1.
Bối cảnh cuộc di dân vĩ đại của loài người
Sau nhiều nghiên cứu trong các ngành
Khảo cổ học, Nhân chủng học, Di truyền học, ngày nay chúng ta biết là tất cả
con người trên mặt đất, mọi màu da sắc tộc, đều là di duệ của giống người Homo
sapiens, sau nhiều triệu năm từ loài khỉ, loài vượn tiến hóa mà thành. Giống
Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi cách nay khoảng 200.000-300.000 năm. Họ bắt
đầu từng nhóm di cư ra khỏi châu Phi cách nay vào khoảng 60.000-70.000 năm, có
thể là qua eo biển Bab el-Mandeb ở Sừng châu Phi hoặc bán đảo Sinai. Làn sóng
này sau nhiều chục nghìn năm đã định cư ở phần còn lại của thế giới và là tổ
tiên của tất cả con người hiện đại không phải người châu Phi. Dần dà họ vào
Trung Đông và Nam Á. Họ lai giống với người Neanderthal ở Trung Đông và với
người Denisova ở châu Á. (Cả hai giống người Neanderthal và Denisova đều đã
tuyệt chủng từ lâu). Cách nay khoảng 50.000-45.000 năm họ đến Đông Nam Á và Úc.
Người Úc bản địa (aboriginal) là di duệ trực tiếp của những di dân đầu tiên
này. Cũng vào khoảng thời gian này họ vào châu Âu và thế chỗ hoặc lai giống với
người Neanderthal. Khoảng 40.000-30.000 năm cách nay, họ vào Siberia và Đông Á.
Có người ở Bắc Á và Siberia, có người mở rộng sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật
Bản. Đến 20.000-15.000 năm cách nay, họ vào châu Mỹ qua con đường từ Siberia
men theo dải băng Bering (ngày nay là eo biển Bering) trong thời kỳ Băng hà
cuối cùng. Họ có mặt ở châu Mỹ, từ bắc chí nam, vào khoảng 13.000 năm cách nay.
Họ tỏa ra đại dương vào Châu Đại Dương xa xôi và quần đảo Thái Bình Dương cách
nay khoảng từ 3.500 đến 1.000 năm. Tộc Polynesian đến Hawaii, đảo Easter và New
Zealand gần đây nhất, vào khoảng 1.000 năm cách nay.
Vào khoảng 10.000 năm cách nay, trong
thời kỳ Đồ Đá Mới/ Neolithic, con người bắt đầu phát minh ra nông nghiệp. Quá
trình chuyển đổi này có thể bắt đầu ở một số nơi trên thế giới một cách độc
lập, không ai dạy ai, bao gồm: Trung Đông (ngày nay là Iraq, Syria, Israel và
các khu vực xung quanh) vào khoảng năm 9.500-8.500 trước, với các loại cây
trồng như lúa mì, lúa mạch và các loại đậu; Trung Quốc, trồng lúa và kê vào
khoảng 8.000-7.000 năm trước; Trung Mỹ, ngô, đậu và bí vào khoảng 7.000-5.000
năm trước. Vùng Andes/Amazon, châu Phi cận Sahara, và New Guinea cũng chứng
kiến sự phát triển độc lập của nông nghiệp.
Nông nghiệp có ý nghĩa gì? Nó quan
trọng như thế nào, và ảnh hưởng của nó ra sao đối với biến trình tiến hóa của
văn minh con người? Sự khởi đầu của nông nghiệp đánh dấu một trong những thay
đổi sâu xa nhất trong lịch sử loài người và biểu thị một số thay đổi quan
trọng. Nó chuyển đổi từ cuộc sống du mục sang định cư. Trước khi có nông
nghiệp, con người sống nhờ săn bắt hái lượm, thường xuyên di chuyển để tìm kiếm
thức ăn. Nông nghiệp cho phép người ta định cư tại một nơi, dẫn đến sự phát
triển của làng xã và cuối cùng là đô thị như ngày nay. Nguồn cung cấp thực phẩm
ổn định hỗ trợ dân số lớn hơn. Có nhiều thực phẩm hơn khiến dân số gia tăng
đáng kể. Sự phát triển của các xã hội theo đó trở nên phức tạp: Thực phẩm dư
thừa cho phép chuyên môn hóa lao động dẫn đến chế độ nô lệ và tiền tư bản, hệ
thống phân cấp xã hội, thương mại và sự thành lập của các đơn vị nhà nước.
Những tiến bộ về văn hóa và công nghệ cũng theo đó phát triển. Chữ viết, toán
học và kiến trúc đồ sộ thường theo sau nông nghiệp. Các khu định cư lâu dài
cho phép tích lũy kiến thức và văn hóa.
Tóm lại, sự ra đời của nông nghiệp
cách nay khoảng 10.000 năm đánh dấu sự khởi đầu của nền văn minh như chúng ta
biết, làm thay đổi sâu rộng mối quan hệ giữa con người với môi trường, với nhau
và với chính thời gian.
2.
Con người có mặt tại Đông Nam Á từ bao giờ?
Căn cứ vào niên biểu trên thì con
người đã có mặt ở Đông Nam Á (Miến Điện, Thái Lan, Kampuchia, Lào, Việt Nam) từ
50.000 đến 45.000 năm cách nay, có nghĩa là từ 10.000 đến 15.000 năm trước khi
có những nhóm di dân khác tràn vào miền đất ngày nay là Trung Quốc. Đây là điểm
rất đáng chú ý cho chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về nguồn gốc dân tộc Việt
Nam.
Người Lạc (vẫn được xem là tổ tiên
của 100 triệu dân Việt Nam ngày nay) là giống dân đã có mặt tại đất Bắc Bộ từ
nhiều nghìn năm trước hay là người từ nơi khác di cư đến? Câu hỏi này đã được
nhiều người tìm kiếm câu trả lời, nhất là trong giới học thuật người Pháp vào đầu
thế kỷ XX. Ông Leonard Aurousseau dựa vào một số thư tịch cổ của Trung Hoa cho
rằng sau khi nước Việt (của Câu Tiễn) bị nước Sở diệt cuối thời Xuân Thu thì
người Việt phải lưu vong xuống miền Giang Nam ở rải rác thành các các nhóm Bách
Việt, mà Lạc Việt là một thành phần dân tộc như vậy. Một học giả khác, ông
Claudius Madrolle, cho rằng người Lạc là người Mân Việt (vào quãng tỉnh Phúc
Kiến ngày nay) do đi thuyền chở hàng hóa xuống buôn bán ở xứ Lê Động (Hải Nam)
rồi không trở về quê cũ mà lập nghiệp ở vùng đất mới, lâu ngày thành dân Lạc.
Ức thuyết của hai học giả người Pháp
nói trên phần nhiều đã bị bác bỏ. Có nhiều giả thuyết khác nữa, nhưng không giả
thuyết nào dựa vào chứng cứ mà chỉ là những phiếm đoán mơ hồ, thậm chí hàm hồ,
dựa trên những thư tịch cổ xưa không chính xác vì chính những thư tịch đó là do
người đời sau viết lại theo những nhận định chủ quan, thiên kiến.
Khác với quan điểm thông thường cho
rằng người Việt cổ đại là từ phương bắc di dân xuống miền nam, với thuyết “Out
of Africa” và những nghiên cứu, khảo sát mới nhất, con người đã có mặt ở vùng
Đông Nam Á cách ngày nay khoảng từ 50.000 đến 45.000 năm. Những khai quật gần
đây nhất cho biết là suốt thời kỳ Đá Cũ, tại vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, đã
xuất hiện nhiều bộ lạc sống bằng săn bắt, hái lượm. Họ cư trú trong hang động,
mái đá ngoài trời, ven sông suối, trên một địa bàn khá rộng từ Sơn La, Lai
Châu, Yên Bái, Bắc Giang đến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Các di tích của các
bộ lạc hoang sơ này được các nhà khảo cổ học gọi chung là Văn hóa Sơn Vi.
Bước sang thời kỳ Đá Mới, do kỹ
thuật chế tác đồ đá cải tiến, văn hóa Sơn Vi nhường chỗ cho văn hóa Hòa
Bình-Bắc Sơn. Họ mở rộng địa bàn cư trú rải rác suốt Bắc Bộ và bắc Trung Bộ
ngày nay.
Cách nay khoảng 6.000 đến 5.000 năm,
tức là vào hậu kỳ Đá Mới, phần lớn các bộ lạc này đã bước vào giai đoạn nông
nghiệp trồng lúa. Theo nhận định của khoa Nhân chủng học thì việc phát minh ra
nông nghiệp trên thế giới là tự phát, không ai học ai. Con người lúc đó đã có
ít nhiều nhận thức về môi trường xung quanh, và trí khôn họ đủ cho họ tự mày mò
tìm kiếm những phương pháp làm ra thực phẩm ngoài việc bắt cá dưới nước hoặc
săn bắt, hái nhặt trên cạn. Sự thật là phải mất đến bốn, năm nghìn năm dân Lạc
mới hoàn thiện phương pháp canh tác. Và phương pháp của họ không giống các nơi
khác, nó là phương pháp mà cho đến đầu thế kỷ XX các dân tộc thiểu số ở Bắc
Việt Nam còn dùng.
Người Trung nguyên đầu tiên vào đất
Lạc đã tỏ ra khá kinh ngạc về lối canh tác này của người dân. Thư tịch cổ của
Trung Hoa như sách Quảng Châu Ký chép
rằng đất Giao Chỉ có ruộng, theo nước thủy triều lên xuống mà làm. Có lẽ họ
tháo nước vào ruộng cho cỏ bị ngâm lũn đi, rồi lại tát nước ra cho cạn và cuốc
hay cày lên để trồng lúa. Lối trồng trọt như thế, sử sách Trung Hoa gọi là hỏa
canh (cày bằng lửa), thủy nậu (bừa bằng nước). Canh nông thường đi đôi với mục
súc, có nhiều chứng cứ người Lạc đã nuôi gia súc như chó, mèo, trâu, bò, dê,
lợn, gà.
Nói chung, lúc An Dương Vương Thục
Phán đem quân xâm lăng đất Lạc thì dân Lạc đã có một nền kinh tế nông nghiệp
khá vững vàng, có nghĩa là, đã có một xã hội quy củ, nền nếp. Sử cũ ta gọi đó
là nước Văn Lang với họ Hồng Bàng mười tám đời Hùng Vương cùng các sự tích Lạc
Long Quân-Âu Cơ, Thánh Gióng, Sơn Tinh-Thủy Tinh, vv. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết
hoang đường, phần nhiều do người đời sau dựa trên sự tích truyền khẩu rồi thêu
dệt thêm ra, khó có thể xem là lịch sử, hoặc dễ dãi hơn, gọi là huyền sử là
cùng. Ngay cả cái tên Văn Lang cũng chưa chắc có thật. Có người bảo đó là nước
Dạ Lang do đọc sai mà thành Văn Lang. Có người bảo Văn Lang là “người vẽ/xăm
mình” vì thấy dân bắt cá dưới nước ở đó có tục “cạo tóc xăm mình”. Tất cả chỉ
là ức thuyết, không có gì là xác thực.
Tuy nhiên ta có thể hình dung ra
được một tổ chức xã hội của cái vùng đất vào thuở hồng hoang đó. Khoa học Nhân
chủng cho ta biết trong thời kỳ mông muội và dã man, nhất là sau khi chế độ
nông nghiệp đã thành hình và phát triển vững chắc, thì thị tộc là cơ sở, là đơn
vị cơ bản của tổ chức xã hội. Có ba hình thái tổ chức xã hội dựa trên cơ sở thị
tộc, đó là bào tộc, bộ lạc và bộ lạc liên hiệp. Mỗi bào tộc bao gồm một số thị
tộc cùng huyết thống, mỗi bộ lạc lại bao gồm một số bào tộc cùng huyết thống.
Và sau cùng là bộ lạc liên hiệp do nhiều bộ lạc liên minh lại với nhau bởi nhu
cầu cộng sinh cộng hưởng hoặc vấn đề phòng vệ an ninh. Cái “nước” gọi là Văn
Lang ấy có lẽ chỉ là một bộ lạc liên hiệp.
3.
“Lạc” hay “Hùng”
Kỳ thực, vì lúc đó người Việt cổ đại
chưa có văn tự nên chúng ta không biết tên gọi “nước” ấy, “dân tộc” ấy là gì.
Chữ “Lạc” là do sách sử Trung Hoa đầu tiên viết xuống, và cái giả thuyết về chữ
“Lạc” là chuyện khá khôi hài. Có người ở thời hiện đại đưa ra giả thuyết sau:
Khi người Trung nguyên đầu tiên vào Bắc Bộ, họ gặp người dân làm ruộng nước ở
đấy, và khi biết những người dân này gọi “nước” là “rạc”, họ bèn gọi thứ ruộng
ấy là “rạc điền”, tức là “ruộng nước”, nhưng vì âm giọng của họ không có âm
“r”, tất cả đều được phát âm thành “l”, nên “Rạc điền” biến thành “Lạc điền” và
sau đó họ gọi vua quan trong nước là Lạc Vương, Lạc Tướng, Lạc Hầu, vv, như ta
thấy đầy dẫy trong sách vở. Cách giải thích từ “r” biến thành “l” này làm
chuyện tiếu lâm mua vui trên bàn nhậu thì được, chứ khó thuyết phục được ai.
Một cách nghiêm túc, hàn lâm hơn,
Giáo sư Trần Huy Bích giải thích với tôi như sau:
“Theo Thủy Kinh Chú, dẫn Giao
Châu Ngoại Vực Ký: ‘Đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện
(một cách nói ám chỉ đất ấy chưa thuộc quyền cai trị của triều đình Trung
nguyên), đất đai có ruộng lạc (土地有雒田 = thổ địa hữu lạc điền).’ Chữ lạc này
tiếng Hoa phát âm là luó, rất giống
âm lúa trong tiếng Việt. Người Trung
nguyên thấy ruộng trồng lúa, hỏi người địa phương, ‘Đây là ruộng gì?’ Sau khi
được trả lời là ‘ruộng lúa’ người Trung nguyên bèn ghi là 雒田 và đọc
là luó tián (ruộng trồng luó), đúng với điều nghe được. (Khi
chúng ta đọc thành lạc điền theo âm
Hán-Việt, chúng ta đã làm sai âm thanh phần nào). Từ chữ lạc điền, tác giả Giao
Châu Ngoại Vực Ký đặt thêm những tiếng Lạc dân 雒民 (dân ăn lúa), rồi Lạc Vương 雒王, Lạc Hầu 雒侯,
Lạc Tướng 雒將. Tất cả đều từ chữ lúa
(luó) mà ra.
Các sách cổ của Trung nguyên không
thống nhất cách viết chữ luó để chỉ lúa. Quảng Châu Ký viết
là 交趾有駱田 (Giao
Chỉ hữu lạc điền). Tuy cùng phát âm là luó, hai chữ 雒 và 駱 là những chữ khác nhau. Điều ấy không ngăn được sự
kiện tác giả Quảng Châu Ký gọi
người Việt cổ là Lạc nhân, rồi từ đó có Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng. Những
tiếng ấy đều do các tác giả Trung nguyên đặt cho những người sống trên đất Việt
cổ. Về sau, có thể có học giả Trung Hoa nhận ra những chỗ dị biệt ấy nhưng
không thể sửa lại sách xưa.”
Ngoài ra, còn có nhiều ức thuyết
khác nhằm giải thích sự xuất hiện của chữ “Lạc”, kể cả thuyết cho rằng vật tổ
tô-tem của người Lạc cổ đại là giống chim lạc, có thấy trên mặt trống đồng.
Nhưng chim lạc là giống chim gì, tại sao lại là vật tổ tô-tem của một giống
dân, thì không ai nêu rõ, hơn nữa, tôi thấy hình vẽ con chim gọi-là “lạc” ấy
trên mặt trống đồng trông giống con cò nhiều hơn, một giống chim có rất nhiều
tại các vùng sông nước Bắc Việt Nam. Nếu bảo cò là vật tổ của dân Lạc thì có lẽ
tôi tin hơn, vì nó luôn xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày của người dân,
trước kia cũng như bây giờ.
Thế rồi từ “Lạc Vương” chẳng hiểu vì
sao một hôm bỗng biến thành “Hùng Vương”! Và cũng được giải thích là chữ “Lạc”
và chữ “Hùng” viết khá giống nhau nên bị nhầm! Trời ạ! Các cụ thầy đồ và các
quan ngự sử dài lưng tốn vải suốt ngày ngồi rung đùi ngâm thơ đọc sách thánh
hiền mà lại để sai như thế được chăng? Tôi tự hỏi. Đây là quốc hiệu chứ có phải
chuyện tiếu lâm tầm phào đâu, mà các cụ có thể tắc trách như vậy được! Thật là
cái mớ bòng bong! Chẳng biết đâu mà lần.
Xin lỗi quý bạn đọc vì cái tật hay
bỡn cợt của tôi. Để trở lại không khí nghiêm túc, tôi lại cầu cứu đến Giáo sư
Trần Huy Bích, và được Giáo sư cho biết như sau:
“Cựu
Đường Thư, soạn trong đời Hậu Tấn, năm 945 DL, dẫn sách Nam Việt Chí, nói rằng: ‘Đất Giao Chỉ
xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương 交趾之地 […] 舊有君長曰雄王 (Giao Chỉ
chi địa […] cựu hữu quân trưởng viết Hùng Vương.)’ Tới đây Lạc Vương đã bị đổi
thành Hùng Vương, vì chữ Hùng này 雄 viết khá giống chữ Lạc 雒 trong Giao Châu
Ngoại Vực Ký.”
Giáo sư Trần cũng cho biết thêm:
“Hậu Tấn là một triều đại rất ngắn trong lịch sử Trung Hoa, chỉ được 2 triều
vua, cai trị trong 11 năm, từ 936 đến 946 DL. Triều đại này nằm trong giai đoạn
Thập Quốc Ngũ Đại, môt giai đoạn hỗn loạn sau khi nhà Đường sụp đổ. Khi ấy
Trung Hoa chia thành 10 nước nhỏ, ở phương Bắc có 5 nhà Hậu Lương, Hậu Đường,
Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh giành nhau. Cựu
Đường Thư soạn năm 945 DL là năm áp chót của nhà Hậu Tấn. Lúc ấy ngoài tác
giả có lẽ không ai khác quan tâm đến chuyện vị vua thời cổ của đất Giao Chỉ nên
được viết là 雒王 (Lạc Vương) hay 雄王 (Hùng Vương.) Khi soạn Cựu Đường
Thư và gọi các vị vua đầu của
đất Giao Chỉ là 雄王 (Hùng Vương) thay vì 雒王 (Lạc Vương) như
trong Giao Châu Ngoại Vực Ký, các tác giả của Cựu Đường Thư đã dựa theo
cuốn 南越誌 (Nam Việt Chí)
của 沈怀远 (Thẩm Hoài Viễn) đời Lưu Tống [420-479 DL].”
Vậy
người Trung Hoa đầu tiên dùng danh hiệu Hùng Vương để chỉ các vua đầu của
đất Việt cổ là Thẩm Hoài Viễn, sống vào thế kỷ V. Lúc ấy Giao
Châu còn đang bị đô hộ.
Theo một nhà sử học danh tiếng khác
cũng trong thời hiện đại là giáo sư Trần Quốc Vượng thì chữ “Hùng” là phiên âm
của chữ “Khun”, có lẽ đọc là “Khờ-hun”, một từ cổ trong ngữ hệ Nam-Á, có nghĩa
là tù trưởng, thủ lĩnh.
Nói chung, sau hai, ba nghìn năm, ta
vẫn lúng túng về danh xưng của dân tộc trong thời cổ đại, và có lẽ chẳng bao
giờ có câu trả lời thỏa đáng. Cụm từ Lạc-Việt là do người Trung nguyên đặt cho
ta, và chúng ta đành ôm lấy nó mà chẳng có chọn lựa nào khác. Trong bài viết
này, tôi sử dụng từ “Lạc” để ám chỉ dân tộc ấy. Gọi thế là khiên cưỡng chỉ vì
không có cách gọi nào khác cho chính xác hơn.
Trở lại thắc mắc “Lạc” hay “Hùng”?
Cái nào đúng hơn? Tôi nghĩ tùy bạn thôi. Cả hai đều đúng, và cả hai đều không
đúng, cả hai đều do người phương bắc đặt cho ta. Dân gian thì thích chữ “Hùng”
hơn vì nghe nó có vẻ… hùng dũng; và hằng năm tôi vẫn được nhắc nhở đi dự lễ
Quốc tổ Hùng Vương có các thiếu nữ xinh như mộng mặc áo dài kim tuyến lóng
lánh, đội vương miện à-la-mode-Nam-Phương-Hoàng-hậu ca múa lả lướt trên sân
khấu nhìn đã mắt, hòa quyện với tiếng nhạc Cha-cha-cha và Bolero nghe đã tai,
sau đó được ăn chả giò và mì xào tôm thịt ngon đã miệng.
4.
“Việt” hay “không-Việt”?
Một điều chắc chắn, vào cái thuở
hoang sơ ấy người dân không tự gọi mình là “người Việt”. Chữ “Việt” thoạt kỳ
thủy là do người Trung nguyên phương bắc đặt ra để gọi một cách tùy tiện và
phiếm chỉ tất cả các dân tộc sinh sống ở phía nam sông Dương Tử hoặc từ rặng Ngũ
Lĩnh trở xuống, tức là các miền Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Bộ nước
ta ngày nay, bất luận các dân tộc ấy có cùng một nguồn gốc hoặc huyết thống hay
không. Nó chỉ xuất hiện từ thời Xuân Thu, vì trước đó, vào thời nhà Hạ, nhà
Thương, họ gọi các giống dân này là Man. Man hay Việt là một và chỉ là cái tên
gộp chung một cách rất mơ hồ, phiếm định, cũng như họ gọi các dân tộc tiếp giáp
với họ ở miền Tây Bắc, vùng thảo nguyên Trung Á, là Hồ; hoặc các dân tộc khác ở
lưu vực sông Hoài, phía nam sông Hoàng Hà, là Di.
Vì nhận định sai lầm nên các sử gia
của ta hễ thấy chữ “Việt” là nhận ngay đó là nguồn gốc, tổ tiên dân tộc Việt
Nam, thí dụ như trường hợp nước Việt Thường. Các sử gia ta thấy tên Việt Thường
trong sách xưa thì cho rằng đó là quốc tổ của giống Bách Việt, và chép truyện
Việt Thường hiến trĩ trắng cho vua nhà Chu vào sử. Cố học giả lỗi lạc Đào Duy
Anh phản bác luận điểm này; ông cho rằng Việt Thường là một nước chư hầu nhỏ
của nhà Chu, nằm khoảng giữa hai nước lớn là Sở và Việt (Câu Tiễn), chứ không
phải tiền thân của Lạc Việt hay Lâm Ấp (Chiêm Thành) như nhiều người nhận định
sai. Người Việt Thường, cũng như người Việt (Câu Tiễn), do đó, là người Trung
nguyên, hoặc đã bị đồng hóa với Trung nguyên từ lâu, chứ không phải tổ tiên
chúng ta. Từ rất sớm trong lịch sử, các nước như Sở, Ngô, Việt, và hàng chục
các chư hầu nhỏ hơn ở Hoa Nam và Tây Vực đã bị hút sâu vào quỹ đạo văn hóa
Trung nguyên. Người Trung nguyên sớm phát minh ra văn tự và vì chiến tranh liên
miên nên văn minh và văn hóa họ phát triển rực rỡ. Khi các vua Võ Vương, Văn
Vương sáng lập nhà Chu vào khoảng thế kỷ XII TCN, Trung nguyên đã là một đế
quốc phong kiến rộng lớn hùng mạnh, văn minh cao độ, học thuật phát triển, và
chẳng có gì lạ nếu các dân tộc nhỏ yếu hơn xung quanh lần lượt quy phục họ, sẵn
sàng để họ đồng hóa.
Chữ “Việt” xuất hiện nhiều từ khi
Câu Tiễn nổi lên xưng bá ở vùng Chiết Giang. Theo các thư tịch Trung Hoa cổ thì
tổ tiên Câu Tiễn vốn họ Mi, gốc người nước Sở; nói cách khác, họ là người Trung
nguyên, sinh sống trong một nước chư hầu của nhà Chu, chẳng dính dáng gì đến
đám dân lúc đó đang sống ở vùng Bắc Bộ. Có thể trong đám con cháu của Câu Tiễn,
sau khi nước Việt của ông ta bị nước Sở diệt, có kẻ bồng bế kéo nhau sang Bắc
Bộ tị nạn, theo thuyết của ông Aurousseau. Hoặc người Mân Việt, thuộc tỉnh Phúc
Kiến ngày nay, trong suốt mấy trăm năm có những đợt di cư tìm đất sống mới,
trôi giạt vào cửa bể Quảng Ninh, Hải Phòng, vv, và trở thành cư dân vĩnh viễn,
theo thuyết của ông Madrolle. Nhưng không hề có chứng cứ gì cho thấy họ là
người xây dựng nên cái-gọi-là nước Lạc Việt. Họ là dân Trung nguyên hoặc liên
hệ xa gần với người Trung nguyên, đến sinh sống trên vùng đất mà sau này được
gọi là Lạc Việt. Đóng góp của họ vào Lạc Việt chỉ xoay quanh các cải thiện kinh
tế nhằm nâng cao mức sống và du nhập văn hóa, kỹ thuật mới, nhất là kỹ thuật
đúc trống đồng của người Mân Việt.
5.
Tiếng nói định đoạt cho bản sắc dân tộc
Con người cổ đại không ngừng mạo
hiểm đi tìm đất sống, như chúng ta ngày nay được biết qua các khám phá mới trong
các ngành Khảo cổ và Nhân chủng. Vì vậy, chẳng có gì thái quá nếu ta nhận định
rằng vùng Bắc Bộ lúc đó là mảnh đất thu hút nhiều giống dân nhập cư từ nhiều
nơi khác đổ về do khí hậu ấm áp, nhiều sông ngòi, đất đai phù sa màu mỡ, lắm
bảo vật quý hiếm như ngà voi, sừng tê, châu báu, vv. Theo số liệu của Hán Thư và Hậu Hán Thư mà giáo sư Lê Mạnh Hùng liệt kê trong bộ sử Nhìn lại Sử Việt của ông, thì vào năm 2
DL (thời Hán thuộc), quận Giao Chỉ có 746.237 nhân khẩu, trong khi quận Nam Hải
(tỉnh Quảng Đông ngày nay) chỉ có 94.235 miệng ăn, tức là dân số Giao Chỉ đông
gấp bảy lần dân số Nam Hải.
Từ trước đó, những cuộc di dân âm
thầm kéo dài trong nhiều trăm năm, có lẽ nhiều hơn, và chỉ bùng nổ để lại dấu
vết rất lớn trong lịch sử với cuộc xâm lăng của Thục Phán. Nhờ kỹ thuật chế tác
nỏ tinh xảo của xứ Thục, Thục Phán đánh chiếm vùng đất này một cách dễ dàng,
nhưng chỉ ít năm sau đó, vì không biết giữ tướng giỏi là Cao Thông và khinh
nhờn để gián điệp xâm nhập, đánh cắp kỹ thuật làm nỏ, Thục Phán bị Triệu Đà đánh
bại. Từ đó phần đất này là nội thuộc của người phương bắc, mãi cho đến hơn
nghìn năm sau, Ngô Quyền mới giành lại được chủ quyền đất nước.
(Từ lâu, ít nhất là từ giữa thế kỷ
XX, nhà Triệu của Triệu Đà đã không được xem là một quốc triều của sử Việt. Điều
này đúng, vì Triệu Đà là một tướng Tần, cát cứ ở vùng Hoa Nam dựng lên nước Nam
Việt. Nhưng nếu xét từ cùng luận điểm ấy thì nhà Thục của Thục Phán cũng không
thể xem là quốc triều, vì Thục Phán là hậu duệ của vua nước Thục (vùng Tứ Xuyên
ngày nay), bị nhà Tần chiếm đất, chạy xuống Hoa Nam dựng lên nước Tây Âu.)
Lúc Ngô Quyền lên ngôi vua, mở đầu
cho thời kỳ tự chủ của dân tộc, thì giang san của họ Ngô khác xưa nhiều, con
người cũng đổi khác, không thuần chủng như xưa mà lai tạp rất nhiều. Duy một
điều không khác: tiếng nói! Chính tiếng nói đã định đoạt cho bản sắc dân tộc và
xác định họ là ai trong cộng đồng nhân loại.
Trong bộ sách đồ sộ The History of the Vietnamese/ Lịch sử Người
Việt, học giả lỗi lạc người Mỹ K.W. Taylor, khi bàn về nguồn gốc dân tộc
Việt Nam, đã cho rằng người Việt nguyên thủy – tức là người Lạc sinh sống rải
rác trong vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ – nói một thứ ngôn ngữ mà thuật ngữ khoa
Nhân chủng học/ Dân tộc học gọi là Proto-Viet-Muong.
Ngôn ngữ này là một ngữ chi của ngữ tộc Môn-Khmer, vốn xuất phát từ đồng bằng
sông Mã (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) và dần dà thâm nhập ra Bắc. Nhưng cũng có
giả thuyết khác cho rằng người Lạc đến từ vùng đồi núi phía Bắc và phía Tây
sông Hồng, họ nói một thứ ngôn ngữ cổ có họ hàng với ngôn ngữ Khmu, một nhánh
của Môn-Khmer, mà ngày nay vẫn được các sắc dân thiểu số Bắc Việt Nam và Lào sử
dụng. Mặt khác, An Dương Vương Thục Phán và những người Âu (còn gọi là Tây Âu)
khi vào chiếm đất đai của người Lạc thì lại nói một thứ tiếng khác, có quan hệ
xa gần với ngữ tộc Tai-Kadai. Tiếng này có họ hàng với tiếng Lào và tiếng Thái.
Nói chung, tiếng nói của người Lạc lúc đó thuộc ngữ hệ Nam-Á (Austro-Asiatic),
khác tiếng Trung nguyên phương bắc vốn thuộc ngữ hệ Hoa-Tạng (Sino-Tibet), thậm
chí, nó cũng khác với tiếng nói của các giống dân Bách Việt khác. (Thục Phán
khi đem quân vào Lạc Việt ắt phải nhờ thông ngôn mới hiểu người Lạc nói gì.)
Muốn biết tiếng nói ấy như thế nào,
bao nhiêu phần giống, chỗ nào khác với tiếng Việt ngày nay, có lẽ ta nên tìm
đến đồng bào Mường. Tại sao? Vì người Mường ngày nay chính là di duệ hoặc một
nhánh bà con xa gần với người Lạc, họ còn giữ được ít nhiều phong tục, tiếng
nói, tập quán của tổ tiên. (Người Kinh chúng ta mới là đám con cháu mất gốc.)
Ngay nay chúng ta biết cấu trúc và
ngữ pháp tiếng Việt khác xa cấu trúc và ngữ pháp tiếng Hán. Điều đáng cho chúng
ta suy ngẫm là, vì sao, sau hơn một nghìn năm bị thống trị, bị ép buộc đồng
hóa, người Việt không để mất tiếng nói ấy. Trong khi đó, chỉ sau vài ba trăm
năm bị người Anglo-Saxon từ lục địa phía nam sang lấn đất, người Celtic (người
Anh cổ đại) chỉ còn biết nói tiếng Anglo-Saxon; và gần thời đại chúng ta hơn,
người Ireland sau khi bị người Anh đô hộ cũng trong vài ba trăm năm, bây giờ
hầu như cả nước chẳng còn ai nói tiếng Ireland. Người thổ dân da đỏ Bắc Mỹ cũng
vậy, chỉ sau hơn một trăm năm bị người da trắng khống chế, chẳng mấy ai còn nhớ
tiếng nói của tổ tiên mình.
Có nhiều yếu tố khiến người Việt
không bị người Hán đồng hóa dù bị đô hộ trên một nghìn năm, trong đó, yếu tố tiếng
nói là quan trọng nhất. Vì không muốn bị đồng hóa nên không để mất tiếng nói,
hay vì không bị đồng hóa do những điều kiện ngoại tại khác nên tiếng nói không
bị mất? Khảo sát quan hệ nhân quả đó nằm ngoài phạm vi bài viết và cũng nằm
ngoài khả năng người viết, vì vậy xin miễn bàn. Điều thú vị là chẳng những
người Việt không bị đồng hóa mà cha ông những người phương bắc nhập cư, như Lý
Bôn, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, vv, lại hội nhập với cộng đồng người Việt,
trở thành người Việt, họ đứng lên khởi nghĩa chống lại triều đình phương bắc.
Những người như các vị anh hùng này là một bộ phận không nhỏ của dân tộc, nhưng
thay vì giữ tiếng nói phương bắc của họ, họ nói tiếng Việt. Họ còn có công
phong phú hóa tiếng Việt bằng cách tạo ra rất nhiều từ Hán-Việt. Việc này xảy
ra vào thời Đường thuộc, nên cách phát âm tiếng Hán-Việt chính là cách phát âm
tiếng Hán thời Đường, rất khác với cách phát âm của người Trung Quốc thời nay.
6.
Vài cảm nghĩ từ bàn viết lữ thứ
Việc kết nối với tổ tiên thông qua
ngôn ngữ có thể diễn ra ở nhiều cấp độ, bởi ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao
tiếp mà còn mang theo ký ức, thế giới quan và bản sắc. Dù chỉ chia sẻ được một
bộ phận rất nhỏ của ngôn ngữ đó cũng có thể kết nối bạn với thế giới của tổ
tiên mình. Ngôn ngữ thường mã hóa các giá trị văn hóa (ví dụ, các thuật ngữ về
quan hệ họ hàng hoặc ẩn dụ gắn liền với đất đai, tâm linh hoặc cộng đồng). Bằng
cách chia sẻ ngôn ngữ, bạn tái hiện một phần thế giới tinh thần của họ. Đây
không hẳn chỉ là một thao tác ngôn ngữ mà còn là việc tham gia vào cùng một
nhịp điệu và hình ảnh mà tổ tiên bạn đã trải qua. Ngay cả khi ý nghĩa nguyên
thủy không rõ ràng, có những đứt đoạn, phân mảnh mơ hồ, việc nắm bắt nhịp điệu,
âm điệu, cú điệu vẫn có thể mang theo sức nặng cảm xúc. Từ ngữ thông dụng thường
lưu giữ những lịch sử đã bị lãng quên. Khám phá nguồn gốc của những từ ngữ này
có thể tiết lộ cách tổ tiên bạn nhìn nhận bản thân và thế giới của họ. Việc đặt
lại hoặc lấy lại tên tổ tiên cũng là một cách mạnh mẽ để hiện thân cho mối liên
kết đó. Ngôn ngữ định hình cử chỉ, biểu cảm, thái độ, thậm chí, cả cách liên hệ
với khoảng không nghìn trùng im lặng. Bằng cách nói hoặc lắng nghe ngôn ngữ của
tổ tiên, bạn có thể nhận thấy sự thay đổi trong tư thế, nhịp điệu suy nghĩ hoặc
âm giọng cảm xúc của mình, gần giống như đang sống trong sự hiện diện của họ.
Ngay cả khi bạn chỉ biết những đoạn rời rạc, việc sử dụng ngôn ngữ của tổ tiên
trong cuộc sống hằng ngày tạo ra một cầu nối sống động. Một lời chào, cách xưng
hô với người lớn tuổi, hoặc gọi tên các món ăn bằng ngôn ngữ đó có thể biến
những hành động đời thường thành những nghi lễ tưởng nhớ nho nhỏ. Về bản chất,
việc kết nối với tổ tiên thông qua ngôn ngữ không phải là sự thông hiểu tuyệt
đối mà là về mối quan hệ. Ngay cả một từ, một lời khấn khứa hay một điệu hát
cũng có thể đóng vai trò như sợi chỉ dài xuyên suốt kết nối bạn qua nhiều thế
hệ.
Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có
thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị
những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người
viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại
dương rộng lớn.
Từ nhận định của giáo sư K.W. Taylor
trong bộ sách của ông về người Việt cổ đại, tôi có cảm hứng viết bài này. Đây
là một bài tản mạn, không phải một thiên khảo luận, mặc dù đôi lúc tôi có bị sa
đà vào những điều tôi thường suy ngẫm. Một trong những điều ấy là, tổ tiên tôi
chẳng phải một dân tộc oai hùng gì, họ chẳng để lại một di tích, di chỉ văn
minh rực rỡ nào, bốn nghìn năm văn hóa chẳng qua chỉ là một kiểu nói khuôn sáo
cũ mòn nhằm vuốt ve tự ái dân tộc, họ chẳng để lại một công trình kiến trúc,
thành quách vĩ đại nào, họ chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến sự tiến bộ nói chung
của nhân loại, thậm chí, một hệ thống văn tự cũng không có, họ chẳng có một
nhân vật kiệt hiệt đầu đội trời chân đạp đất như Đại đế Alexander bên trời Tây
hay Tần Thủy Hoàng bên trời Đông, với những chiến tích hiển hách, tên tuổi vang
rền cho đến ngày hôm nay. Họ chỉ là những người dân lam lũ cần cù, ngày ngày
vắt mồ hôi ngoài đồng ruộng để kiếm miếng ăn. Họ chỉ để lại cho chúng ta vài
cái trống đồng trông hay hay, ngồ ngộ. Và tiếng nói.
Tiếng nói ấy, dĩ nhiên, theo thời
gian thay đổi, tiến hóa nhiều, mỗi thời đại đều có những từ mới nhập vào dòng
chính và nhiều từ cũ bị đào thải, không mấy ai sử dụng nữa. Cách diễn tả, biểu
hiện, cách phát âm chắc cũng đổi khác, nhưng cái cơ bản của tiếng nói, mà Giáo
sư Taylor gọi là Proto-Viet-Muong, vẫn ở nguyên đấy; ví dụ ta nói “Mẹ đi chợ
về” chứ không nói “Mẹ về từ chợ.” Trật tự thời gian luôn là yếu tố quan trọng
trong tiếng Việt. Tiếng Việt cũng không phải một ngôn ngữ chặt chẽ như tiếng
Pháp, hơn nữa, nó phải vay mượn gần như toàn bộ từ vựng cho những khái niệm và
ý niệm trừu tượng từ tiếng nước ngoài, như tiếng Hán. Nhưng nó tồn tại sau
nhiều nghìn năm, mặc dù có thời nó bị ngăn chặn, rẻ rúng, xem thường. Điều gì
khiến nó không bị mai một như rất nhiều tiếng nói khác trên thế giới? Như tiếng
Aramaic, ngôn ngữ nói của Đức Chúa Giê-su. Đức tin Đức Chúa rao giảng lan tỏa
khắp thế gian suốt hơn hai nghìn năm qua, nhưng thử hỏi tiếng nói của Ngài thì
còn ai biết nữa không.
Tôi mong được bạn trả lời cho câu
hỏi trên. Trong lúc chờ đợi bạn cho tôi câu trả lời, tôi tiếp tục nói chuyện
với tổ tiên tôi bằng thứ tiếng nói tuy bất toàn nhưng lại rất gần gũi với trái
tim tôi.
–
Trịnh Y Thư
(08/2025)