THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ QUA ĐỜI Ở TUỔI 86
Được tin nhà thơ Phạm Thiên Thư mới qua đời,
thọ 86 tuổi, xin chép lại ở đây đôi dòng viết về ông như một nén tâm hương cầu
nguyện hương hồn ông sớm về cõi Phật.
*
Đối với tôi, chính thi sĩ Phạm Thiên Thư mới
là người đưa thơ lục bát lên một cầu vực mới và cho nó cơ hội thêm một lần bung
nở rực rỡ trong khu vườn văn nghệ Việt Nam.
Tôi yêu thơ Phạm Thiên Thư từ khi còn
là cậu trai Trung học tại quê nhà. (Lúc đó tôi bắt đầu biết làm thơ tán các cô
bé xinh xinh và thơ tôi đặc sệt chất thơ của thi sĩ họ Phạm. Bạn bè bảo, “Thơ
cậu nghe y chang thơ Phạm Thiên Thư.” Thế là ngay lập tức cái bút danh Trịnh Y
Thư được bạn bè đẻ ra cho tôi.) Thế hệ tôi, lớn lên trong lửa đạn chiến tranh
trên quê hương, sớm có ý thức về những đổ vỡ đớn đau và ít nhiều mang tâm trạng
bi phẫn với thời đại, thường có xu hướng tìm quên trong thơ văn thoát tục mà
điển hình là thơ của thi sĩ họ Phạm. Tuy thế, thơ của ông, nhất là lục bát,
phải có cái gì khác mới đủ sức quyến rũ cả một thế hệ và ảnh hưởng của nó còn
lan tỏa sang các thế hệ sau.
Nhà văn Võ Phiến, cũng trong bộ sách Hai mươi
năm văn học miền Nam, phân tích thơ Phạm Thiên Thư xong, bảo thơ ông chuyên chở
ba đề tài chính, lúc nào cũng quyện lẫn vào nhau, đó là: tôn giáo, tình yêu và
thiên nhiên. Ông đã hóm hỉnh gọi thi sĩ họ Phạm bằng cái tên rất ư “Võ Phiến”:
tu sĩ đa tình.
Thơ Phạm Thiên Thư không thiếu những thi ảnh
về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên, những thi ảnh thật đẹp, nhưng ý nghĩa của
thơ thì thật khó cho chúng ta có một định hình rành rọt, tận tường nào. Ông là
nhà thơ quan tâm nhiều đến chữ và cảm xúc do chữ đem lại. Ý nghĩa của thơ đậu
lại trong tâm tưởng người đọc hay không, không là quan thiết hàng đầu. Đấy cũng
là quan điểm về thơ của thi sĩ Octavio Paz khi ông viết trong cuốn Điện xoay
chiều:
"Chủ yếu của thao tác thi ca là ngôn
ngữ: bất luận sự tin tưởng cũng như niềm xác tín của nhà thơ là gì, điều hắn ta
quan tâm đến là ngôn từ chứ không phải những điều ngôn từ này ám chỉ."
Nói như vậy, thi sĩ vĩ đại nhất của nền thi
ca Mexico thời hiện đại không có chủ ý bảo vũ trụ thơ là hoàn toàn vô nghĩa
hoặc ý nghĩa của nó chỉ là cái gì phụ thuộc. Mặc dù không thể tách rời ý nghĩa
của thơ ra khỏi ngôn từ, nhưng chúng ta phải hiểu là tuy mỗi con chữ trong bài
thơ đều có ý nghĩa của nó, giữa những con chữ cũng có một ý nghĩa hữu cơ nào
đó, nhưng đừng đòi hỏi, gán ghép hoặc phán quyết một ý nghĩa tổng hợp nào ở
ngoài bài thơ, cho dù đấy là một ý nghĩa bí nhiệm, phù huyền. Năm lớp 9, lớp
10, học văn, tôi hay nghe thầy cô bảo Truyện Kiều của Nguyễn Du là thi phẩm
chứa đựng tâm trạng “hoài Lê” của cụ, bởi tuy ra làm quan cho triều Nguyễn
nhưng cụ vẫn đau đáu thương nhớ nhà Lê. Bây giờ nhớ lại, tôi không đồng ý chút
nào với quan điểm ấy, bởi hiểu như thế là chính trị hóa thi ca và chỉ khiến
thiệt thòi cho những vần thơ trác tuyệt của cụ Nguyễn mà thôi.
Dẹp sang bên mọi ý nghĩa ngoại tại của thơ,
chúng ta sẽ thấy cái hay của thơ Phạm Thiên Thư. Nó nằm ngoài mọi ý nghĩa, và
lục bát của ông không lâm vào tình trạng lưỡng phân như rất nhiều nhà thơ khác.
Không quan tâm đến ý nghĩa nữa, ngôn từ trong thơ ông mặc tình mặc ý tha hồ
tung tỏa và người đọc tùy nghi chiêm mộ nó ở nhiều chiều kích khác nhau, mỗi
chiều kích là một cung bậc cảm xúc, một cách cảm thụ riêng tư. Cánh cửa đi vào
cõi thơ ở đây là cánh cửa thần cảm hay linh cảm chứ không còn là cánh cửa lý
trí nữa.
Nói đến lục bát Phạm Thiên Thư mà không nhắc
đến tính nhạc trong thơ ông là một thiếu sót nghiêm trọng. Cú điệu của thơ lục
bát nói chung là êm nhẹ, du dương nhưng dễ nhàm chán. Biết rõ điều ấy hơn ai
hết, thi sĩ họ Phạm đã dụng công biến tính nhạc trong thơ mình thành những âm
điệu véo von. Véo von như ca dao nhưng thánh thót hơn và nếu phải so sánh với
lục bát Nguyễn Bính thì “sang cả” hơn, như nhạc Mozart bên cạnh nhạc Salieri.
-- Trịnh Y Thư