Sunday, August 30, 2026

TRÚC CHI Tôn Thất Kỳ: PHÚ XUÂN THÀNH HOÀI CẢM



Bao lần Hưng phế
Công hầu đế bá là ai
Giòng Hương đỉnh Ngự
Xanh xanh sông núi còn dài

Mây côi vòng cổ lũy
Nhạn lẻ vút kỳ đài
Hương Bình phong cảnh cũ
Tân chủ mấy lần thay

Nào ai ai tỉnh ai say
Được thua thua được vần xoay thế cờ
Nắng mưa núi nọ còn trơ
Đìu hiu lau lách lững lờ giòng kia

Lơ thơ mấy lá đi về
Một câu mái đẩy trăm bề cảm thương
Chinh chiến thiêu tàn cây đỉnh Ngự
Phong ba nhồi đục nước giòng Hương

Thành lở bồi hồi niềm cảm cựu
Sen tàn ngao ngán nỗi tang thương
Kỳ đài cờ đổi bao nhiêu lá
Ngũ Phụng lầu trơ nét đế vương

Vàng phai son nhạt thôi thôi vậy
Lăng tẩm rêu phong dáng vẫn Rồng
Một thời Chiêm quốc hai triều Nguyễn
Công hầu đế bá chuyện thành không.

Núi Ngự không cây người trước khóc
Sông Hương nhuốm máu lớp mình thương
Một lần tiêu thổ tàn cung điện
Bia miệng nghìn năm rủa lũ cuồng.

Ai thiêu? ai phá? ai làm sử?
Riêng Huế thầm đau giữa đấu trường
Trường Tiền đứt đoạn cầu ba nhịp
Hai bờ duyên nối chuyến đò ngang

E ấp bao tình mùa phượng đỏ
Mà cũng ngậm ngùi bao dở dang
Cồn xinh bến cũ đâu người cũ
Lỗi hẹn đò xưa không thấy sang.

Đâu rồi Vỹ Dạ đài trang trước
Thơ Hàn Mặc Tử mấy vần buông
Chuyện kể hàng cau cùng nắng mới
Lá trúc... người xưa ôi vấn vương

Hoa bắp có lay hồn trẻ dại
Gọi dùm cái tuổi chớm yêu đương
Đông Ba Gia Hội thuyền chi chít
Bát cạy lừng vang cả khúc sông

Quà ngon đủ vị bày xinh xắn
Chén dĩa con con sắc trộn hương
Một chiếc tròng con chè đủ thứ
Đêm hè ngọt miệng khách thừa lương.

Nước non nghìn dặm câu ly biệt
Đời sau nhỏ lệ khóc công nương
Tàu chạy kéo neo từ buổi ấy
Ai người ngùi cảm thân phế vương

Non nước chạnh lòng thương thiếu đế
Há đem thành bại luận anh hùng
Chầu văn lơ lớ kêu ma dậy
Tưởng hồn Chiêm Quốc múa trong sương

Đêm tàn bến Ngự tân hòa cổ
Thần tình điêu luyện giọng Minh Trang
Chan chứa bao tình phong cảnh Huế
Êm đềm nét nhạc Nguyễn Văn Thương

Cố đô thi xã bao vần điệu
Dìu dặt còn vương trên giòng Hương
Kính Chỉ, Thảo Am, Thúc Giạ Thị
Khóc cười dâu bể mấy triều vương

Tùng, Tuy hai phủ dù hoang phế
Thơ giá còn treo thất thịnh Đường.
Tao nhân mặc khách đâu đâu tá
Nào đâu hào kiệt đâu anh hùng

Hưng phế tồn vong vô hạn cảm
Thị phi thành bại ai người thương
Có chăng Thiên Mụ chuông chiều sớm
Nhắc chuyện vô thường trên bến sương

Sớm chiều Thiên Mụ hồi chuông
Nhịp đưa kim cổ lớp tuồng đổi thay
Buồn vui trời đất còn dài
Tấc riêng gửi Huế chút này còn lưa.

TRÚC CHI Tôn Thất Kỳ

(Trang 30, Tuyển Tập Nhớ Huế 1994)


CHÚ THÍCH:

MÂY CÔI…… đám mây lẻ loi, đơn chiếc 

MỘT CÂU   MÁI    ĐẨY……mái đẩy là tên một điệu hò ngày trước vẫn thường nghe được trên sông Hương.

NGŨ PHỤNG: tên của kiến trúc ngay trên cửa Ngọ Môn hoàng thành Huế.

NÚI NGỰ KHÔNG CÂY…… khoảng vài năm sau 1945, thông trên núi Ngự chết hết, không ai biết lý do.  Sau đó có câu được truyền tụng trong dân gian:

NÚI NGỰ KHÔNG CÂY CHIM NGỦ ĐẤT 

MỘT LẦN TIÊU THỔ TÀN CUNG ĐIỆN….. đêm 19 tháng 12, 1946 chính quyền đương thời đã phát động cuộc “tổng khởi nghĩa” chống Pháp.  Họ áp dụng chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến “  (theo cách Liên Sô chống Đức trong thế chiến 2)  dùng chất nổ phá hỏng và phá hủy nhiều cầu cống, nhiều đoạn đường xe lửa, kiến trúc khắp nước. Điện Thái Hoà, điện Kiến Trung  và một số các điện khác trong Hoàng thành Huế đều bị phá hủy trong cuộc tiêu thổ kháng chiến này. Về sau báo chí Hà Nội nóirằng đó là  hậu quả  chung của bom đạn chiến tranh.

TRƯỜNG TIỀN ĐỨT ĐOẠN….. cầu ba nhịp…… cầu Trường Tiền ngang sông Hương có sáu “vài”, bị phá sập mất ba vài trong cuộc tiêu thổ kháng chiến trong lời chú trên đây.

LÁ TRÚC…. Thơ Hàn Mặc Tử  trong bài nói về Vỹ Dạ ở Huế :

Vườn ai mướt quá xanh như Ngọc

LÁ TRÚC che ngang mặt chữ điền 

HOA BẮP CÓ LAY….. cũng trong bài thơ viết về  Vỹ Dạ ở chú  thích trên, có câu 

GIÒNG NƯỚC BUỒN THIU HOA BẮP LAY.

BÁT CẠY…..là danh từ  chuyên môn  trong giao thông trên sông Hương thời chưa có thuyền máy. BÁT là bẻ lái thuyền qua tay phải, CẠY là lái sang tay trái.

MỘT CHIẾC  TRÒNG CON…… TRÒNG là thuyền nhỏ thường được một phụ nữ chèo lái để bán quà như chè cháo, bánh bèo, nậm, lọc…..

NƯỚC NON NGHÌN DẶM….lời trong một bản Nam Bình kể chuyện Huyền Trân Công chúa, có câu “mượn màu son phấn đền nợ Ô LY ..

NON NƯỚC CHẠNH LÒNG … trong một câu hò được truyền tụng rộng rãi, mà tác giả là nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị,   nội dung ám chỉ vua Duy Tân,   có câu 

THUYỀN AI THẤP THOÁNG TRÊN SÔNG

ĐƯA CÂU MÁI ĐẨY CHẠNH LÒNG NƯỚC NON

TÀU CHẠY KÉO NEO…..câu mở đầu trong lời của một bài NAM BÌNH, tương truyền ám chỉ chiếc tàu thủy đưa vua Thành Thái đi đày.

CHẦU VĂN… nhạc có lời thông dụng  trong những buổi lên đồng ngày trước thường nghe được trên một cồn nhỏ trên sông Hương trước chợ Đông Ba.

ĐÊM TÀN BẾN NGỰ….tên một bài  nhạc của Dương Thiệu Tước.

ÊM ĐỀM  NÉT NHẠC…Nguyễn Văn Thương có viết bài  Trên Sông Hương 

KÍNH CHỈ, THẢO AM, THÚC GIẠ THỊ là ba thi nhân Kính Chỉ Phan Văn Hy , Thảo Am Nguyễn Khoa Vy và Ưng Bình Thúc Giạ Thị trong Hương Bình Thi Xã.

TÙNG TUY HAI PHỦ….  THƠ GIÁ….

Tức là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương. Tương truyền vua Tự Đức có hai câu:

Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường

(Văn của Nguyễn Văn Siêu hay hơn văn thời tiền Hán. Thơ Cao Bá Quát trội hơn thơ thời Thịnh Đường)

 CÒN LƯA…. còn sót lại, còn thừa 

 -------------------------------------------------------------------------