Saturday, May 16, 2026

Nguyễn Duy Chính: ANH PHẠM XUÂN HY

 

1941-2026 

  • Sinh năm 1941 tại Kẻ Sặt Hải Dương
  • 1954: Di cư vào Nam – Học sinh các trường Văn Hóa, Văn Lang, Hàn Thuyên, Chu Văn An
  • 1962: Công chức Nha Trước Bạ
  • 1979: Định cư tại Pháp và làm việc tại Sở Xã Hội
  • Nay: Về hưu viết và dịch sách

Cùng một tác giả đã xuất bản:

  • Trước 1975:
    • ĐỨA CON NGƯỜI YÊU (dịch chung với Văn Hòa – Sống Mới Sài Gòn)
  • Năm 1988:
    • LIÊU TRAI CHÍ DỊ (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)
  • Năm 1997:
    • HẬU LIÊU TRAI (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)
  • Năm 2002:
    • THIẾP BẠC MỆNH (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)

Tác phẩm tự xuất bản (rất ít) dưới dạng bản thảo:

  • Năm 2009:
    • THÚY THÚY TRUYỆN
    • PHÉP DÒNG CHỊ EM MẾN CÂU RÚT ĐỨC CHÚA GIÊ SU

(Phiên âm bản nôm văn xuôi bản khắc năm 1869)

  • Năm 2011:
    • CHIÊU QUÂN TÂN TRUYỆN

(Phiên âm bản nôm khắc năm 1922, truyện thơ của Thanh Tòng Nguyễn Tiến Khang)

    • THÁNH GIÁO YẾU LÝ QUỐC NGỮ

(Phiên âm bản nôm khắc năm 1774 của Pgneau de Béhaine)

  • Năm 2014:
    • TẠP VĂN
  • Năm 2017:
    • TRUNG QUỐC NIÊN BIỂU (Từ Tần đến nhà Tấn)
  • Năm 2019:
    • SỔ TAY CHỮ HÁN – Nhân vật và từ ngữ
    • SỔ TAY NHÂN VẬT TRUNG QUỐC

 

Anh Phạm Xuân Hy, anh Nguyễn Vinh Quang và Nguyễn Duy Chính

(26-06-2005)

Tôi biết anh Phạm Xuân Hy khá trễ qua sự giới thiệu của anh Đỗ Tiến Đức, báo Thời Luận. Anh Phạm Xuân Hy lớn hơn tôi 6 tuổi, lại ở bên Pháp lâu lâu mới qua Mỹ một lần nên tôi không có dịp làm quen.

Trong cộng đồng người VN tại Nam Cali, số người am tường Hán văn không nhiều và phần lớn kín đáo chỉ sinh hoạt trong thế giới riêng của mình, ít khi trao đổi với người khác. Thành thử tôi biết anh Đức đã lâu nhưng phải đến khoảng 20 năm sau mới gặp anh Hy trong một dịp anh chị Hy sang Cali thăm thân nhân, bạn bè.

Tuy nhiên chỉ sau lần đầu gặp gỡ chúng tôi đã thân mật như quen biết từ lâu, một phần những người anh chị Hy quen biết thì không ít người tôi cũng đã giao thiệp, phần khác cái đồng cảm là cả tôi lẫn anh Hy đều thích đọc chữ Hán, có những điểm chung về kho tàng Hán văn.

Người Việt Nam nếu đã có chút trình độ thường ham thích cổ văn mà văn chương của mình thì gắn liền với Hán Việt, dù không biết đọc nhưng cũng biết qua các bài thơ nổi tiếng của Trung Hoa và làm quen với những bản dịch của Tản Đà, Nhượng Tống, Bùi Kỷ, Ngô Tất Tố, Vũ Hoàng Chương … và thẩm nhập vào đầu óc lúc nào không biết.

Thế nhưng ít người đi xa hơn trừ những ai đặc biệt mê thích văn chương cổ. Còn những người đi thẳng vào chữ Hán như một tầng văn hóa để bơi lội trong đại dương của người xưa thì muôn người không có một nên những ai yêu thích dòng văn hóa Trung Hoa thường cô đơn vì hiếm khi gặp được người cùng sở thích với mình.

Anh Phạm Xuân Hy có trình độ Hán văn rộng hơn tôi vì anh còn biết cả chữ Nôm và quen đọc chữ giản thể. Anh cũng thích nghiên cứu các loại cổ tích đời xa xưa trong khi tôi chỉ tập trung chủ yếu vào đời Thanh liên quan trực tiếp đến đời Tây Sơn. Cũng nhờ loanh quanh trên các phố Tàu, tôi mới thấy rằng không thể chỉ hạn chế kiến thức của mình trong nguồn từ Hongkong hay Đài Loan mà sách vở của Trung Hoa lục địa nay càng lúc càng nhiều, bỏ qua các tài liệu này là tự đóng cửa một khu vực bao la trước nay mình thờ ơ với nó. Muốn đi vào cánh cửa lục địa, việc đầu tiên là tôi phải tìm cách đọc chữ Hán giản thể là loại chữ ít nét hơn nay được dạy cho hàng tỉ người Trung Hoa.

Chữ Hán giản thể thực ra không khó, nếu mình biết được một số cách thức rút gọn của họ thì dễ đoán. Vả lại, một số khá lớn chữ tưởng là giản thể mới của Trung Hoa nhưng cổ nhân đã dùng từ lâu, chỉ cấm dùng trong thi cử, nhưng trong văn bài, tài liệu thì không thiếu. Chính việc biết thêm chữ giản thể lại giúp tôi đọc được nhiều chữ dị thể là những chữ Hán trước đây viết khác với tiêu chuẩn chính qui nay lại được dùng trong cách viết mới.

Chữ Hán chủ yếu có hai dạng thức: văn ngôn và bạch thoại. Bạch thoại là lối văn mới ngày nay người ta nói và viết hàng ngày. Loại văn này tôi cũng khá quen thuộc vì đã từng đọc báo, đọc sách và dịch khá nhiều truyện Kim Dung.

Anh chị Phạm Xuân Hy trong một lần đến thăm (06-2005)


Còn văn ngôn là chữ ngày xưa dùng trong văn chương thi cử, khó hơn bạch thoại vì phải biết cách đặt câu của người trước thường là các văn bản cổ, loại tài liệu gốc mà tôi dùng khi nghiên cứu. Khó nhất cho việc đọc tài liệu cũ là ngày xưa cổ nhân không chấm câu (cú đậu) nên phải tuỳ theo mạch văn mà đặt dấu ngắt dòng, ngắt sai thì hiểu cũng sai, hoặc không ra ngô ra khoai gì cả.

Một rắc rối nữa là ngày xưa không phân biệt chữ thường và chữ hoa như Tây phương nên không biết chữ nào là tên người, tên đất, đâu chỉ là văn thường. Không hiếm những “giai thoại” hiểm hóc mà người ta cố tình dùng âm đọc lẫn lộn để gài đối phương, chẳng hạn bài thơ Con Muỗi của vua Tự Đức thử tài các quan khi ông đọc cho họ viết. Vả lại các cụ hay viết nhanh theo dạng chữ thảo, nếu không quen với cổ văn, cả lối hành văn lẫn lối viết tháu thì cũng khó đoán. Cũng may là có những phép tắc nên tuỳ theo chữ đài (viết lên đầu dòng), chữ huý mà mình biết được việc này liên quan đến nhà vua để dựa vào đó mà suy luận. Chế độ ngày xưa đặt nặng lễ nghi, thứ bậc, tên gọi nên nếu chịu khó tìm hiểu cách sắp đặt, ban thứ của hệ thống hành chánh thì cũng giúp ích cho việc đọc cổ văn rất nhiều. Có điều vì tôi không được ai chỉ dạy nên cái kiểu “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” không khỏi mất thì giờ, tốn nhiều công mà kết quả lại rất tuỳ hỉ.

Theo lời khuyên của anh Trần Văn Chánh tôi đọc thêm về ngữ pháp Trung Hoa. Cuốn sách đầu tiên tôi đọc đến là cuốn Văn Pháp Chữ Hán của cụ Phạm Tất Đắc (Hà Nội:  KHXH, 1996). Cụ Phạm Tất Đắc theo tôi biết nguyên là một giáo sư Pháp Văn ở miền nam trước năm 1975, tinh thông và uyên bác nhiều ngoại ngữ nên trình bày rất đầy đủ, đối chiếu văn pháp Âu Tây với Đông phương. Tiếc rằng sở học của tôi có giới hạn nên chẳng thủ đắc được bao nhiêu.

Về sau anh Chánh cũng có tặng cho tôi thêm mấy cuốn sách khác do anh viết, nhờ đó tôi cũng thu thập được ít nhiều.


Lịch Triều Tập Kỷ (Ngô Cao Lãng)

(có đóng dấu của anh Phạm Xuân Hy)

Khi biết tôi tập trung nghiên cứu khoảng cuối Lê đầu Nguyễn, anh Hy có tặng cho tôi một số văn bản mà trước đây anh chụp được từ thư viện Viễn Đông Bác Cổ Paris. Những biên khảo đầu tiên của tôi về thời Tây Sơn cũng là từ cuốn Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu (Trang Cát Phát) mà anh Hy tặng cho tôi. Việc tìm kiếm tài liệu từ đó mở ra một hướng mới có nguyên tắc hơn vì nhờ một người bạn Đài Loan cùng làm việc trong City of Irvine, tôi liên lạc và đặt mua được nhiều bộ sách qua Tam Dân Thư Điếm ở Đài Bắc.

Khi biết anh Phạm Xuân Hy cũng thích sách, mỗi khi có dịp gặp nhau chúng tôi thường cùng nhau lên Los Angeles và Monterey Park vì chỉ có hai nơi đó có một cộng đồng Hoa kiều đông đảo. Dưới Orange cũng có một hai tiệm sách của người Trung Hoa nhưng thường chỉ là tiệm tạp hóa bán kèm thêm một số tạp chí Hoa ngữ và vài cuốn sách cũ nên hiếm khi tìm được đề mục mình ưa thích. Hai ba mươi năm trước văn hóa đọc còn nhiều chứ đến nay thì ngay cả sách Việt Nam cũng đã vắng bóng, dưới Little Saigon nay chỉ còn tiệm Tự Lực trên đường Brookhurst ở Westminster, bán sách xen lẫn với dược phẩm phụ trội và một số món linh tinh khác. Cách đây hai năm khi một nhà sách nổi tiếng là tiệm Tú Quỳnh thông báo đóng cửa, tôi biết rằng văn hóa đọc nay đang vào hồi tàn lụi, cả mấy trăm ngàn người Việt nhưng số người mua sách không còn bao nhiêu. Qua những buổi ra mắt sách, ngoại trừ hồi ký của những nhân vật nổi tiếng hay nghệ sĩ, ca sĩ còn các tác phẩm cá nhân, dù bỏ nhiều công sức nhưng nay chỉ có bằng hữu, thân nhân đến ủng hộ, các thế hệ ít tuổi hơn hầu như không biết đến, một phần họ không có thói quen đọc sách Việt, phần khác họ đã sống trong một môi trường văn hóa hoàn toàn khác với thế hệ của chúng tôi. Ngay như những người trong lứa tuổi 60, 70 cũng có nhiều thú tiêu khiển khác hợp với sở hiếu hơn việc ngồi đọc sách.

Về phần trước tác, anh Phạm Xuân Hy viết khá nhiều, phần lớn là những biên khảo văn chương liên quan đến điển tích Trung Hoa ít người biết. Anh cũng dịch nhiều bộ sách chữ Hán và phiên âm chữ Nôm. Việc làm, dù lớn dù nhỏ anh cũng tìm hiểu cho đến nơi đến chốn, đầu sông ngọn nguồn chứ không chỉ chép nhặt qua loa trên mạng, cách biên khảo lạo thảo như người ra chợ mua vài món ăn làm sẵn, bày biện cho vừa mắt là xong.

Anh cũng thực hiện được những bộ từ điển lịch sử Trung Hoa rất đồ sộ mà bình thường phải một nhóm học giả làm chung mới có thể hoàn tất được. Đáng tiếc là sách của anh phần lớn chỉ in giới hạn dành tặng cho bạn bè và thân nhân chứ không mấy khi tìm thấy trong các hiệu sách ở hải ngoại.

Một người tuổi cao, thư sinh mảnh dẻ như anh mà làm được những công trình qui mô như thế thật hiếm hoi, đòi hỏi tác giả vừa có vốn ngoại ngữ, vừa kiên nhẫn không mệt mỏi. Ở bên ngoài, số người biết chữ Hán cũng thường chỉ tập trung vào một đề tài chứ ít khi đa dạng, thâm sâu như anh Hy.

Anh Hy quen biết rất rộng, hầu hết những người trong giới văn chương, chính trị ở hải ngoại thì anh cũng đã từng giao thiệp, không phải mới đây mà từ hồi mới di cư vào nam, còn sống chung trong trại học sinh di cư Phú Thọ ở góc chợ Thiếc, cạnh trường đua. Số nhân sĩ  ấy ở Paris cũng nhiều nhưng nay đều luống tuổi, chỉ còn lác đác dăm ba người. Số người ở bên Mỹ thì đông hơn nhưng những năm gần đây cũng rơi rụng, chẳng còn bao nhiêu.


      

                     Một trong những tác phẩm của anh Phạm Xuân Hy

(tủ sách NDC)

Trước đây, khi còn khỏe, hàng năm anh chị Hy sang Mỹ thăm thân nhân nên chúng tôi mỗi năm đều có dịp gặp nhau, trao đổi văn chương, lần mò kiếm sách cũ, ít người mua nhưng lại phù hợp với nhu cầu của chúng tôi. Tôi thường mua các bộ sử triều đại Trung Hoa, còn anh Hy thường quan tâm đến các loại từ nguyên, ngữ pháp, văn tự, điển tích nên anh viết gì cũng có cơ sở vì từ điển thường cung cấp cho chúng ta những chi tiết căn bản nhất.

Có thể nói hầu hết các tiệm sách Tàu ở Nam Cali chúng tôi đều đã ghé qua, kể cả ở Irvine có một tiệm bán sách mới khá rẻ. Nơi đây anh Hy mua được một bộ Khang Hi tự điển, soạn lại theo lối ngày nay mà anh vẫn thường nói với tôi rằng giúp anh rất nhiều khi tìm chữ. Chúng tôi thỉnh thoảng cũng lên Orange (City) là nơi có một phố bán đồ cũ, nói một cách bình dân thì là đồ lạc xoong, hai anh em chỉ trỏ những món đồ cũ bày trong đó. Có điều từ khi người Á châu sang ở đông trong vùng Nam Cali, hàng vừa mắt không còn mấy vì người ta mua cả rồi, có đi lang thang cũng là để hoài vọng một khung cảnh gợi nhiều kỷ niệm.

Năm 2024, chị Hy qua đời sau một tai nạn nên hiện nay anh Hy sống cô đơn. Tuy con cháu ở gần qua lại chăm sóc nhưng anh luôn luôn nuối tiếc thuở còn khoẻ hàng năm sang Mỹ để chúng tôi có dịp gặp nhau. Thế nhưng lúc này các tiệm sách Tàu cũng đã đóng cửa nên nếu anh sang được thì cũng chỉ uống trà ôn chuyện cũ chứ không còn những niềm vui thuở nào. Tuy sức khoẻ đã suy giảm, anh Hy vẫn nhớ đến tôi nên năm 2025 đã gửi tặng tôi bộ Sổ Tay Nhân Vật Trung Quốc (2 tập, 1016 tr.) do GS Nguyễn Văn Sâm mang giùm từ Paris về. Mấy tháng trước, anh Hy lại gửi bộ sách quí về làng Hành Thiện (2 tập) do cụ Đặng Hữu Thụ soạn, được anh Nguyễn Đắc Điều cầm giúp nhân dịp anh sang Pháp thăm bạn bè. Những bộ sách này đều khó kiếm, không phải những người đặc biệt giao thiệp rộng rãi như anh Phạm Xuân Hy thì không có được.





                                                                  

Hôm 14 tháng 5 năm 2025, anh Nguyễn Đắc Điều báo tin anh Hy vừa qua đời. Thật bất ngờ vì mới 3 hôm trước tôi còn nói chuyện với anh qua telephone, trao đổi nhiều chuyện và kể cho anh nghe mới đây ăn mừng sinh nhật anh Trần Huy Bích vừa đúng 90 tôi có dịp gặp anh Việt Dương. Anh Hy lại kể cho tôi về thuở hàn vi đi bán báo, ở trọ nhà anh Việt Dương được bà cụ coi không khác gì con ruột. Thời gian sau này tôi và anh nói chuyện với nhau thường xuyên hơn vì những chuyện anh chia sẻ cũng ít người quan tâm. Cho đến khi anh mất, trí nhớ của anh không hề suy giảm, chỉ có tai hơi kém nên cũng trở ngại ít nhiều. Anh hay than thở rằng nay không còn đọc sách được nữa, tay run hàng đêm tỉnh giấc chống gậy ra nhìn tủ sách mà ứa nước mắt.

Tuy cái tin thật đột ngột nhưng nghĩ lại anh không phải kéo dài thời gian lâm chung và tỉnh táo đến lúc cuối cùng. Âu cũng là cái phúc cho cả anh lẫn người thân. Thời gian gần đây, anh Hy hay nhắc đến chuyện anh cố dịch cho xong phần Thích Khách Truyện trong Sử Ký (Tư Mã Thiên) là bộ sách tôi tặng anh khi trước. Cũng như tôi, anh Hy thích những sách có chú giải kỹ càng do những học giả nổi tiếng biên soạn, in ở Đài Loan. Dịch những tài liệu này cũng là một cách học vì mình người Việt, dù nỗ lực bao nhiêu cũng không thể có đủ trình độ như các học giả Trung Hoa được. Anh Hy cho hay đã dịch xong truyện Tào Mạt, Kinh Kha, Nhiếp Chính, Chuyên Chư … nên chắc cũng không còn nhiều việc cần làm. Hầu như những người làm công việc văn hoá, ai ai cũng đau đáu trong lòng những công trình còn dở dang nhưng nhìn lại những việc anh đã làm được không phải nhỏ.

Thôi, sinh ký tử qui, mong anh yên vui nơi thế giới mới và sẽ có người đi tiếp những gì anh chưa kịp làm. Vậy là người bạn tôi nay đã thành “người trăm năm cũ”.

Nguyễn Duy Chính

Tháng 04-2025

Bổ túc 05-2026