạn Đường, Tâm Tình Người Đẹp).

 

Cành Mai Trắng Mộng, in năm 1968, nói chung, chỉ mang ít nhiều dấu vết của tinh thần chuyển tiếp. Tiếp tục cuộc trao đổi đông-tây trong nỗ lực dành ưu thế cho phương đông và cùng lúc đưa ngôn ngữ lên một bước trong đời thơ chuyển hóa. Ngôn ngữ giản dị, của đời nay nhưng không là sự đơn giản hóa:

Nhường cho loài Máy chỉ huy

Lúc ấy Con Người, gọi tên bằng chữ số

Hẳn sẽ không buồn điều chi !

Vì chẳng còn anh, gã đàn ông biệt xứ

Vì chẳng còn em, bà công chúa hoài nghi

Cũng chẳng còn ai từng đêm tự tử

Cũng chẳng còn ai giữa mùa vu quy

(Buồn Điều Chi, Cành Mai Trắng Mộng)

Từ phương đông, thi nhân xác nhận sự hư vô của cuộc thám hiểm không gian, tìm kiếm một tinh cầu mới như tham vọng tìm đất mới. Vì từ đấy, con người buộc phải bỏ lại tâm hồn của người-trái-đất. Một sự lột xác mới:

Sức nổ tung trời bỏ lại sau

Hư vô... Hai đứa ngã vào nhau

Xứ Lưu-đày xóa rồi, em ạ !

Huyền thoại từ đây một trái sầu

(Người Nữ Hoa Tiêu, Cành Mai Trắng Mộng).

 

Ngồi Quán (1972) là ngưỡng cửa của con đường mở vào tâm linh. Con người cần rửa sạch lòng trần (trần tâm) trước khi có thể tiếp nhận ánh sáng chính đạo. Nơi đây là bến sông Mê, cần nhận chân được sự việc trước hết.

Ngồi Quán phảng phất ý nghĩa lời sám hối khi thi-nhân nửa như nhìn lại quá khứ phóng túng kiêu bạc đã qua như một giấc mơ chưa dứt. Đáy ly từng giọt bơ vơ. Theo nhau rụng xuống giấc mơ đen dần (bài đầu Ngồi Quán).

Ngồi quán chỉ là thái độ của kẻ bàng quan mà nhiều thế hệ đã góp bằng thời gian và tuổi trẻ.

Lần này thi-nhân đã rời cõi riêng để sống chung với cõi chiến tranh đang tàn phá. Tị trần để cùng chịu nỗi đau của con người. Tinh thần quán-thế là đây vì người-làm-thơ đã đau như nỗi đau của người chịu nạn. Sâu như vết-buồn-hôm-nay. Dài như bất tận cơn-say-máu-người. (Trước Sau Gì, Ngồi Quán) Và, người nguyện như người hành động vì hạnh phúc, vì lẽ phải. Ta van giọng Sở giọng Tề. Giẽ ra cho bóng hoa kề hồn trăng. ( Hỏi Ai Người Khóc, Ngồi Quán.)

Thi-nhân còn kêu gọi mở rộng ý thức về nguyên nhân gây nên cái đau chung của toàn thể. Trăm vòng dây Tội hoang đường. Cũng không giam nổi tình-thương bao giờ. (Ba Hồi Triêu Mộ, Ngồi Quán). Ngôn ngữ được triệu dụng là sự cảm thông những người bị lăng nhục giữa đời, không trang sức và quên cả dáng khuê các. Đây là chặng đường xa hơn cả tính từ cõi Mộng lẫn gác Say nhưng tâm hồn người vẫn thuần nhất như trang kinh. Người đi tu Phật chớ sầu. Mặc cho con số khoe mầu nhiệm xuông (Ba Hồi Triêu Mộ).

 

Thời cuộc khiến tâm hồn thi-nhân tưởng như vượt qua ngàn dặm. Từ chỗ "giường thấp nghe trời xuống tịch liêu" đến khi tới nơi có thể "trông ra bến hoặc bờ mê." Từ lúc sống trong bóng tối của cảm giác hoàn toàn vị ngã," trong men cháy giác quan vừa bén lửa" cho đến khi nghe được tiếng lòng hòa một điệu với " ngàn thu một sợi Giống-nòi vừa rung."  Tiếng thơ lên trời rồi trở về trần như hoàn tất một sứ trình. Người trích tiên không còn cảm thấy cô đơn giữa nỗi đau trần thế.

 

Đến Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1974), thi-nhân như thể tiên tri thời hạn chấm dứt việc lưu đầy khi ước mơ đem theo chưa ngã ngũ. Điều thi-nhân giác ngộ là cái có-không còn-mất của những gì ta đạt được hay mất đi, nói lên sự vô nghĩa của tất cả. Khi đã là tro bụi giữa đời (Bài Thơ Hàng Cỏ).  Đó là sứ điệp sau cùng và sâu sắc nhất gửi lại cho đời lúc chia tay. Và, có thể ngoại trừ tình yêu, điều duy nhất khiến người phải dính dấp nhiều hơn với cuộc đời, được đặt ngoài vòng có-không của nhận thức. Ôm cuộc tình ra khỏi chuyện đời (Kết Cuộc).

Lời gửi gắm vẫn kín nhiệm như cần sự mặc khải. Thi-nhân càng tiến gần đến vị trí của người truyền rao lấy ngụ ngôn làm lời sứ truyền. Nhưng, tất cả đều chỉ ra một cách ứng phó với thực tại và cách xử thế với chính mình. Khói tan hoang lửa nát nhầu. Vòng tay ôm trọn lấy màu trắng thôi (Dấu Huyền).

 

Thi-nhân cũng để lại di ngôn cho đời vào lúc quê đất bị thôn tính, nhiều giá trị nhân-bản bị triệt tiêu. Chuỗi nhân duyên mười-hai hạt châu trở thành di vật tinh thần để người sau có thể tự lần chuỗi mà tìm về tiền kiếp (19). Mười hai lần chiêm nghiệm người xưa sẽ nhân lên gấp bội như

khi lời thơ được đặt vào đài cửu phẩm liên-hoa. Thơ như ánh đạo tỏa sáng, như thi-nhân từng báo trước điều hoa thay thơ rộ nở đầy mồ.

Người như ngậm Thơ mà mất. Thơ thay người phó hội tao-đàn xướng họa với trăng sao. Còn thơ để lại cho người mỗi lần đọc là mỗi lần soi mặt.

Thơ giờ đây là cách nén lòng nhả tơ. Mài mực bằng máu trích từ ngón tay bẻ bút, Văn chương hồ thỉ đêm nào tung hê (Đọc lại người xưa: Hồ Xuân Hương). Trong tinh thần ấy, thơ đã níu chân người trả ơn tuyệt mệnh. Nghiệp văn chương ấy nặng nề đến đâu (Đọc lại người xưa: Bà Huyện Thanh-Quan). Văn chương luôn luôn chịu sự hồ nghi ở thế chẳng-đặng-đừng nơi những người chuốt nhọn lưỡi. Hơi văn nhọn mãi chính là đại công (Đọc lại người xưa: Phạm Ngũ Lão).

Còn gửi cho người đời, thi-nhân vẫn đề cao thái độ minh triết, đứng ngoài để bụi không vấy mình. Người đời vẫn xem là kẻ cuồng ngạo. Cười vang nửa gối cao nằm (Đọc lại người xưa: Đỗ Mục). Thi-nhân đề cao tâm hồn người ở ẩn, đời là cõi lâm lụy trước sau. Còn đem non nước làm rầy. (Đọc lại người xưa: Thị Lộ).

Bình nghị về công thành, thi-nhân xem là con đường xây bằng huyết lệ bao người. Lệ hay máu rỏ con đường nào đây (Đọc lại người xưa: Trần Đào). Là sự bách hại kẻ sĩ mà nào có ai tự hào lên tiếng. Mấy mươi dông bão cho vừa nhịp ba. (Đọc lại người xưa: Cao Bá Quát). Lên tiếng trách bạo quyền tự tung tự tác. Bẻ hoa đừng bẻ hão cành. (Đọc lại người xưa: Đỗ Thu Nương).

Còn với Nguyễn Du, thi-nhân một đời xem như tri kỷ, lời cuối là lời mượn để tự điếu thân thế. Chắc gì ba trăm năm sau. Đã ai vào nổi cơn sầu nằm đây (Đọc lại người xưa: Nguyễn Du). Không phải trích tiên bi lụy cho hoàn cảnh mà là những người tài hoa, gần như tiền định, cùng chung kiếp lụy-tài.

Hai trời thơ lẫm liệt từ non thiêng (Hồng-sơn), sông linh (Phù-giang) đã tao ngộ tại đỉnh một niềm đau của con người, thân phận và đất nước.

                                                                                                       

                                                                                                                                                    Trần Mạnh Toàn

  Chú thích:

 (1) Bài "Nhớ Quê Nâu" trong Thơ Say (Hà-Nội: Mùa đông Canh-thìn 1940).

(2)  " Trọng không dám trả lời, giả vờ chăm chú xem Hoàng tiêm thuốc.Viên "bi" cắm ở đầu cây tiêm thép đang sôi trên ngọn lửa. Một cái bong bóng lớn phồng lên, dưới mặt thuốc nổi lên những bọt nhỏ li ti. Cái bong bóng phì hơi, dẹp xuống. Một tia thơm ngát xông thẳng vào mũi Trọng, mùi thơm ngậy và ngon như một loại bánh rất quý. Hoàng đã đặt điếu thuốc cho nó dính vào mặt tẩu. Cây tiêm trong tay Hoàng đi lên đi xuống thật đều. Chất thuốc theo đầu tiêm quấn đi quấn lại và khô dần. Hoàng biết Trọng đang kính phục bàn tay khéo léo của mình. Bàn tay ấy lại hoa lên, nhanh hơn, dẻo hơn, đẹp hơn. Bàn tay nào tiêm thuốc phiện cũng đẹp, như một bông hoa quỳnh nở trên nền nhung.

Điếu thuốc đã thành hình thoi, nhọn hai đầu, phồng ở giữa. Hoàng làm điệu gõ đánh cách vào mặt diện rồi đổi chiều tay, phóng ngọn tiêm từ xa vào lỗ nhĩ. Cái lỗ bé bằng đầu ghim, dưới đáy cái vũng sâu bằng hạt ngô nhỏ. Ngọn tiêm trúng phóc, điếu thuốc bị dồn lẳn xuống, hơi bè sang chung quanh để lũm sâu ở giữa. Hoàng quay đầu dọc cho Trọng:
-Thật đúng trôn quýt đấy nhé !

- Tuyệt !

 (Nguyễn Mạnh Côn, 1945 Lạc Đường Vào Lịch Sử (Sài gòn: Giao Điểm, 1965) , tr. 161-162.

Hoàng, tên một nhân vật trong truyện, cũng được Vũ Hoàng Chương dùng như thác danh của mình.

(3) Bài "Chết Nửa Vời" trong Thơ Say (Hà-nội: Mùa-đông Canh-thìn 1940).

(4) Vân Muội, kịch thơ, viết năm 1943.

(5) Bùi Giáng, Đọc Rừng Phong” (Sài gòn: Thẩm Mỹ, 1954), in lại trong Văn, số 150 (15.3.1970) tr. 48.

(6) Vũ Hoàng Chương, Kết Cuộc” trong Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (Paris: Rừng Trúc, 1974) tr. 30.

(7) Vũ Hoàng Chương,Mừng Phật Đản 2516, sđd, tr. 28.

(8) Vũ Hoàng Chương, Kết Cuộc, sđd, tr. 30.

(9) Vũ Hoàng Chương, Kích Thước Chưa Từng,sđd, tr. 24.

(10) Vũ Hoàng Chương, Bài Thơ Hàng Cỏ, sđd, tr. 24.

(11) Vũ Hoàng Chương, Tố Của Hoàng Ơi, sđd, tr. 22.

(12) " Năm mươi năm, một đời người đã có đến hai đời thơ." (Nguyễn Mạnh Côn, Nửa Thế Kỷ Làm Thơ Vũ Hoàng Chươngtrong Văn, số 150, 15.3.1970, tr.95.)

(13)  " ... anh xác nhận suốt đời anh không có điều gì như anh đã viết (trong bài Đời Tàn Ngõ Hẹp)" (Nguyễn Mạnh Côn, sđd, tr. 80.)

(14) Vũ Bằng, Đi Xâu (sic.) vào Tâm Sự Vũ Hoàng Chươngtrong Văn Học, số 97 (1/1969) tr. 10.

(15) Tạ Tỵ, Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư, 1970), bản in lại của Xuân Thu, Los Alamitos, tr. 113.

(16) Đông Hồ sinh ngày 10-3-1906 (16 tháng 2 năm Bính-ngọ)

(17)  Kiều đến nhà Kim Trong lúc chàng thiu thiu ngủ. Câu trong truyện Kiều là " Tiếng sen sẽ động giấc hòe. Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần." (Kiều, câu 437-438)

18) Đoàn Thêm, Đọc Lại Thơ Vũ Hoàng Chương” trong Văn, số 150 (15.3.1970) tr. 41.

(19) Thi Vũ trong lời giới  thiệu tập thơ Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (Paris: RừngTrúc,1974) gọi 12 bài thơ được in trong tập là “một chuỗi nhân duyên chuyển hóa” (sđd, tr.10).

 

 

 

 

 

Wednesday, July 28, 2021

Trên Đường Tự Học Chữ Nho Của Hai Nho Sinh Đào Mộng Nam và Phạm Xuân Hy / Việt Dương

 


 Người viết có hai người bạn thân, chơi với nhau từ thời còn học ở mấy lớp trung học đệ nhất cấp là Đào Mộng Nam và Phạm Xuân Hy. Ba chúng tôi đều mê đọc sách. Riêng hai bạn Xuân Hy và Mộng Nam có ước vọng là học chữ Hán để nghiên cứu văn chương, văn hóa Tầu. Tôi không quan tâm về việc học chữ Hán, nên thấy ước vọng của Hy và Nam chỉ là ý thích của tuổi mới lớn, khó giữ được giữa đời sống có quá nhiều việc phải làm để có thể tiếp tục việc học ở trường.

Nhưng chỉ 7 năm sau, chứng kiến sự thành tựu với 3 tập sách Chữ Nho Tự Học của Đào Mộng Nam (57-64) và sự thành tựu của Phạm Xuân Hy với những sách dịch truyện Liêu Trai, những bài nghiên cứu về văn chương, lịch sử Trung Hoa vào thập niên 1990, tôi thấy mình đã nhận định nông nổi về ước vọng của hai người bạn. Từ hai sự thành tựu lớn này, tôi nghĩ việc tự học chữ Nho của Mộng Nam và Xuân Hy đã trở thành những tấm gương đẹp. Vì thế tôi muốn ghi lại ít điều về hai tấm gương ấy.

 

I. Phạm Xuân Hy

Phạm Xuân Hy sinh năm 1939, di cư vào Nam với mẹ, nhưng sống ở Trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ, cạnh Trường Đua Phú Thọ, Sài Gòn. Khi biết trại có quyết định đóng cửa vào năm 1958, Hy đã tình nguyện đi sớm theo sự khuyến khích của trại để được trại phát cho 700 đồng. Xuân Hy đã dùng số tiền này để mua chiếc xe đạp, làm phương tiện đi học và đi bán báo. Hy đến ở nhờ nhà Phạm Quang Chiểu bạn học của tôi, ở Cống Bà Xếp, gần chợ Hòa Hưng đường Lê Văn Duyệt. Gặp Xuân Hy ở nhà Chiểu, thấy nhà chật chội, nên tôi bảo Hy về ở nhà tôi ở ấp Cả Trắc, gần ngã ba Ông Tạ. Năm 1957, khu này là miền quê, dân cư thưa thớt, sống với nghề trồng mấy loại hoa cúc, huệ, mào gà... và trồng mấy loại rau như cải, sà lách, hành tỏi... Xuân Hy về ở nhà tôi có thể gọi là an cư, ngày đi học, đêm đi bán báo Tự Do, Ngôn Luận tới 10 giờ.

Hy đến ở nhà tôi đã đem đến cho tôi mấy nguồn vui:

- Thứ nhất, Hy đã dẫn tôi vào nghề bán báo buổi tối. Mỗi chiều khoảng 6 giờ, chúng tôi tới lấy báo Tự Do ở đường Võ Tánh, ngã sáu Sài Gòn, và Ngôn Luận ở đường Lê Lai, khi báo mới in ra. Hy đi bỏ mối báo, vì đã có được mấy chục gia đình mua báo tháng. Còn tôi mới vào nghề nên phải đi bán rao ở Phú Nhuận. Tôi phải đi xa như thế vì mấy khu dọc đường Lê Văn Duyệt đã thuộc về một số bạn vào nghề trước. Mỗi tối tôi bán được 40 số báo dễ dàng. Vào hẻm nào trên đường Chi Lăng, Nguyễn Huệ, Võ Tánh cũng phải quay xe lại với tiếng gọi: Báo. Đi bán rao hơn 4 tháng, tôi có trên 40 chục gia đình mua báo tháng. Thế là tôi thôi bán rao, chuyển sang bỏ mối như Xuân Hy. Đêm nào cũng hơn 10 giờ mới về đến nhà, nhưng tôi vui vì đã kiếm được tiền để tự lo lấy quần áo, sách vở.

- Thứ nhì, Xuân Hy đến, tôi có bạn đồng hành đọc truyện Tàu để thảo luận những tình tiết và nhân vật trong những truyện đó. Những đêm mưa, chỉ có tiếng i..om của ếch, nhái, ễnh ương, chúng tôi mỗi người một đèn dầu, đọc truyện Liêu Trai Chí Dị, Tam Quốc Chí, Thất Kiếm Thập Tam Hiệp... Khung cảnh đêm hoang vu với những tiếng ộp oạp của ễnh ương đã đưa chúng tôi vào thế giới ma quái của Liêu Trai Chí Dị. Trong khi trò chuyện về truyện Tàu, Hy nói với tôi là anh sẽ tự học chữ Hán để có thể đọc Liêu Trai, Tam Quốc, Thủy Hử... từ nguyên tác chữ Hán. Theo Hy những trang chữ Hán có sức thu hút đặc biệt, và bảo là học giả Nguyễn Hiến Lê, Tây học mà tự học chữ Hán để có thể nghiên cứu văn chương Tàu. Hy đưa tôi coi 3 cuốn Đại Cương Văn Học Sử Trung Hoa của Nguyễn Hiến Lê và cuốn Học Chữ Hán Bằng Thơ Đường của Trần Trọng San mới mua. Hy nói: Vừa đọc vừa học. Chưa biết sao, nhưng đọc thơ qua chữ Hán thấy thú hơn. Từ đó, tôi cũng làm quen với thơ Đường qua cuốn thơ Đường của Trần Trọng San.

Xuân Hy ở nhà tôi trên một năm, rồi cùng mấy người bạn khác thuê nhà bên trại Tân Chí Linh. Đường vào Tân Chí Linh đối diện với ngõ vào ấp Cả Trắc, qua đường Thoại Ngọc Hầu. Năm 1960, Hy học năm cuối ở trường Chu Văn An, và năm sau thành công chức của Nha Trước Bạ, Sài Gòn. Đầu thập niên 1960 gia đình tôi chuyển lên Đà Lạt... Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức, rồi ra chiến trường ở Thừa Thiên, Quảng Trị, nên từ đó không gặp Xuân Hy nữa.

 

**

 

Năm 1982 tôi ra tù cải tạo, vượt biên tới Galang năm 1986 và được vào Mỹ định cư năm 1987. Qua bài giới thiệu tập sách “Việt Nam Đỏ Sau Chiến Tranh” tôi viết khi ở trại Bataan, Phi Luật Tân, trên tờ Lửa Việt của Hải Triều, Xuân Hy liên lạc được với tôi vào cuối năm 1987. Sau đó, Hy gửi cho tôi “Truyện Kinh Kha” do Phạm Xuân Hy dịch từ Sử Ký Tư Mã Thiên, và cho biết đang dịch Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh và một số truyện Liêu Trai của những tác giả khác. Đọc bản dịch truyện Kinh Kha với những điều Hy cho biết, tôi nhớ lại lời Hy nói thời ở ấp Cả Trắc năm 1957-58 và mỉm cười trước ước vọng đã thành tựu của Hy.

Tôi viết thư hỏi Xuân Hy: Tiên sinh học chữ Hán từ năm nào. Cách học ra sao, tìm ra cách học mới hay vẫn học theo nếp cũ. Học trong thời gian bao lâu thì tiên sinh có thể đọc truyện và dịch.

Xuân Hy đã trả lời như sau:

“Tôi bước vào con đường tự học chữ Nho từ năm 1975, trước hết là để thực hiện ước vọng từ lâu và sau đó là để tiêu khiển trước sự đổi thay đột ngột kinh hoàng của đất nước. Học để quên đi những tháng ngày khó khăn đen tối, lo âu cho một tương lai mờ mịt. Mới đầu tôi mua cuốn tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, bắt đầu gạch từng nét, đếm từng chữ. Khi đã có một số chữ làm vốn, tôi vào Chợ Lớn, trước cửa sân Tinh Võ, trên đường Nguyễn Trãi, mua những quyển truyện bằng tranh, lớn bằng bàn tay mà tôi mê thích khi còn nhỏ, như Tiểu Lý Quảng, Thuyết Đường, Song Trùy Hà Nguyên Khánh, Chinh Đông Chinh Tây...hình vẽ rất đẹp với những hàng chữ ngắn gọn dễ đọc. Tôi dùng tự điển Thiều Chửu để tra từng chữ cho hiểu cốt truyện và để học.

Với vốn chữ đã khá và quen văn Tàu, không biết bao lâu, nay nghĩ lại, có thể trên một năm, tôi bước sang đọc tiểu thuyết võ hiệp như Bạch Phát Ma Nữ của tác giả nổi tiếng thời ấy là Lương Vũ Sinh, viết theo lối bạch thoại, từng là bậc thầy của Kim Dung. Rồi tiến xa hơn, tôi bước sang đọc cổ văn, tức văn ngôn và tập dịch Liêu Trai Chí Dị mà thời ở ấp Cả Trắc (1957-58) tôi đã nói là sẽ có ngày đọc từ nguyên tác chữ Hán. Văn trong Liêu Trai viết theo lối văn ngôn, thường chứa nhiều điển cố, thành ngữ, cú pháp rất khúc mắc, thâm thúy khó hiểu. Có khi đọc được mặt chữ, nhưng không hiểu nghĩa của câu.

Xuân Hy cho biết Hy và gia đình vượt biên năm 1979, đến đảo Pulau Tanga, thuộc Mã Lai. Ở trên đảo được 6 tháng thì được phái đoàn Pháp nhận cho định cư. Hy viết thư về Việt Nam nhờ chú em vợ mua cho cuốn từ điển Thiều Chửu học tiếp và từ đây đi vào dịch truyện theo lời khuyên của cụ Nguyễn Hiến Lê là viết và dịch cũng là một phương pháp học một ngoại ngữ nhanh nhất.

Đến đầu thập niên 2000, tôi nhận được email của Hy, cũng chuyện về tự học chữ Nho, Hy cho biết có hai người bạn hỏi Hy về việc học chữ Hán. Một người hỏi rằng Hy học tiếng Tàu hồi nào mà dịch thuật nghe có vẻ xuôi tai. Người khác nói là mình mới mua mấy chục tờ báo cũ để tìm đọc những truyện Liêu Trai Chí Dị, thấy cậu dịch Bồ Tùng Linh cũng khá - cậu dịch hay là cop của ai đấy? Sự thắc mắc của hai người bạn, vừa có ý thán phục, nhưng thoảng mây mù có đôi chút nghi ngờ. Riêng tôi rất cảm động và yên lòng với câu nói “Cậu dịch Bồ Tùng Linh cũng Khá”, cũng như câu “Nghe có vẻ xuôi tai”. Nghe có vẻ xuôi tai là vì tôi đã trút tất cả tâm tư và tình cảm vào cốt truyện và tôi đã sống với nhân vật của mình khi tôi dịch loại truyện chí quái lãng mạn này. Đôi khi gặp những câu cú khó khăn, nhiều điển tích, thành ngữ hiểm hóc, không có đồng nghĩa của tiếng Việt, tôi chỉ dịch ý mà không dịch chữ để cho bớt lủng củng. Việc này đòi hỏi nhiều công sức và thì giờ tra cứu. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Hiến Lê đã phải nói: “Dịch là một việc làm bạc bẽo, vì công việc khó khăn mà ít người thưởng thức. Riêng ở nước ta, nó lại càng bạc bẽo, vì hiếm người chịu đọc sách dịch”.

Việc dịch chữ Nho khó thật, nhưng tôi làm công việc này một phần là để tự học và một phần vì đam mê loại truyện truyền kỳ chí quái. Sau khi đã có một số dịch phẩm về loại truyện chí quái, và đã có được một số độc giả về loại truyện này, tôi cho xuất bản vài dịch phẩm với những chú thích riêng của mình”.

Từ chữ Nho, Xuân Hy đi sang chữ Nôm và anh đã cho biết việc nghiên cứu chữ Nôm như sau:

“Những năm còn đi làm ở Pháp, khi chưa nghỉ hưu, tôi bước sang lãnh vực chữ Nôm. Đó là thứ chữ được tổ tiên ta sáng tạo, dùng để biểu thị tiếng nói của dân tộc mình - chữ Nôm được cấu tạo dựa vào chữ Nho, tức là chữ Hán đã được Việt hóa, khi người Việt đọc lên, người Tàu nghe không hiểu gì cả. Còn chữ Nôm thì người Tàu không đọc được. Tôi đã để thì giờ chăm chú nghiên cứu và phiên âm một vài truyện Nôm, mong bảo tồn được đôi chút những từ ngữ Việt cổ. Nhưng sức người có hạn, tôi không đi được tới cùng của môn học này sau mấy dịch phẩm.

Ngoài những bản dịch đã xuất bản gồm Liêu Trai Chí Dị, Hậu Liêu Trai, Thúy Thúy Truyện và Thiếp Bạc Mệnh, do nhà xuất bản Văn Hóa ở Houston xuất bản và Tây Sương Ký Liên Hoàn Đồ (tự xuất bản), Phạm Quân đã đưa lên nhiều trang mạng cả năm, bảy chục truyện dịch với chú giải riêng và mấy chục bài nghiên cứu về văn hóa, sử và văn học của Trung Hoa. Đặc biệt họ Phạm đã soạn xong 3 bộ: Niên Biểu Trung Quốc từ nhà Tần đến nhà Tấn - Sổ Tay Nhân Vật Trung Quốc và Sổ Tay Chữ Hán (dịch và giải thích những từ ngữ, nhân danh, địa danh, lịch sử, văn học, điển tích đã tra trên các từ điển ở trên mạng và xếp theo mẫu tự ABC).

Trong phần giới thiệu về bản dịch Truyện Kinh Kha của Phạm Xuân Hy, giáo sư Trần Huy Bích đã viết:

“Nhà biên khảo Phạm Xuân Hy ở Paris, người đã dịch Liêu Trai Chí Dị và Hậu Liêu Trai trong khoảng thời gian từ 1988 đến 1997, đã dịch, chú thích rất công phu, rồi tự xuất bản những truyện Trung Hoa rất ít người biết như Phùng Hiệp, Yến Vĩ Nhi, Vĩnh Châu Dã Miếu Ký..., đã tìm đọc từ rất nhiều tài liệu khác nhau bằng Hán văn để viết về mối tình kín đáo giữa Tào Thực với chị dâu là Chân Hậu, vợ của Ngụy Văn Đế Tào Phi, đưa tới bài “Lạc Thần Phú” nổi tiếng trong văn học Trung Hoa. Ông cũng từng viết về những nghi án liên quan đến Dương Quý Phi, đến Giả Hoàng Hậu, người chịu trách nhiệm khá lớn về việc làm cho nhà Tây Tấn của Tư Mã Viêm (cháu nội của Tư Mã Ý đời Tam Quốc) bị suy yếu rồi phân hóa sau mới có một đời.”  (tranhuybich.blogspot.com).

Người viết xin trích ít lời của nhà thơ Du Tử Lê viết về Phạm Xuân Hy:

“Nhắc tới dịch giả Phạm Xuân Hy, những người đọc sách, nhất là hàng trí giả về lãnh vực chữ Hán, chữ Nôm, hầu như không ai không biết tới tên tuổi của ông.

Họ Phạm không chỉ là tác giả của một số tác phẩm dịch được nhiều người ưa thích như Liêu Trai Chí Dị, Hậu Liêu Trai và Thiếp Bạc Mệnh là 3 tuyển tập chọn lọc do nhà xuất bản Văn Hóa ở Houston, Texas lần lượt ấn hành từ năm 1988 tới 2002, ông còn là tác  giả của những công trình dịch thuật lớn như phiên âm bản truyện Nôm “Chiêu Quân Tân Truyện của tác giả Nguyễn Tiến Khang, xuất bản năm 1922, hay phiên âm bản “Phép Dòng Chị Em Mến Câu Rút Đức Chúa Giê Su”, bản khắc năm 1869, phiên âm bản Nôm “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” của Pigneau de Béhaine, bản khắc năm 1774. Ông cũng đã hoàn tất phần chuyển ngữ tác phẩm đồ sộ nhan đề “Trung Quốc Lịch Triều Đại Sự Niên Biểu (từ nhà Tần đến hết Tam Quốc).

Một số dịch giả chữ Hán có thẩm quyền ở trong cũng như ở ngoài Việt Nam cho rằng mức độ uyên thâm về chữ Hán để dịch được những tác phẩm văn học cổ Trung Hoa sang tiếng Việt, chúng ta có không ít tài năng. Nhưng một học giả được coi là uyên thâm cả chữ Hán và chữ Nôm thì phải nói là chúng ta có quá ít. Ngày một ít hơn nữa! “Trong số ít này, chúng ta có dịch giả Phạm Xuân Hy, hiện cư ngụ ở Paris”. Một nhà Nho cựu trào ở hải ngoại đã kết luận. (dutule.com)

 

Kết luận

Từ cuối năm 1987, chúng tôi liên lạc được với nhau ở hải ngoại, người ở Pháp, người ở Mỹ, mỗi lần thư hay điện thoại Xuân Hy đều nhắc đến thời sống với tôi ở ấp Cả Trắc, với tình cảm sâu đậm và nuối tiếc một thời nghèo mà rất đẹp. Chẳng hạn mới đây, khi tôi hỏi Xuân Hy thêm ít điều về chuyện học chữ Nho và tập biên khảo dở dang, sau phần trả lời, họ Phạm không quên nhắc lại thời học trò hàn vi “Ấp Cả Trắc với ngôi nhà nền đất, mái tranh, đêm đêm có ánh trăng lọt xuống giàn hoa mướp vàng, nghe tiếng dế gọi nhau rỉ rả, đẹp như truyện Liêu Trai Chí Dị trong thế giới học trò nghèo của chúng mình nơi cố quận ngày tháng cũ”.

Khi đọc những lời này, tôi chợt nghĩ – Có lẽ khung cảnh nhà tranh vách ván trong ấp Cả Trắc cô tịch, hoang vu với vườn hoa cúc, hoa huệ, với những đêm trường mưa rả rích, với tiếng ộp oạp.. của ếch nhái, ễnh ương, đã in sâu trong tâm trí nho sinh Xuân Hy thế giới Liêu Trai ma quái, nên Xuân Hy đã khởi đầu đi vào dịch Liêu Trai Chí Dị và những truyện ma quái của những tác giả khác. Có lần tôi hỏi sao tiên sinh không dịch những tác phẩm về văn học sử hay lịch sử của Tàu mà lại đi vào thế giới ma qủi của Liêu Trai Chí Dị, thì họ Phạm trả lời là muốn rong chơi với ma qủi ở giữa kinh thành đầy ánh sáng của Paris. Thì ra vậy. Mà như thế thì Xuân Hy đã đưa ấp Cả Trắc của những đêm mưa với “Giấc hồ thơm tóc gái liêu trai” (Vũ Hoàng Chương) sang kinh thành Paris. Ở giữa Paris mà vẫn sống với ánh lập lòe của đom đóm trong ấp Cả Trắc, và tiếng thì thầm của Oanh Oanh trong đêm dưới mái hiên như đang ở “Miếu nguyệt vườn sương gặp gỡ nhau” (Vũ Hoàng Chương).

Những hồi tưởng tha thiết của Xuân Hy về ấp Cả Trắc đã dẫn tôi trở về cái làng định cư đầu tiên khi mới di cư vào Sài Gòn. Nơi đây, nhiều buổi tối chúng tôi thường vào quán cà phê vợt, cạnh lối vào ấp, uống một ly cà phê với nhiều đường, rồi mua một ổ bánh mì dài còn nóng dòn ở lò bánh mì Hạnh Phúc, cạnh quán cà phê vợt, xé ổ bánh mì làm đôi, mỗi người một nửa, vừa đi vừa ăn trên đường Thoại Ngọc Hầu. Đó là con đường lớn nối ngã ba Ông Tạ với đường Trương Minh Giảng, Công Lý và Võ Tánh phía đi vào phi trường Tân Sơn Nhất. Đường lớn nhưng gập ghềnh đất đá với nhà thưa thớt, đi qua khu nghĩa trang Bến Tre với cảnh ma quái tối đen cùng ánh đom đóm lập lòe bên những bụi rậm bên đường. Trên đường này Hy đã nhiều lần nói lên ước vọng học chữ Hán để đọc Liêu Trai Chí Dị, Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Sương Ký bằng chữ Hán. Hơn 20 năm sau, không những Xuân Hy đã đạt được ước vọng đọc những tác phẩm ấy bằng nguyên tác mà còn đi xa hơn trong việc sử dụng chữ Hán để nghiên cứu văn chương, sử và văn hóa Tàu. Có một điểm rất rõ là mỗi lần tôi đọc một dịch phẩm hay một bài khảo cứu nào của họ Phạm, tôi cũng hiểu nhiều hơn với những chú thích nhiều công phu tra cứu của tác giả.

Đầu thập niên 2000, Xuân Hy cho biết là hơn 20 năm đã mua nhiều sách chữ Nho, chất đầy phòng để khi về hưu có thì giờ sẽ thực hiện một số đề tài nghiên cứu. Nhưng khi về hưu, Hy than là sức khỏe đi xuống nhanh với đủ thứ bệnh, mắt kém, tai nghe không rõ. Mấy năm gần đây tình trạng càng tệ hơn, nên đã phải bỏ dở việc nghiên cứu. Nghe Xuân Hy than, tôi đã nói với Hy là Lão Tử chỉ viết bộ Đạo Đức Kinh hơn 5000 chữ trong một đêm để lại cho đời, rồi cưỡi trâu đi về phía tây. Xuân Hy cũng có khuynh hướng Lão Tử và đã ngao du trong thế giới chữ Nho gần 40 năm. Như thế cũng nên thảnh thơi cưỡi trâu ra đi theo Lão Tử.

 

II. Đào Mộng Nam

 


Tôi kết giao với Đào Mộng Nam cũng vào năm 1957, năm Phạm Xuân Hy đến ở nhà tôi. Nam có mấy đặc điểm là đầu lúc nào cũng chải bóng, nói nhỏ nhẹ, hát hay và ngâm thơ rất hay với đủ thứ giọng. Mỗi lần đến chơi, tôi thường nghe Nam hát bài Tà Áo Xanh (Dang Dở) của Đoàn Chuẩn, Từ Linh, còn thơ thì thường ngâm Bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính và bài Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương. Có một lần đến chơi, Mộng Nam rủ tôi ra quán cà phê vợt ở đầu ngõ vào ấp Cả Trắc. Khi uống cà phê, Nam đưa tôi coi quyển vở có mấy trang chữ Hán và nói là đang theo học chữ Hán với cụ Lâm Tuyền Dã Phu Phan Vọng Húc, thân phụ của nhà thơ Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông mà qua Giang Đông, Nam đã tới nhờ cụ Húc dạy chữ Hán. Nam bảo học một mình cô độc, nên rủ tôi đi học với Nam. Tôi cũng thích chữ Hán và đã học hết cuốn Hán Văn Độc Bản trong 2 năm đệ thất, đệ lục ở trường Chu Văn An (không hiểu tại sao chương trình chữ Hán lại bỏ ở đệ ngũ), nhưng thời gian này tôi đang đi bán báo ban đêm, còn quá ít thời giờ cho bài vở ở trường. Vì thế tôi bảo Nam là cậu học đi, còn tôi thì không có thì giờ để theo học. Sau này có thời giờ sẽ tính mà biết đâu lúc đó tôi lại phải làm lễ bái sư thầy Đào Mộng Nam. Từ đó thỉnh thoảng Nam vào nhà tôi sau giờ học ở nhà cụ Phan Vọng Húc. Vẫn ở quán cà phê vợt, Mộng Nam cho biết việc học tiến triển, tuần 3 buổi. Cụ Húc là lớp Nho sĩ cuối cùng còn lại nên cụ hết lòng giảng dạy, hy vọng sau này có những người trẻ tiếp nối việc của cụ. Cụ thường than là là Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông đều đi vào nghiệp văn chương, nhưng không hề quan tâm đến chữ Nho.

Tôi thân với Đào Mộng Nam qua chuyện sách vở. Tôi mê sách nên thường để dành tiền tìm mua những quyển sách quí hiếm thời đó như Văn Học Khái Luận của Đặng Thái Mai, Kinh Thi Việt Nam của Trương Tửu, Thượng Cổ Sử Ai Cập của Nguyễn Đức Quỳnh, Xã Hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân... và nhà tôi thành nơi trao đổi sách của những người trẻ lớp tuổi tôi thích đọc sách. Đào Mộng Nam bằng tuổi tôi, sinh năm 1941, lúc đó mới 17, 18 tuổi, nhưng sau khi đọc xong cuốn nào, Nam thường có những nhận định khác lạ. Chẳng hạn như sau khi đọc 2 cuốn Đi Tìm Một Căn Bản Tư Tưởng và Diễn Tiến Của Phong Trào Quốc Gia Việt Nam của Nghiêm Xuân Hồng, Nam đem sách trả tôi và nói là nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Lê Quang Luật và Mặc Đỗ sẽ chẳng đi đến đâu vì đã vướng vào vòng đấu tranh giai cấp của K. Marx, khi xướng lên tư tưởng giai cấp tiểu tư sản làm lịch sử và trí thức tiểu tư sản lãnh đạo lịch sử để đối lại với giai cấp vô sản. Cái nền tiểu tư sản không vững còn trí thức không bao giờ thống nhất với nhau thì làm sao lãnh đạo lịch sử. Qua lịch sử Tàu và Việt ta thấy những ông vua làm nên lịch sử đều không ở tầng lớp trí thức, thường ít học nhưng có tài quy tụ tay chân tả hữu và biết nắm thời cơ. Còn tầng lớp trí thức gọi là kẻ sĩ thường theo phò trước hay sau khi ông vua đó làm chủ thiên hạ. Gần chúng ta nhất như Hồ Hữu Tường, một trí thức hàng đầu, là lý thuyết gia, nhưng hoàn cảnh thời thế đã đẩy ông chạy theo phò Bảy Viễn (một tay anh chị có quân và tướng). Sở dĩ tôi nhớ những nhận định này của Nam, vì tôi để tâm đọc hết sách của Nghiêm Xuân Hồng và thấy lý thuyết gia họ Nghiêm sau khi ra phò tướng Nguyễn Khánh bị vỡ mộng, vì tưởng Nguyễn Khánh là Nasser của Ai Cập, nên quay về đọc hết truyện Kim Dung, rồi nghiên cứu Phật Giáo, thành cư sĩ với đạo hiệu là Tịnh Liên, đi truyền bá Phật pháp, tôi thấy Nam hiểu sớm và sáng hơn tôi nhiều.

Khoảng cuối năm 1958, Đào Mộng Nam đến bảo tôi là Nam nhường cho tôi một chỗ kèm trẻ ở tư gia trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa, vì nhà Nam ở Nguyễn Cảnh Chân, trên Tân Định, xuống đây xa quá. Nam dẫn tôi đến cư xá sĩ quan, giới thiệu tôi với gia đình một đại úy tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn truyền tin. Thế là Phạm Xuân Hy đã dẫn tôi vào nghề bán báo đêm, còn Mộng Nam dẫn tôi vào nghề kèm trẻ tư gia.

Đầu năm 1963, gia đình tôi bán nhà đất ở ấp Cả Trắc và chuyển lên Đà Lạt. Cuối năm 1964, tôi có việc phải xuống Sài Gòn. Một buổi sáng trong khi đang đứng chờ xe buýt ở Ngã Bảy, nghe tiếng gọi tên ở bên kia đường, nhìn lên thấy người gọi vẫy tay, tôi đi vội qua thì ngạc nhiên, đó là Đào Mộng Nam, tóc chải mướt, mặc bộ bà ba trắng, chân đi guốc mộc. Nam cầm tay tôi cười nói:

- Mới xa cách một năm mà không nhận ra nhau nữa à?

- Cậu thay đổi kiểu ăn mặc thế này, lại nắng chói giữa người và xe cộ, làm sao nhận ra.

Nam cầm tay tôi đi về phía đường Phan Thanh Giản:

- Về nhà mình ở trên này.

Tôi theo Nam đi qua bệnh viện Bình Dân, rẽ vào một đường hẻm khá rộng. Đi chừng mấy chục mét, Nam dừng lại mở cổng đi vào. Ngôi nhà rộng, kê 5, 6 cái bàn dài với ghế dài. Trên tường có chiếc bảng đen lớn. Nam đưa tôi tới cái bàn vuông ở cuối phòng bảo:

- Cậu ngồi đây để mình đi lấy nước uống.

Sau khi rót trà ra chén, Nam bảo tôi:

- Đây là trường dạy chữ Nho của mình từ đầu năm 1964. Học viên khá đông, đa số là người lớn, có cả sinh viên đại học văn khoa và người Tàu.

Tôi ngạc nhiên nhìn Nam không nói nên lời. Nam đưa tôi một tập in ronéo, nhan đề là Chữ Nho Tự Học, rồi nói:

- Sau khi học cụ Phan Vọng Húc được 2 năm, có được một số vốn chữ Nho, mình xuống Chợ Lớn, vào nhà sách, tìm mua những sách dạy học sinh từ vỡ lòng đến sơ trung, cao trung của Đài Loan và Hồng Kông, nghiên cứu những bài học từ thấp lên cao với cách dạy của họ. Từ việc đọc kỹ sách giáo khoa của Đài Loan và Hồng Kông, mình tìm ra cách học mới, đơn giản dễ nhớ, chớ không như cách cụ Phan Vọng Húc dạy. Cụ là nhà Nho cựu trào, vẫn dạy theo nếp học cũ, mất nhiều thời gian và phải vận dụng nhiều trí nhớ. Học theo cụ thì phải mất 3, 4 năm mới đọc được Tam Quốc, Thủy Hử.. Vì thế mình từ giã cụ, rồi tự học theo cách của mình. Trong quá trình học đó, mình soạn ra 3 tập này. Cậu đem về học đều theo cách phân tích của mình, chữ sẽ vào đầu tự nhiên và dễ nhớ. Đọc xong 3 tập này, từ 6, 7 tháng đến một năm, cậu sẽ đọc được Tam Quốc Chí, Liêu Trai Chí Dị và Sử Ký Tư Mã Thiên...

Tôi giở tập I, xem qua một số trang, rồi hỏi:

- Cậu tìm học chữ Hán vì động lực gì?

- Trở về nguồn cội. Chữ ABC dễ học, phổ thông là một ơn ích cho dân tộc Việt. Nhưng chỉ có chữ ABC, chúng ta sẽ đi ra xa, ra ngoài nguồn cội. Mình đã tìm ra cách học chữ Nho dễ và nhanh. Bằng phương pháp học này, mình sẽ thực hiện một cuộc vận động trở về nguồn bằng chữ Nho. Mình sẽ phát triển việc dạy chữ Nho ở những Phật Học Đường, Hội Khổng Học và một số cơ sở do mình vận động tự thành lập. Từ những cơ sở này vừa dạy vừa tìm những người hiểu giá trị của về nguồn, nhất là giới trẻ, sinh viên đại học, kết thành những hạt nhân văn hóa. Phát triển việc dạy và học chữ Nho cũng là tạo áp lực để Bộ Quốc Gia Giáo Dục thiết lập lại chương trình dạy chữ Nho ở trung học. Mình hình dung khi tất cả những học sinh trung học thông thạo chữ Nho thì bộ mặt văn hóa của đất nước sẽ khác, nguồn văn hóa sẽ sâu thẳm chớ gốc rễ không mờ nhạt, vong bản như bây giờ. Việc làm văn hóa không phải là chuyện kêu gọi mà là tạo điều kiện và hoàn cảnh cho nó tự hành. Mình đã tự tạo được căn bản cho mình và tự tin trong cuộc vận động này.

- Cuối năm 1957, cậu rủ tôi đi học chữ Hán ở nhà cụ Phan Vọng Húc. Tôi nghĩ đó chỉ là ý thích của tuổi trẻ, nhưng không ngờ cậu nuôi một hoài bão lớn, một cái nhìn xa. Còn tôi thì nông cạn, không nhìn gì cả.

- Lúc đó, mình không dám nói nhiều, nghĩ là phải học thông chữ Nho rồi mới có thể nói tiếp. Và hôm nay mình đã nói tiếp.

Tôi đưa tay nắm tay Nam:

- Mừng Nam đã đạt được sự thành tựu căn bản bước đầu để có thể đi xa. Năm 57, tôi nói đùa là biết đâu tới lúc đó sẽ bái cậu làm sư phụ. Không ngờ nay thành sự thực. Bây giờ tôi phải đi. Chiều mai khoảng 6 giờ, tôi sẽ trở lại làm lễ bái sư và mời Nam tới nhà hàng Ngọc Sơn ở đường Lê Thánh Tôn.

 

**

 

Tôi đem 3 tập Chữ Nho Tự Học về Đà Lạt đọc kỹ tập I và nhận ra phương pháp học chữ Hán của Đào Mộng Nam giúp người học dễ nhớ bằng mấy điểm:

- Phân tích cấu tạo của mỗi chữ ra những thành phần đơn giản và nói lên sự tương quan giữa các phần.

- Chữ tượng hình thì tác giả vẽ hình.

- Còn những chữ khác tác giả tìm ra một chuyện liên quan đến nghĩa của chữ.

- Đi từ dễ đến khó với những bài ngắn, gồm cả văn ngôn (cổ văn) và bạch thoại. Có phần văn phạm cho cả 2 loại văn.

- Nói chung, tác giả đã vận dụng 6 phép cấu tạo chữ Hán, gọi là lục thư, với sự sáng tạo riêng để tìm ra cách học cho dễ nhận, dễ nhớ. Còn những bài học ngắn là sử dụng những chữ đã học để  học luôn 2 loại văn ngôn và bạch thoại. Như thế tác giả giúp người học, sau khi học xong 3 cuốn Chữ Nho gồm 1882 chữ thông dụng căn bản có thể đọc sách Trung Hoa và hiểu được cả văn ngôn như văn Liêu Trai Chí Dị hay văn bạch thoại như truyện của Quỳnh Dao.

Năm 1964-65 là đỉnh cao của truyện chưởng Kim Dung ở Việt Nam. Hàng ngày tôi cũng chờ báo để đọc tiếp Tiếu Ngạo Giang Hồ, nên truyện Kim Dung đã thúc đẩy tôi học chữ Hán và trong mấy tháng tôi đã học xong tập I. Nhưng giai đoạn này chính trị miền Nam hỗn loạn với chỉnh lý và đảo chánh đi cùng với việc đấu tranh cực đoan đem bàn thờ Phật ra đường của Phật Giáo Ấn Quang. Đà Lạt là thành phố yên tĩnh cũng không thoát được thứ đấu tranh này. Trên đường Đà Lạt –Sài Gòn đã thường xuyên bị du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chặn xe ở khoảng đèo Chuối hay phía dưới Madagoui. Thời cuộc bất an, nên tôi không học tiếp, rồi tới tháng 4 năm 1966 tôi phải trình diện để đi vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Suốt thời gian 9 tháng ở Thủ Đức, những ngày thứ Bảy, chủ Nhật đi phép, tôi đã không tìm gặp Đào Mộng Nam, nhưng qua báo chí, tôi biết Nam đã mở rộng được nhiều cơ sở dạy chữ Nho như Viện Đại Học Vạn Hạnh, Phật Học Viện Quảng Đức, Phật Học Đường Huệ Nghiêm và Hội Khổng Học Việt Nam... Trong khi chiến tranh tiếp diễn ngày một dữ dội trên khắp miền Nam, tôi hình dung Nam với bộ bà ba trắng, chân đi guốc mộc, đang nỗ lực thực hiện một cuộc vận động văn hóa về nguồn bằng chữ Nho, xây dựng thế chân vạc Nho-Nôm-quốc ngữ ABC thành một nguồn văn tự dân tộc Việt mà không quốc gia nào có. Nhưng tôi sợ chiến tranh sẽ phá hủy, cắt đứt dòng vận động của họ Đào.

Tôi đã đi vào cuộc chiến ở vùng I Thừa Thiên, Quảng Trị, nên không trở lại được với bộ Chữ Nho của Đào Mộng Nam, nhưng hẹn sẽ có ngày trở lại với nó. Khoảng năm 1970, từ đơn vị xa trở về Huế, tôi ghé vào nhà sách Ưng Hạ, gần đầu cầu Trường Tiền trên đường Trần Hưng Đạo để coi mua vài cuốn sách và tạp chí. Khi đứng trước kệ sách giữa nhà, tôi lóa mắt vì 3 quyển Chữ Nho Tự Học, khổ lớn bìa đỏ, cạnh 3 cuốn đó là bộ Nho Văn Giáo Khoa Toàn Thư, bìa màu tím của Nguyễn Văn Ba, rồi tới mấy cuốn Dịch Kinh Linh Khảo, Triết Lý Cái Đình.. của Kim Định. Tất cả những cuốn này đều do nhà xuất bản Nguồn Sáng xuất bản, một nhà xuất bản mới ra đời. Tôi lấy cả những cuốn này, rồi ra ngoài nhặt 2 số Bách Khoa. Khi ngồi trên đò Đông Ba - Đập Đá để về Vĩ Dạ, giở coi trang trong của bộ Nho Văn Giáo Khoa Toàn Thư, tôi thấy hàng chữ: Nhà xuất bản Nguồn Sáng – Giám Đốc Đào Mộng Nam. Tôi kêu thầm: A! anh bạn quần áo bà ba, đi guốc này đã đi thêm một bước nữa trong cuộc vận động văn hóa. Tôi đã đọc một số sách của linh mục Kim Định, biết linh mục quảng bá tư tưởng Việt Nho qua việc viết sách và dạy học, và luôn luôn đề cao chữ Nho là một linh tự. Ngài Kim Định quảng bá tư tưởng bằng sách và môi trường đại học. Nay Mộng Nam kết với ngài thì Nam có nguồn tư tưởng Việt Nho và linh mục Kim Định có mũi nhọn xung kích phát triển linh tự Nho văn là Đào Mộng Nam. Đọc sách của linh mục Kim Định, tôi có cảm tưởng linh mục chịu ảnh hưởng của Lý Đông A. Nếu cảm tưởng của tôi đúng thì việc vận động văn hóa của Mộng Nam có nền tư tưởng Việt Nho và xa hơn thấp thoáng có họ Lý với Duy Dân Thảo Án Quốc Sách Toàn Pho.

Lần ấy tôi đem cả số sách của Nguồn Sáng ra căn cứ Vinh An, bên sông Ô Lâu, gần Mỹ Chánh. Ba cuốn Chữ Nho Tự Học in lại đẹp, sáng sủa, nhưng dưới 3 chữ Đào Mộng Nam có thêm mấy chữ Giảng Sư Đại Học Huế. Tôi học lại cuốn I và đọc sách của linh mục Kim Định. Thời gian này, từ 1971 trở đi, Cộng quân lại gia tăng đánh phá ở nhiều nơi. Đêm ngày nhìn mấy cuốn sách với tiếng đại bác và ánh hỏa châu gần xa, tôi thấy người làm văn hóa cứ lặng lẽ đi bên cạnh sự tàn phá của chiến tranh. Người làm, người phá! Số phận của đất nước như thế. Việt Nho, linh tự Nho văn – Thế chân vạc Nho – Nôm - chữ ABC của văn tự Việt Nam. Đến một lúc học sinh trung học thông thạo chữ Nho thì nội lực văn hóa Việt Nam sẽ khác. Đào Mộng Nam đã say sưa nói với tôi những lời này và Nam đã đem thân vào cuộc vận động đó. Nếu đất nước hòa bình thì đây là cuộc vận động tuyệt vời. Nhưng đất nước đang chiến tranh. Làm thì lâu, nhưng phá thì chỉ cần một tiếng nổ là tan tành tất cả. Tôi vẫn tiếp tục học sách của Nam, dù không đều cho đến mùa hè đỏ lửa thì phải ngừng, vì Cộng quân chiếm Quảng Trị (1972) và sông Ô Lâu trở thành tuyến phòng thủ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa với thủy Quân Lục chiến và Nhảy Dù. Mặc dù cuối năm 1972, quân Cộng Hòa đã giải phóng Quảng Trị, nhưng từ đó, miền đất địa đầu đã không còn yên với lính và tới tháng 3/1975 thì quân Việt Nam Cộng Hòa tan rã với lệnh di tản của tổng thống Thiệu, đã tạo ra những thảm kịch cho quân và dân ở bãi biển Thuận An và cửa Tư Hiền khi Cộng quân pháo kích vào hai nơi này.

 

**

 

Năm 1981 tôi ra tù cải tạo, đến năm 1986 được người quen giới thiệu cho chuyến vượt biên. Tháng 4 tôi tới đảo Galang và được vào Mỹ định cư ở Chicago tháng 4/1987. Khoảng đầu năm 1989, tôi sang California để dự cuộc họp của những văn nghệ sĩ để thành lập Hội Văn Nghệ Sĩ Tự Do do nhóm vận động gồm một số nhà văn, nhà thơ như Chu Tấn, Đào Văn Bình, Hồ Công Tâm... Ở cuộc họp này tôi gặp lại Đào Mộng Nam sau 25 năm. Nam cho biết có người em ở Hải Quân nên đã đem gia đình xuống tàu đi từ ngày 29/4/75. Nam không thay đổi gì mấy vẫn nho nhã, chỉ khác là mái tóc đã để dài buộc sau gáy. Buổi tối ấy, Nam đã mời tôi và Chu Tấn đến một nhà hàng ở Bolsa, nổi tiếng với món tiết canh vịt. Sau bữa ăn, Nam chở Chu Tấn về lại ngôi nhà của một thân hữu cho mượn dùng làm trung tâm họp thành lập Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam ở Fountain Valley. Còn tôi đi với Nam về nhà Nam. Nam lái chiếc Pickup truck cỡ nhỏ, trên xe có thang và nhiều thùng sơn, đi qua mấy con đường với những ngôi nhà thấp để về nhà. Nam sống một mình trong ngôi nhà nhỏ, một phòng ngủ, phòng khách khá rộng, sách báo để khắp nơi với nhiều tập sách chữ Hán. Đêm ấy tôi hỏi Nam:

- Qua đây, ông sống bằng nghề gì?

Nam đáp:

- Đi sửa nhà và sơn nhà.

- Tôi thấy ở Mỹ có nhiều nhà xuất bản đã in lại nhiều sách của Miền Nam, sao ông không cho in lại 3 cuốn Chữ Nho Tự Học?

Nam trả lời:

- Khi nào đời sống ổn định thì sẽ in lại. Việc đó dễ.

- Ổn định với ông hay với những người tỵ nạn nói chung.

- Với cả hai.

- Vậy là qua đây từ 75 đến giờ, ông đã bỏ văn chương chữ nghĩa?

Nam lắc đầu:

- Bỏ sao được. Làm việc khác. Tôi đã dịch hàng trăm bài thơ Đường, hàng trăm bài thơ của những nhà cách mạng chống Pháp như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh... và nay thì dịch thơ chữ Nho của Cao Bá Quát. Trước kia đi học, chúng ta chỉ được học ít bài thơ, phú chữ Nôm của Cao Bá Quát mà không biết là Cao Bá Quát làm nhiều thơ chữ Nho, hàng ngàn bài. Tôi đã thu thập được mấy trăm bài và đang dịch. Số lượng thơ chữ Nho của Cao Bá Quát không kém hơn thơ của Lý Bạch. Có điều thơ họ Lý thì đẹp ở rượu, trăng, hoa và mỹ nhân còn thơ của họ Cao động hơn với đời sống huyết lệ của con người. Đọc thơ chữ Nho của Cao Bá Quát tôi mới thấy tư tưởng cách mạng, mới thấy sự hùng vĩ của ông.

Tôi nói:

- Trước kia thời gặp ông ở ấp Cả Trắc, mỗi lần ông đến tôi đều nói cho nghe Bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính hay cho nghe Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương. Tôi nhớ sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, hai chúng ta đã tham dự một buổi ca nhạc mừng chiến thắng của Phật Giáo ở chùa Hưng Long, hương lộ 14, Phú Thọ Hòa của thầy Thích Tâm Thông. Ban tổ chức đã yêu cầu ông lên ngâm bài thơ Lửa Từ Bi của Vũ hoàng Chương, nhưng khi lên sân khấu ông đã không ngâm Lử Từ Bi mà ngâm bài Nguyện Cầu. Khi ông xuống, tôi hỏi:

- Sao không ngâm Lửa Từ Bi?

Ông trả lời:

- Đã thắng rồi thì phải trở về với thân phận con người, chớ ngâm bài đó làm gì - rồi đọc:

Ta còn để lại gì không

Kìa non đá lở, này sông cát bồi.

Lang thang từ độ luân hồi,

U minh nẻo trước, xa xôi dặm về.

.......

Nam ngừng lại, cười nhìn tôi:

- Thuở 16, 17 đã in sâu bài thơ vào tâm trí. Nay đã gần 50 tuổi, lại vẫn ngâm nó trên đường đi sửa nhà, sơn nhà. Bài thơ tuyệt vời, tôi đã coi nó là một trong những bài thơ hay nhất của Vũ Hoàng Chương.

- Ông cao kiến và luôn nghĩ xa hơn tôi. Bây giờ ông cho nghe ít bài thơ Đường và thơ Cao Bá Quát ông dịch.

Đào Mộng Nam đi vào phòng ngủ lấy ra một xấp giấy, đọc cho tôi nghe chừng chục bài thơ Đường và chục bài thơ Cao Bá Quát. Đào Mộng Nam dịch thơ Đường ở những bài chuyển sang thể lục bát có âm điệu của Tản Đà...

Sáng hôm sau chở tôi đến ngôi nhà dùng làm nơi hội họp của văn nghệ sĩ, Nam đưa cho tôi một phong bì lớn, trong có mấy tờ báo có bài của Nam và 2 xấy giấy đánh máy gồm chục bài thơ Đường và chục bài thơ Cao Bá Quát do Nam dịch.

Cuối thập niên 1990, Nam gọi tôi cho biết là đã về Việt Nam mấy lần.

Tôi hỏi:

- Về với mục đích gì?

Nam đáp:

- Về Phú Thị, Gia lâm, quê của Cao Bá Quát, để tìm thêm tài liệu về họ Cao và đã tìm thêm được mấy trăm bài thơ chữ Nho của Cao Bá Quát.

Có một điều do nói chuyện lan man, tôi quên hỏi Nam là tìm kiếm thơ ở đâu, ai giữ được thơ của một tử tội bị chu di tam tộc và làm cách nào biết được thơ đó là thơ Cao Ba Quát.

Sau lần nói chuyện đó, Nam không liên lạc với tôi nữa, nhưng qua báo chí, tôi biết Nam tiếp tục về Việt Nam.

Đến đầu tháng 9/2006, bỗng nhiên báo Thời Luận và Người Việt loan tin là Đào Mộng Nam đã từ trần. Vì Nam sống một mình trong một apartment, chung cư ở đường McFadden, Tustin, California, nên không ai biết Nam mất vào ngày nào. Chỉ khi người cùng chung cư báo cảnh sát là có mùi hôi từ apartment của Nam, cảnh sát phá cửa vào thì thấy Nam nằm gục dưới sàn nhà,  một phần thân đã bị phân hủy. Tang lễ đã được thực hiện trong vài tiếng đồng hồ từ 9 đến 12 giờ ngày thứ Bảy 2 tháng 9/ 2006 tại Peek Family Funeral.

Sau khi Đào Mộng Nam từ trần, tôi đọc được một số bài viết về Nam, nên đã biết rõ hơn về những việc làm của Đào Mộng Nam từ cuối thập niên 1960 trở đi. Tôi xin ghi lại đây một số đoạn từ những bài viết đó:

 

1. Trong bài Vĩnh Biệt Đào Mộng Nam, nhà báo Phan Tấn Hải đã viết:

“Tóc thường cột sau gáy, trang phục thường xuề xòa, mắt nhìn ngây thơ, cử chỉ dịu dàng, tính trầm mặc, ưa lặng lẽ, khi lên tiếng thì lời vi diệu, đầy ẩn mật, cho thấy những suy nghĩ lạ lẫm nhưng cổ kính, ngôn ngữ trau chuốt nhưng thơ mộng... và cũng bất ngờ khi anh chợt đến, khi anh chợt đi. Đó là hình ảnh của giáo sư và cũng là nhà thơ Đào Mộng Nam.

Đào Mộng Nam đã sống một cuộc đời đầy những hồn thơ, kể cả khi lặng lẽ từ trần trong thư phòng, chất đầy quanh tường và các kệ sách là thơ của Cao Bá Quát và Bùi Giáng.

Những công trình anh muốn làm thì nhiều hơn việc làm của một đời người. Khi gặp nhau, khi được hỏi về các vấn đề cổ học, về Hán học hay cả về văn chương hiện đại, chúng ta thường nghe anh nói với những kiến thức ít gặp, ít thấy... Anh đọc nhiều hơn rất nhiều người và đọc một cách sâu sắc lạ thường...

Nhưng dấu ấn lớn nhất của Đào Mộng Nam đối với văn học Việt Nam chính là vai trò một nhà Hán học của anh. Rất nhiều sinh viên của các Đại Học Văn Khoa Sài gòn, Đại Học Vạn Hạnh thời trước 1975 không thể nào quên về công trình quảng bá chữ Nho của Đào Mộng Nam.

Giáo sư Đào Mộng Nam có một phương pháp dạy và học chữ Hán mới hơn, giúp học sinh tiếp cận văn học chữ Nho nhanh hơn và nhớ hơn các lối học truyền thống. Trước đây, nhà văn Hoàng Hải Thủy từng viết rằng chỉ nhờ học chữ Hán theo phương pháp của Đào Mộng Nam trong 5 tháng là đã có thể đọc được Tam Quốc Chí bằng Hán tự.

Báo Văn Nghệ ở Hà Nội, trong một số báo gần hai năm trước, có ghi nhận về công trình nghiên cứu và dịch thuật của Đào Mộng Nam về thơ văn Cao Bá Quát với người viết là Nguyễn Huy Thuận và tựa bài viết là “Biết thêm về Cao Bá Quát”, trích như sau:

“Trong khoảng 10 năm trở lại đây có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo, sinh viên đại học, cao học về Phú Thị (Gia Lâm, Hà Nội) tìm tài liệu về Cao Bá Quát và quê hương Phú Thị. Đặc biệt có giáo sư Đào Mộng Nam, nhà nghiên cứu Đông Phương ở hải ngoại về Phú Thị thăm và giới thiệu công trình của ông đã dịch trên 1400 bài thơ chữ Nho của Cao Bá Quát ra quốc ngữ. Ông đã phát hiện ra “thần lực” trong thơ Cao Bá Quát và từ khởi điểm này ông đang xây dựng một công trình văn hóa: “Nét đặc trưng văn hóa Việt Nam và tiến bộ khoa học hiện đại”. Ông đã đánh giá rất cao Cao Bá Quát:

- Nhà thơ vĩ đại nhất Á Đông.

- Bậc thi bá duy nhất tập đại thành cả 3 nghìn năm tư tưởng thi ca Đông Á.

- Thi sĩ, chiến sĩ cách mạng, thi sĩ tiên tri.

Ông có đọc cho nghe bài thơ Nguyên Tiêu Khóc Cao Bá Quát, trong đó có hai câu:

Vạn thuở văn chương còn chẳng nát

Muôn đời thần khí lẽ nào tan.

Phải chăng hình ảnh Đào Mộng Nam thương khóc Cao Bá Quát cũng là một cái nhìn tiên tri về chính cuộc đời của nhà thơ Đào Mộng Nam, người cũng y hệt như họ Cao, “suốt đời chỉ cúi đầu chào hoa mai” như một dòng thơ cổ lưu lại của họ Cao...”

(vietbao.com/vinh-biet-dao-mong-nam)

 

2. Trong bài Đào Mộng Nam, Về..., nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn, người đã cùng Đào Mộng Nam viết bản tiểu luận “Thế chân vạc của ngôn ngữ văn tự Việt”, đăng trên tạp chí Tân Văn số tháng 4 và 5/1969, đã viết về Đào Mộng Nam như sau:

“Đào Mộng Nam vừa qua đời tại California, hoàn toàn đơn độc tại trai phòng, chỉ có bồ đoàn, máy vi tính, ấm trà, những bản thảo dịch thơ Cao Bá Quát và những tập bản thảo sưu tập các giai thoại về Bùi Giáng...

Đào Mộng Nam học tiểu học ở Bắc, trung học ở trường Chu Văn An, năm chót của niên khóa 1960, sau đó có lên Đại Học Văn Khoa, nhưng bỏ ngang để theo đuổi chí hướng riêng là học và truyền bá việc học chữ Nho. Anh bắt đầu vận động qua Hội Khổng Học Việt Nam cùng những nhân vật như Hà Huy Liêm, Hoàng Nam Hùng và sau nữa là Nguyễn Văn Tụ từ đầu thập niên 1960 đến 1975.

Từ giữa thập niên 1960, anh mở lớp dạy chữ Nho cho các sinh viên Y Khoa Đại Học Huế trong chương trình kết hợp Đông Tây, dưới sự tôn vinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và lời thề với y tổ này thay cho lời thề Hippocrate của Tây Y. Đồng thời anh cũng phát triển các khóa học dạy chữ Nho tại Đại Học Vạn Hạnh, Đại Học Minh Đức, dạy tự do cho công chúng tại trường Đức Trí, đường Cao Thắng, quận 3, mỗi Thứ Bảy, Chủ Nhật. Cũng như xuất hiện trên truyền hình để quảng bá việc học chữ Nho theo cách mới đến mọi tầng lớp.

Năm 1966 (năm 1970 thì đúng hơn - người viết) cùng với thân hữu, anh chủ trương nhà xuất bản Nguồn Sáng, phát huy quốc học và chủ trương dung hóa Đông Tây. Nhà xuất bản Nguồn Sáng, ngoài việc xuất bản bộ Chữ Nho Tự Học của Đào Mộng Nam, còn cho ra đời những bộ sách giá trị như Nho Văn Giáo Khoa Toàn Thư của bác sĩ kiêm Đông y sĩ Nguyễn Văn Ba, tủ sách Việt Nho của Lương Kim Định, những sách dịch như Ấu Học Quỳnh Lâm, tiểu thuyết của Dostoievski như Anh Em Nhà Karamazov, Lũ Người Quỷ Ám, Đầu Xanh Tuổi Trẻ, tiểu thuyết của Han Suyin (Hàn Tố Âm) của Heinrich Boll, thơ Tagore, Kahlil Gibran… và tủ sách thiếu nhi gồm các danh tác thế giới và Việt Nam, trong đó đặc sắc là bộ Phiêu Lưu Trên Lưng Ngỗng của Selma Lagerloff do Lý Quốc Sỉnh dịch...” (talawas.org/1/9/06)

 

3. Trong bài “Tưởng nhớ Đào Mộng Nam” bác sĩ Bùi Duy Tâm đã viết:

“Hồi đó là là cuối năm 1964, mới du học ở Mỹ về, tôi tìm đến nhà Đào Mộng Nam ở trong hẻm bên hông bệnh viện Bình Dân, đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn, để học chữ Nho. Dáng người  nho nhã, trong bộ bà ba trắng, anh tiếp tôi rất kiểu cách, gọi tôi bằng Vị: Mời Vị ngồi chơi, mời Vị xơi nước...

Tôi rất thích lối dạy chữ Nho của Đào Mộng Nam, từ dễ đến khó, không làm nản lòng người học. Trong 3 cuốn Chữ Nho Tự Học gồm 1882 chữ. Chữ nào cũng được giải tự rõ ràng có nghĩa lý. Bài học gồm hai loại: văn ngôn và bạch thoại. Học viên phải tuân theo kỷ luật là phải thuộc bài trước mới được học bài sau. Tuy nhiên nếu quên thì tác giả đã đánh số bộ hay số chữ để học viên tìm lại bài cũ. Lối học chữ Nho của Đào Mộng Nam là luôn luôn dùng từ điển như từ điển Thiều Chửu.

Bộ Chữ Nho Tự Học của Đào Mộng Nam được phong trào thanh niên văn hóa Gió Khơi quay ronéo để phổ biến vào những năm 1965-1969. Đến năm 1970, bộ chữ Nho Tự Học gồm 3 cuốn đầu mới được xuất bản gọn gàng đẹp đẽ và đã thành công rực rỡ (15.000 cuốn được tái bản trong năm đầu). Một số đại học Mỹ, Pháp, Đức, ngay cả Trung Hoa đã điều đình phiên dịch làm sách giáo khoa. Tôi đưa Đào Mộng Nam vào dạy chữ Nho trong các sinh hoạt ngày Chủ Nhật cho đoàn Gió Khơi và trong chương trình văn hóa của Gió Khơi trên Đài Truyền Hình Sài Gòn. Sau này tôi đưa anh ra dạy chữ Nho cho Viện Đại Học Huế.

Tôi còn nhớ một hôm, khoảng năm 1972-73, anh lái xe hơi chở đầy sách đến nhà tôi trong viện Pasteur, khoe với tôi rằng anh mới mua xe hơi, bây giờ anh có nhiều tiền nhờ xuất bản sách. Trong những sách mà anh xuất bản dưới danh hiệu Việt Nam Văn Hiến, có một cuốn sách rất có giá trị là Nho Văn Toàn Thư của Nguyễn Văn Ba. Ông Nguyễn Văn Ba là một bác sĩ Tây y, cùng  khóa với giáo sư Phạm Biểu Tâm, sau chuyển sang nghiên cứu về triết Đông và hành nghề Đông y châm cứu. Sự hiểu biết về triết học Đông phương của ông Nguyễn Văn Ba rất uyên thâm, vượt mức lý trí lên tới Duệ trí. Tôi thường đưa anh Nam đến học hỏi ông Ba. Anh Nam nhận ra ngay được kỳ nhân và hàng ngày ngồi với ông Ba để giúp ông viết xong phần Duệ trí cho cuốn Nho Văn. Hiểu được Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, Liệt tử tới trình độ Duệ trí, hiếm người được như Nguyễn văn Ba. Ghi lại và in thành sách để mọi người chung hưởng là công của Đào Mộng Nam. Ba thầy trò hay ba anh em chúng tôi thường bàn với nhau về cái thế chân vạc giữa ngôn ngữ và văn tự của dân tộc Việt Nam. Thế chân vạc đó là tiếng Việt, chữ Nho và chữ ABC (thường gọi là quốc ngữ).

Sự tổng hợp kỳ diệu đó sẽ là dụng cụ tuyệt vời để người Việt sinh động với thực tại bằng tiếng Việt, kết nối với quá khứ và các nước Đông phương (Trung Quốc, Nhật Bản) bằng chữ Nho và phổ biến trong quần chúng đương đại bằng chữ ABC.

Thời gian khoảng 72-73, thủ tướng Trần Văn Hương có ý trao cho tôi phụ trách văn hóa, giáo dục và thanh niên, nên ba anh em chúng tôi rắp tâm ước vọng đem Nho văn dạy các lớp bậc trung học như một môn học cơ bản bắt buộc.

Đào Mộng Nam viết: “Thực vậy, nếu ném một cái nhìn bao quát toàn thế giới, chúng ta sẽ không thấy một quốc gia nào lại có được cái thế chân vạc giữa ngôn ngữ và văn tự, vừa bác học vừa giản đơn tới mức tuyệt đối, thỏa mãn cho cả bình dân lẫn trí thức như ở Việt Nam. Với chữ ABC, dù một người Việt Nam ngu tối tới đâu chỉ cần vài tháng là đã có thể đọc thông viết thạo. Thứ chữ này để dành riêng cho giới bình dân và các trẻ thơ cấp tiểu học. Từ cấp trung học trở lên, ta bắt đầu dạy chữ Nho bằng phương pháp khoa học, vì nếu siêng năng vài năm là học sinh có thể đọc được chữ Nho làu làu. Như vậy sau 7 năm trung học, học sinh nào cũng đọc và hiểu được chữ Nho. Thiết tưởng bộ mặt văn hóa của ta chắc chắn sẽ đổi thay nhiều chứ không vong bản như hiện giờ. Chúng ta sẽ nối tiếp lại với truyền thống bốn ngàn năm lịch sử của mình, cùng nền văn minh Đông phương sâu thẳm, vốn được coi là gốc rễ của cả nhân loại”.

Đào Mộng Nam có nhiều tác phẩm thơ dịch:

- Dịch và giới thiệu ngàn bài thơ Đường.

- Dịch và giới thiệu kho tàng thơ Nho của các nhà cách mạng kháng Pháp (thơ huyết lệ)

- Dịch và giới thiệu toàn tập thơ Cao Bá Quát từ nguyên bản chữ Nho.

- Dịch và giới thiệu trường ca Rama.

- Dịch và giới thiệu Khúc Hát Dâng Tình (thánh thi của vua Salomon có ghi trong Cựu ước) từ tiếng Anh và tiếng Pháp “The song of love).

 

4. Trong bài “Đào Mộng Nam, Giấc Mộng Văn Hóa Không Thành”, nhóm bằng hữu gồm Bùi Ngọc Tuấn, Cao Bá Minh, Phạm Quốc Bảo, Phan Nhật Nam và Trần Lam Giang đã viết:

“Năm 1964, khi chưa đến tuổi 30, Đào Mộng Nam đã khởi thảo biên soạn Chữ Nho Tự Học, bộ sách hữu ích, đầy tính sáng tạo trong quá trình học chữ Nho, mà ông và những nhà giáo dục chuyên ngành Dân Tộc Học (Việt Học) trong tủ sách Việt Nam Văn Hiến như cố linh mục Kim Định gọi đấy là một linh tự - Thứ chữ, chứa đựng tinh thần Việt tộc, đã giúp người Việt tồn tại  qua hằng thế kỷ tương tranh, va chạm với những nền văn hóa, văn minh khác (Trung Hoa, Ấn Độ, Tây phương). Không phải chỉ lý thuyết, Đào Mộng Nam diễn đạt phương pháp Tự Học Chữ Nho qua trình bày một cách có hệ thống về cấu trúc chữ Nho (diễn tiến sự hình thành, biến đổi, canh tân của mỗi từ, ý nghĩa của mỗi từ đó trong từng văn pháp, qua các thể văn ngôn, bạch thoại). Năm cuốn Chữ Nho Tự Học hẳn là một công trình hoàn chỉnh nhất về phương pháp tự học chữ Nho kể đến năm 1975, hoặc cho đến bây giờ ở hải ngoại, bao gồm cả trong nước.

Không chỉ biên soạn về linh tự dân tộc không thôi, Đào Mộng Nam còn quảng diễn tác động, chức năng quan yếu của chữ Nho trong quá trình giảng dạy tại các cơ sở giáo dục: Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện Đại Học Huế, Phật Học Viện Quảng Đức, Phật Học Đường Huệ Nghiêm và Hội Khổng Học Việt Nam. Đào Mộng Nam và những người hằng quan tâm đến tiền đồ Việt Học không chỉ giảng dạy chữ Nho trong giới hạn của một môn học thuộc giáo trình của những khóa học bậc đại học, nhưng còn ôm ấp ước vọng xây dựng lại chữ Nho ở cấp trung học để những thế hệ người Việt mai hậu lớn lên, hành xử, vận động được sức mạnh tổng hợp của ngôn ngữ dân tộc trên ba cột trụ Nho – Nôm - quốc ngữ ABC. Các tác phẩm Nho-Nôm-ABC tự điển và Chữ Nho Linh Tự của Văn Minh (hợp soạn cùng Nguyễn Tiến Văn) đồng nằm trong chủ đích làm sống lại một cách có hệ thống nguồn lực bất diệt ngôn ngữ của tiền nhân. Tiếc thay, ước vọng của Đào quân cũng như cố linh mục Kim Định nhằm xây dựng một nền Việt Lý với chữ Nho vẫn chỉ là giấc mộng... như giấc mộng lớn của dân tộc Việt bị phá vỡ trong cuộc chiến hủy diệt dấy lên từ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Sáu mươi năm trước mà nay dấu vết tàn hại vẫn nguyên tác động với chế độ gọi là “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa” ở quê nhà”.

 

Kết luận

Bao lâu nay, mỗi lần thấy bộ sách Chữ Nho Tự Học trên mạng, tôi lại hình dung Đào Mộng Nam trong bộ quần áo bà ba trắng, đi guốc mộc ở Ngã Bảy, Sài Gòn. Con người nhỏ bé ấy mới mười mấy tuổi đã nuôi hoài bão lớn – Tìm thầy học chữ Nho để có thể thực hiện cuộc vận động phục hưng văn hóa Việt. Năm 1964, thay đổi trang phục, có lẽ Nam muốn ghi dấu việc học thành tựu và trở thành thầy dạy chữ Nho, bước đầu đi vào cuộc vận động. Chắc hẳn cuộc vận động ấy đã đáp ứng nhu cầu của dân tộc, nên Mộng Nam đã nhận được sự đồng tình nồng nhiệt của nhiều quý nhân như nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn, các nhà sư, những người lãnh đạo Hội Khổng Học Việt Nam, bác sĩ Bùi Duy Tâm, bác sĩ Nguyễn Văn Ba và nhiều người trẻ khác để cùng đi vào tiến trình vận động. Vì thế chỉ trong 10 năm từ 1964 đến 1974, cuộc vận động ấy đã đi được những bước dài mà trong phần trên đã đề cập. Nhưng cuộc vận động đã đi cùng với cuộc chiến tranh và biến cố 30/4/1975 đã kết thúc cuộc vận động của Đào Mộng Nam. Tuy vậy, chúng tôi không coi đây là Giấc Mộng Văn Hóa Không Thành mà chỉ là Cuộc Vận Động Văn Hóa bị dang dở, vì Đào Mộng Nam đã định được một nội dung, một hướng đi phải làm gì cho cuộc phục hưng văn hóa Việt. Chúng tôi nhìn vấn đề như thế, vì nghĩ rằng chế độ độc tài toàn trị của đảng Cộng Sản Việt Nam đã đi đến chỗ cùng của sa đọa thối nát với sự tàn phá văn hóa và con người thì chế độ ấy phải đi tới tan rã để dân tộc và con dân Việt phục hồi thế sống quân bình với giá trị làm người.

Năm 1989, trong một cuộc phỏng vấn, nhà báo Pháp đã hỏi tổng thống Vaclav Havel:

- Việc ưu tiên hàng đầu của tổng thống là gì?

Tổng thống Havel đã trả lời:

- Việc đầu tiên phải làm là phục hồi nhân cách, nhân phẩm cho dân Tiệp Khắc.

 Dân Việt dưới sự thống trị của đảng Cộng Sản cũng lậm vào căn bệnh trầm kha mất nhân cách, nhân phẩm như dân Tiệp, vì thế khi Cộng Sản Việt tan rã, dân Việt cũng cần phục hồi nhân cách, nhân phẩm mà giải pháp có thể tìm thấy ở con đường vận động văn hóa của Đào Mộng Nam là phục hưng văn hóa truyền thống với giá trị làm người mà Mộng Nam đã khởi đầu trong cuộc chiến tranh tương tàn của đảng Cộng Sản.

 

Việt Dương