“Thời hoa mộng” với chúng tôi, nhóm bạn
Tuổi Hoa còn giữ liên lạc với nhau sau nửa thế kỷ, là một “thời xanh với
độ tuổi gọi là Tuổi Hoa, và dường như Tuổi Hoa không tàn theo năm tháng dù thân
xác có già nua rồi bại hoại”, như Thương Nga thường bày tỏ.
Hương xưa mãi ngát trong hồn
Tuổi Hoa ngày cũ luôn còn trong tim
(Thơ Thương Nga)
Còn “Người bạn”, tại sao lại trong ngoặc
kép? Xin thưa, nhân một dịp hạnh ngộ cùng nhà văn Nguyễn Lệ Uyên ở Tuy Hòa, anh
ấy bảo, “Hồi xưa, bọn anh mỗi lần đọc bài của ai trên báo thì xem như là mình
đã quen với người đó rồi. Đến lúc gặp nhau thì đối đãi như bạn”. Nếu kể như vậy
thì tôi đã “quen” với Bùi Vĩnh Phúc từ thời xanh hoa mộng, lúc vừa tròn trăng. Theo tôi biết, anh có thơ đăng báo từ năm
1968, 1969, tức là khi anh mới chỉ 15 hay 16 tuổi. Dưới đây là một trong mấy bài
thơ đầu tiên của anh mà tôi được đọc:
đêm về
miên man trên vùng tóc cỏ
gió bay rì rào trong lá cây đen
đứng gọi buồn để ướt cả áo len
em khẽ rùng mình – sao rơi lác đác
trong đám lá cây sao mà xào xạc
phải gió đông về trên cao kia không
pha lê buồn lăn theo nhịp tơ trùng
em nói nhỏ đông về sao lạnh quá
nến cháy hư huyền bên song hoa lá
để một mình buồn em xõa tóc tơ
nhạc reo vang vang trên tháp nhà thờ
gọi sương xuống để hong hồn ai lạnh
(… ) nghe như thì thầm tiếng ai hát nhỏ
gloria in excelsis deo
lời thánh ca em nghe thoáng mơ hồ
trời lạnh quá và đêm thì thơm quá
lệ mềm trên môi vàng sao trên lá
lời thánh ca hồng lả tả trên không
em nghe mùa đông rớt vỡ trong lòng
đêm về miên man trên vùng tóc cỏ.
(Vàng Sao – BVP – Tuổi Hoa số 121, ngày 1-1-1970
Bốn câu cuối lấy từ một dị bản khác, cùng tên, của tác giả)
Trong khi đó, phải đến Tuổi
Hoa số 141 phát hành ngày 1-11-1970 tôi mới lần
đầu góp mặt trên trang Thơ do Quyên Di phụ trách, với bài “Nỗi lòng cô học trò” – mà lại ký tên Hương Ngọc, bút hiệu dùng một lần duy nhất. Thế thì, anh Bùi Vĩnh
Phúc lúc ấy chưa hề biết Trần Thị Nguyệt Mai là điều chắc chắn! Sau đó, anh
Quyên Di Bùi Văn Chúc cùng người bạn đồng nghiệp – anh
Hoài Mỹ Đào Quang Mỹ – thực
hiện bán nguyệt san Ngàn Thông (số 1 phát hành ngày 05-05-1971). Từ đó, anh Bùi
Vĩnh Phúc chuyển sang đóng góp bài cho Ngàn Thông, trong khi tôi tiếp tục cộng
tác với Tuổi Hoa. Nên cách gọi là “bạn” như anh Nguyễn Lệ Uyên nói ở trên chỉ
có một chiều.
Anh đóng góp thơ và văn trên Ngàn
Thông, bằng tên thật Bùi Vĩnh Phúc lẫn bút hiệu Gammy. Bấy giờ thơ anh xuất hiện
thường xuyên hơn, sâu lắng hơn. Xin trích thêm vài đoạn trong một số bài để các
bạn cùng thưởng thức:
(… ) Mùa thu đến cho thời gian rón rén
Sợi tơ vàng rung nhẹ gót chân êm
Ngày mùa xuân chim én hót bên thềm
Thu gọi nhớ cho chim về mơ mộng
Như hôm qua lòng em còn bỏ trống
Bỗng hôm nay chim lạ hót trong vườn
Môi mới hồng cho em lắm người thương
Em con gái nên mùa thu vàng mộng.
(Mùa thu con gái – Gammy – Ngàn Thông số 11, 5-10-1971)
mây bay trắng cả sân trường
em về áo lụa thơm hương má hồng
đàn chim cánh trắng như bông
thả trong giọng hót lối bồng cỏ mơ
có hay giữa sớm sương mờ
hai hàng khuynh diệp trơ vơ gọi buồn (… )
(Áo Lụa Sân Trường – Gammy – Ngàn Thông số 13, 5-11-1971)
Một ngày mưa bay trên tóc
Một ngày thôi hết nắng vàng
Một ngày xa rời lớp học
Cuộc đời ngó xuống mênh mang
(…) Thôi anh giã từ lần cuối
Dù vẫn giữ lại trong hồn
Có gì bình minh suốt buổi
Cho dù bóng nắng hoàng hôn? (… )
(Giã Từ – Gammy – Ngàn Thông số 31, ra ngày 5-8-1972)
(… ) là xanh cả màu xanh lá xanh
có con bướm thắm lượn trong cành
mộng mơ từng cánh hoa sương khói
cho mắt em cười trong mắt anh
là xanh cả màu xanh ước ao
môi em mướt nụ má em đào
từ mây lang bạt đời heo hút
mắt vỡ hoa buồn đêm ngát sao (… )
(Xanh Hương – Gammy – Ngàn Thông số 32, ra ngày 20-8-1972)
Đặc biệt, anh viết “Vườn mây em về” với toàn vần bằng, gợi
nhớ âm điệu Tỳ Bà của Bích Khê:
(… ) Đôi hài em mang làm bằng
nhung
Trâm
cài em ngoan như tơ rung
Yêu
thương em đi trong hoan ca
Yêu người
em mơ trên môi hoa
Bờ vai
đen tuyền cho liêu trai
Hồ sao
xanh ngời trong thiên thai
Thôi em
đi về cho thu vàng
Vàng
thu cho mây thêm bay sang (… )
(Vườn mây em về - Gammy - Ngàn Thông số 10, ra ngày 20-9-1971)
Tôi yêu “Sầu Khúc” với những lời thơ đẹp mà man mác buồn:
(… ) ngày xưa có buổi chiều
bên mặt sông tắt nắng
trong nỗi buồn rong rêu
có tình yêu thầm lặng
và cũng có tiếng cười
trong lòng em rất khẽ
và cũng có niềm vui
thắp trong anh nhỏ nhẹ
tình yêu nào vương mang
cho trùng dương sóng cả
tình yêu nào khăn tang
cho một lần từ giã
anh có những ngày xưa
nở như hoa mười giờ
bây giờ còn gì nữa
hoa buồn héo ngẩn ngơ
ngày mai em ra đi
có mùa đông đưa tiễn
ngày mai ta chia ly
tình buồn như lời biển (… )
(Sầu Khúc – Gammy - Ngàn Thông số 37, 5-11-1972)
Ba bài văn / tùy bút của anh đi trên Ngàn Thông trong năm
1972, âm điệu và lời đẹp như thơ, là bước khởi đầu cho cuộc hành trình sau này:
(… ) Có
phải đó là mùa Xuân không em, khi tình yêu là mây là gió là những sợi tơ hồng
quấn quít vấn vương ôm ấp lấy nhau, trong làn gió mát len nhẹ vào hồn em hồn
anh. Có phải đó là mùa Xuân không em, khi lòng đất tấu lên những lời reo vui
ngày thụ cầm mở ngỏ, rung lên bằng những gót son nhún nhẩy từng đàn em bé náo nức
hoan ca. Nếu nói không phải mùa Xuân, tại sao đóa tường vi lại tỏa ngát hương
tình yêu thánh thiện như bờ môi em dịu dàng đầu ngày nắng chảy, hỡi em yêu dấu.
(… )
(Bay Bay Cánh Hoa Tình Yêu – Gammy - Ngàn Thông Xuân Nhâm
Tý 1972)
Quán
đông dần vì cơn mưa vẫn chưa ngớt hột. Tiếng nhạc bập bùng bay ra từ những góc
tối, âm thanh chùng và thấp: đó là những bản nhạc cổ điển tây phương, có violon
rên siết trên tơ vàng, có những ngón tay nghệ sĩ cúi gục trên dòng nhạc buồn da
diết. Và nhất là có dương cầm lăn êm ái những viên sỏi thật tròn nào đó rớt nhẹ
vào lòng đại dương, cho những âm thanh mơ hồ tưởng chừng ở một khoảng xa xôi
nào vọng lại.
(Mùa
Thu Mưa Bay – BVP – Ngàn Thông số 34, 20-9-1972)
Anh đứng
dậy đưa mắt nhìn ra xa. Tấm áo choàng bằng dạ đen của đêm đã được phủ nhẹ xuống
tự lúc nào. Bãi biển bây giờ thật yên lặng. Những đám mây còn sót của buổi chiều
trôi nhanh về một phía. Tụ lại. Rồi bay lên thật cao. Thật cao... Những hạt sương đã lấp
lánh triều thiên trên những đầu cỏ. Lễ đăng quang bắt đầu. Bầu trời lung linh để
rơi lác đác những vì sao xuống một vùng không gian nào đó, xa lắm, có lẽ tận
ngoài kia.
(Kể Chuyện Ngày Xưa – BVP – Ngàn Thông số 35, 5-10-1972)
Ngàn Thông đình bản vào cuối năm 1972 với tờ báo cuối
cùng số 40 ngày 20-12-1972. Tôi không còn đọc anh nữa. Không rõ anh có tiếp tục
viết và cộng tác với các tạp chí
nào khác
nữa không?
Văn Học miền Nam Việt Nam, trong suốt hai mươi năm rực rỡ
và đầy ánh sáng của nó, đã sản sinh ra biết bao tài năng, làm phong phú và hãnh
diện cho dòng văn học dân tộc nói chung, và cho dòng văn học miền Nam nói
riêng, trong cái bối cảnh lịch sử của đất nước. Những khuôn mặt tài tuấn, những
ngòi bút tài hoa, đã làm bừng sáng cảnh quan phong thổ miền Nam, đất nước cỏ
hoa miền Nam, nơi đó, những nét truyền thống của dân tộc, hòa cùng hương hoa và
ánh sáng thế giới, và những âm vang của thời đại, đã làm dội lên những khúc
hoan ca, hạnh ca, tình ca, hùng ca và bi ca của con người... (sđd, trang 11)
Một buổi chiều, một buổi chiều nào đó, như tất cả những
buổi chiều ta đã lang thang trên xứ lạ, như tất cả những buổi chiều mặt trời
rơi xuống xoáy buồn vào trái tim, ta nhìn đời sống mình bốc khói. Khói cay ngun
ngún cháy đi tất cả những ngày đã qua, cháy đi những mộng tưởng cũ kỹ, những hè
đường đầy lá úa ướt át, những dòng sông thở nồng mùi gỗ mục. Đời đã ngun ngún
cháy đi những giây phút hạnh phúc đẹp đẽ và mơ mộng nhất của ta, cháy đi những
cửa sổ mở tung nhìn con chim bay trên trời, những ngõ hẹp cất giấu bóng chiều
âm ỉ, và khuôn mặt em, khuôn mặt ướt mưa mà hai bàn tay ta đã nâng niu như một
cánh hoa gần. Trong mắt em, ta nhìn thấy ngoài kia cơn mưa chụp xuống giăng kín
buổi chiều. Em chớp mi, và bầu trời phủ đầy bóng tối. Một bóng tối thơm ngát
mùi hoa chanh. (sđd, trang 19)
Quê hương. Nó là tiếng cười ta thuở chân sáo vào đời, là
nỗi rộn ràng ta lần đầu nhìn em áo ngoan hài tím tóc thả gió thu, là mộng mơ ta
bên em nhìn dòng sông mà màu chiều bơ vơ đổ bóng. Nó là nụ hôn trong vườn đêm
thơm mùi ngọc lan thao thiết, bờ môi em dịu dàng hé mở như một cánh hoa. Là chất
sữa của nhung trên da thịt em dịu dàng trinh trắng. Là em run rẩy trong tay ta
như một ánh trăng xanh chỉ chờ rạn vỡ. Quê hương là những ngày mà gió nắng vẽ
trên vầng trán ta biết bao điều lý tưởng, là trái tim ta cháy lên bao tha thiết
cuồng say. Và quê hương cũng là những ngày loạn lạc, khói lửa mịt mù, là đắng
cay của những người vợ trẻ, là xót xa của những người mẹ già tóc trắng như
sương. Quê hương là gió bão, là lời chúc dữ, và là giọt nước mắt ta chảy ra một
đêm tối khi chân bước xuống thuyền, là nỗi quặn đau ta mỗi khi nhìn lại, nỗi quặn
đau mà ta hằng chắt chiu chẳng nỡ rời bỏ, chối từ. Quê hương. Giọt nước mắt ta
chảy ra hóa thành một đêm tối bơ vơ.
(sđd, trang 263-264)
Ngoài việc được xem là một nhà khoa học,
Bachelard cũng được đánh giá là một nhà phê bình văn học kiệt xuất. Trong nhiều
tác phẩm của mình, đặc biệt trong quyển L’Eau et les Rêves (Nước và
Những Giấc Mơ), và, trước đó, trong quyển La Psychanalyse du Feu (Phân
Tâm Học về Lửa), Bachelard đã dùng tinh thần khoa học pha với một ngôn ngữ
nhiều chất thơ, tạo nên một thứ thi pháp kết hợp với những suy tưởng, phân tích
hiện tượng luận, để đặt thi ca và văn chương trong một quan hệ tốt đẹp và nhiều
thành tựu với khoa học về tâm lý.
Khuôn mặt trong gia tài khoa học/văn học
của Bachelard mang dấu ấn của một nhận thức luận và một thi pháp học đặc thù,
đã cho thấy triết lý, tư duy nơi ông là một tư duy kép, gồm cả tư duy khoa học
và tư duy thi ca. Ông cho thấy dù đó là hai mảng có vẻ đối chọi nhau, con người
không thể tư duy mặt này mà thiếu mặt kia. Animus và Anima. Trong
tác phẩm La Poétique de la Reverie (Thi pháp của mơ mộng),
Bachelard đã đối lập animus, gắn bó với tinh thần khoa học, tượng trưng
bằng lý trí, với anima, gắn bó với mơ mộng và tưởng tượng.
Cũng thế đối với Maurice Blanchot, một
nhà phê bình kiệt xuất khác của Pháp. Trong tác phẩm L'Écriture du Désastre (Writing
the Disaster, 1980), một tác phẩm chứa đựng những suy tư mang tính triết học
sâu sắc, thể hiện qua một lối viết được giới phê bình gọi là “prose fragments”,
người ta cũng có thể đọc được những đoạn văn đầy thơ mộng của Blanchot.
Tôi thích hướng phê bình và cái viết của
cả Bachelard và Blanchot. Dĩ nhiên, còn có những người khác nữa. Có thể tạm kể
như Mikhail Bakhtin, Roland Barthes, Roman Jakobson, Claude Lévi-Strauss, Jean
Pierre Richard, Pierre Macherey, Charles Mauron, Normand Holland, Jean
Starobinski, v.v.. Mỗi người viết như thế
là một ánh sao, mà cái ánh sáng họ để lại còn làm cho chúng ta, những người đọc,
nhìn ngắm, theo đuổi.”
Vũ
Khắc Khoan yêu sự vô ngôn này. Ông cũng lặp đi lặp lại nhiều lần cái quan niệm
của ông cho rằng một vở kịch lớn là một vở kịch không có khán giả. Khán giả với
diễn viên là một. Khán trường và sân khấu không còn sự ly cách (sự ly cách này
vốn dĩ đã thật là mỏng manh trong bản chất của kịch).
En
Attendant Godot là một vở kịch cả thế giới biết đến của
Samuel Beckett, được viết trong giai đoạn 1947-1949. In thành kịch bản năm
1952. Diễn lần đầu vào tháng Giêng, 1953. Bản dịch ra Anh văn là Waiting
for Godot năm 1954… Vở kịch này là một cuộc cách mạng trong cơ cấu kịch,
trong chất liệu kịch, và trong sự trình diễn. Thông điệp của vở kịch là sự chờ
đợi. Vở kịch được xây dựng quanh hai diễn viên chính, qua đó, tác giả trình bày
hoàn cảnh và đặc tính của sự chờ đợi. Cái đặc tính này cũng là yếu tính của vở
kịch. Kịch ở đây không còn trình bày về một biến cố nào đó, nhưng nó trình bày
chính nó. Tự nó là một vũ trụ riêng với những khả tính và yếu tính mà tác giả
muốn nó có.” (sđd, tr. 147-148)
*
Tôi có được xem đoạn video trong ngày
ra mắt sách “9 Khuôn Mặt. 9 Phong Khí Văn Chương” này của anh. Tất cả những
nhà văn, nhà thơ, nhà báo, giáo sư, dịch giả... có mặt đều rất khen phần văn
chương và phê bình của BVP. Nhà thơ Trịnh Y Thư nhận xét, “Đặc trưng trong
phong cách văn học của Bùi
Vĩnh Phúc hàn lâm nhưng không thiếu
tính thơ và trữ tình, bởi vì trước khi đi vào lý luận văn học thì BVP đã từng
là một nhà thơ. Phê bình văn học đòi hỏi người viết phải có một căn bản về văn
học, các lý thuyết văn học. Ngoài ra, còn phải thấu triệt các vấn đề về triết học,
tâm lý học, mỹ học; thậm chí các ngành khác như âm nhạc, hội họa, kịch nghệ,
v.v... Bùi Vĩnh Phúc là một nhà phê bình văn học đứng đắn, nghiêm cẩn”. Giáo sư Trần Chấn
Trí chia sẻ, “Khi xem xét một bài thơ”, với lối phê bình tài hoa của một “Nhà Phê
Bình/nhà Ngôn Ngữ Học [, BVP] đã soi sáng cho người đọc thấy hiệu ứng âm thanh đóng một
vai trò trọng yếu như thế nào trong nghệ thuật làm cho những vần thơ, yên lặng trên trang giấy, lấp lánh trên không gian ba chiều, cộng thêm chiều thứ tư là cảm xúc của người đang thưởng
ngoạn bài thơ [...] Bùi Vĩnh Phúc xem xét
nhiều góc độ khác nhau như lời thơ, ý thơ, tứ thơ, vần điệu. Nhưng đặc biệt là
anh chiếu thẳng vào từng từ ngữ, tháo tung nó ra như người thợ sửa đồng hồ săm
soi từng bộ phận chi li của nó... Bùi Vĩnh Phúc đã say mê đi
thật sâu vào thế giới âm thanh của từng chữ, từng âm tiết, thậm chí từng âm tố…
Từ trước đến giờ, chưa có ai phê bình thơ mà đi vào tận cùng thế giới âm và
thanh như Bùi Vĩnh Phúc. Anh dùng
ngôn ngữ học để lột trần ngôn ngữ trong thi ca...” Nhà văn Đặng Thơ Thơ phát biểu,
“Độc giả có thành kiến rằng phê bình văn học là những gì khô khan hay ‘hại não’,
nhưng thành kiến đó không đúng với Bùi Vĩnh Phúc, nhờ
cách vận dụng ngôn ngữ, thủ
pháp nghệ thuật, và sự liên tưởng để bài phê bình cũng là một bản văn đầy chất
thơ, làm rung cảm người đọc. Cuốn
sách 9 Khuôn Mặt. 9
Phong Khí Văn Chương là chứng nghiệm thơ mộng như thế. Trong cuốn
sách này, Bùi Vĩnh Phúc đã sử dụng nhiều phương pháp phê bình để tiếp cận văn bản,
trong đó có cấu trúc luận, ký hiệu học, ngôn ngữ học, và áp dụng phân tâm học
và hiện tượng luận để soi rọi khung văn hoá của từng đối tượng được nghiên cứu... [Qua cuốn sách, BVP viết
về] 9 Khuôn Mặt 9 Phong Khí Văn Chương, nhưng theo tôi phải là 10,
vì phong khí văn chương thứ 10 là chính Bùi Vĩnh Phúc.”
Từ những bài thơ đăng báo hồi Tuổi Hoa cách nay hơn nửa
thế kỷ đến những bài viết của hiện tại, “Người bạn” thời hoa mộng ấy đã đi những
bước dài bằng đôi hia bảy dặm, nêm đầy kiến thức mỗi ngày qua việc dạy và học,
đọc sách, vui chơi cùng bè bạn và cả những cuộc lữ đó đây. Nhà báo Phan Tấn Hải
tiết lộ, “Bùi Vĩnh Phúc là hình ảnh một Cung Tiến bên âm nhạc, do Cung Tiến sáng tác nhạc rất ít nhưng ngày nào cũng sống
với âm nhạc. BVP cũng viết rất ít nhưng đọc mỗi ngày và đọc nhiều lắm. Khoảng gần
40 năm trước, Phan Tấn Hải ghé nhà Bùi Vĩnh Phúc ở Irvine có 2 phòng nhưng đầy sách, sách xếp
thành hàng cả dưới gầm giường.” Giáo sư Quyên Di cập nhật, “Căn nhà PTH nhắc đến
là nhà cũ, nhà hiện nay của BVP rộng hơn nhiều, có tới 4 phòng, nhưng 3 phòng
rưỡi dùng để chứa sách!”
Trần Thị Nguyệt Mai
Tháng 11/2025
[ trích từ Tạp Chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt - Bùi Vĩnh
Phúc - Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương do Ngôn Ngữ phát hành 2026.
Sách được phát hành trên Amazon: https://www.amazon.com/T%E1%BA%A1p-Ch%C3%AD-Ng%C3%B4n-Ng%E1%BB%AF-Bi%E1%BB%87t/dp/B0GFSZ3666
Muốn có sách với chữ ký tác giả, xin thư về: bvphuc2000@yahoo.com ]