Bùi Giáng tiếp xúc với thế giới chúng ta bằng ngôn ngữ của riêng ông. Điều
mà những người đọc ông không ngạc nhiên tuy rằng việc xác nhận như thế có thể
mãi mãi đặt họ vào thế xa cách thêm với nhà thơ.
Cao Huy Khanh, một trong số ít người cố tìm ra con đường gặp gỡ nhà thơ,
cho rằng, “Đọc Bùi Giáng thì không thể
nói là “hiểu” hay “không hiểu” được, hơn nữa đó lại là một chữ khó lòng được
tác giả chấp nhận.” ( Cao Huy Khanh, Khởi
hành tuyển tập mùa Xuân Nhâm Tý 1972, tr.33.) Nói theo họ Cao, con đường
đến với Bùi không là ý thức mà là nỗ lực của trực giác và liên tưởng của người
đọc đối với khối lượng to lớn ngôn ngữ của Bùi có lúc được tuôn trào như lượng phún xuất. Ngôn ngữ ấy chỉ trở
thành thứ “biệt ngữ” hay “đặc ngữ” của Bùi khi người đọc tiếp tục giữ khoảng cách
với thơ Bùi với thói quen của người đi trên đường vắng. Như thế, không riêng gì
Bùi mà họ - người đọc ông - cũng trở thành người độc hành trong sự trễ nải,
biếng nhìn trước những điều diễn ra trước mắt. Thế giới chúng ta trước mắt Bùi
là cách hình dung bằng ngôn ngữ theo cách thể hiện riêng của người thi sĩ. Sự
xa cách mà theo thời gian ngày một trầm
trọng giữa thi nhân với chúng ta, tạo nên sự gia tăng mức đối nghịch giữa
hai đối tượng trước cùng một thực tại. Những phạm trù tỉnh /say, cuồng / thức, mê / trí, làm nên ranh giới cách biệt
một cách dễ dàng nhưng xuồng xã.
Mấy “phạm trù” ngôn ngữ của Bùi mà
Cao Huy Khanh lấy làm tiêu biểu: Phố Thị, Gái Chiêm Bao, Đười Ươi, để thử viết
lại bằng ngôn ngữ của Cao, cũng là một cố gắng đưa người đọc đến gần hơn với
Bùi, và như thế, gián tiếp xem thơ Bùi là thứ ngôn ngữ cần giải tích, tựa như
một thứ quặng vừa khai quật, một nguyên liệu thô còn chờ đợi tay người.
Cái cách tiếp xúc như trên với thơ Bùi quả thật có hiệu quả đối với một số
người. “ Nơi Phố Thị Đìu Hiu, nơi Cố Quận
mịt mù, nơi Hương Quan chập chờn bóng nhạn, nơi Cố Quốc mây trắng theo đàn...,
làm sao về được nơi đó, chốn quê hương nghìn đời ấp ủ một vết thương, làm sao
đưa tôi tới đó, vùng kỷ niệm một đời yên nghỉ, làm sao cho tôi về lại trên bậc
thềm nhà cũ nhìn trong sân hoa đào nở mà chợt nhớ ngày sau sẽ cưới em tình cờ.
Anh không nghe thấy sao trên trời mù một tiếng gọi đầm ấm của mùa xuân sau, anh
không nghe thấy sao từ ngoài biên ải vó ngựa chạy xôn xao một tiếng gọi thân
tình về trong ly rượu dâng màu mắt ai, không nghe thấy
chăng nơi con chim nhạn kêu thương buổi tàn thu một tiếng gọi sầu thảm của cội
thông già đón bóng mặt trời...” (Cao Huy Khanh, Bùi Giáng Cải Lương Ca, Văn, gp, 18.5.1973, tr. 58,59).
Từ ngữ của Bùi chứa đựng không chỉ ngần ấy ý tình, hay “phố thị” của Bùi
trở nên một gợi ý triền miên từ một chốn chỉ còn trong mơ ước.
Bởi vì thơ Bùi còn chồng chất một khối lượng ngôn ngữ vốn là thứ chướng
ngại không chỉ của sự cảm thông hay hòa ý. Không chỉ là mây Bình Nguyên, trăng Châu Thổ, ghềnh Kỷ Nguyên, sương Tỳ Hải, bờ Tồn
Sinh, bờ Trần Gian, sa mạc phát tiết, cồn hoa trút lá, ngõ ban sơ, lời cố quận, hạnh
ngân dài... mà là mỗi từ ngữ lọt vào cơn hồng thủy của thơ Bùi đều có nghĩa
của sự ký danh, thác danh hay hài danh. Ngữ nghĩa mới này là đầu mối của sự dị
biệt về cái nhìn vào thơ Bùi và quan trọng hơn, đặt thơ Bùi trước ngã ba, một hình ảnh do chính ông hình
dung (Bùi Giáng, Câu Chuyện Hôm Qua, Văn,
gp, 18-5-1973, tr.80.) Và cũng chính từ vấn đề ngữ nghĩa này, mà có người như
Nam Chữ đã cho rằng trong tác phẩm, họ Bùi đã “nỗ lực không ngừng trong tinh thần phát huy một lối Ẩn Ngữ Riêng Biệt
“ (Bùi Giáng, Về Cố Quận, Văn, sđd. tr.52.) Nhưng cho là ẩn ngữ hay mật ngữ, nói cho
cùng, cũng là cách để ngỏ vấn đề mà thời gian dường như càng góp thêm lớp bụi
gián cách, ngày một xa dần ý định tìm kiếm chìa khóa giải ẩn. Ở nhiều mức độ
khác nhau, thơ thường được xem là môi trường cần thực hành những bài học giải
ẩn, đặc biệt với những bài thơ được liệt vào hàng khai phá. Thơ của nhóm Xuân Thu
Nhã Tập, gần hơn, một số bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, trở thành cần thiết
để đặt thành đối tượng khám phá theo ý nghĩa trên, hơn là vội đi đến kết luận
mà phần lớn thuộc về cảm tính. Bùi Giáng, ở vào vị thế đặc biệt hơn, vì cả văn
thơ lẫn con người, ý thơ lẫn thần thức, vẫn còn là ẩn số, là dáng người thấp thoáng tan dần trong sương sớm. Thân như ảo mộng đi dài ngõ thuôn.
(Sa Mạc Trường Ca).
(*) “Hương màu tri âm” thuộc loại thơ Nhị thập bát tú trong
tập Ngồi Quán của Vũ Hoàng Chương,
được ghi tặng Bùi Giáng 25.12.1968
Biết nhau từ thuở nhuốm rừng
phong
Trắng cành mai chẳng phai dòng
thơ xưa
Mai còn giáng bút, hương đưa
Màu thăng hoa, tuyết còn thưa
cuối trời.
Giữa bầu khí cổ võ xung đột,tranh chấp, tập thơ Rừng Phong của Vũ Hoàng Chương ra đời vào thời điểm đó (1954) và
gặp phản ứng gay gắt trong dư luận. Chỉ riêng
Bùi Giáng trong tạp chí Thẩm mỹ. Sài
gòn lên tiếng bênh vực bằng việc minh giải quan niệm và thái độ của Vũ trước
cuộc đời và trong sáng tác (Bùi Giáng, Nhân đọc Rừng Phong, Thẩm mỹ, 1954, in lại trong tạp chí Văn, Sài gòn, số 150, 15.3.1970, tr.
46-53).
---------------------------------------------------------
bàn chân em đẹp hãy dừng đây
suối chảy bờ quanh mượt cỏ dày
đón đợi niềm về cùng cây lá
nguyên màu xanh thủa đã từ xưa...
(Mộng Hồn Suối Kể, Giáo dục phổ thông,
Sài gòn, số xuân Canh Tý 1960, tr.24).
Thiên nhiên thuở ấy đã tượng hình trong thơ Bùi theo cách riêng của thiên
tài. Thực tại là hòa âm của thực tại với
lý tưởng. (Hoàng Châu Thanh, Thiên Nhiên Trong Thi Ca Holderlin, Thế kỷ hai mươi, số 6, tháng 12.1960,
tr. 55). Và cũng theo quan niệm trên, thiên nhiên trở thành một thế lực chi
phối sự vận hành cũng như tương quan trong thực tại. Thiên nhiên không còn là
hình ảnh phụ thuộc tâm tình con người chứng kiến hay chịu sự ràng buộc mà tráng
lệ, huy hoàng như một quyền năng. Quyền năng đó đã định hình vĩnh cửu trong tâm
hồn Bùi những hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh của ràng buộc không rời. Những,
Thơ có còn chảy dưới chân em /
Từng ngón chân em dẫm cỏ mềm / Có gửi ý niềm cùng cỏ
mượt / Nhìn về sim thắm ở đồi xa.
Ngôn ngữ Bùi, kết quả ưu thắng của một hồn thơ, rút cuộc, cũng là đầu mối
của bao ngộ nhận và đánh giá nghiệt ngã. Ngôn ngữ ấy, dẫu làm người đọc ngạc
nhiên, bối rối, sững sờ vẫn nên xem là bằng chứng sự bất lực trong việc giãi
bày, thể hiện, ngoại trừ thơ mà khả năng của nó cứu vãn trong muôn một. Nhiều
lần ta thấy Bùi thí nghiệm trên những loại văn xuôi, nhưng rõ rệt vẫn chỉ là
những bài tập phóng túng đơn thuần. “
Ngôn ngữ là lời, hỡi ôi! bởi đâu mà
tái tạo cõi ? Âm thanh là tiếng, hỡi
ôi ! bởi đâu mà tái lập con đường?
Con đường dẫn tới nơi nào, hỡi ôi! bởi đâu mà thành ra chốn ? Chốn nọ vì sao, hỡi ôi ! mà bỗng dưng nhiếp dẫn lối đi về
cho tồn lưu phiêu bồng tự chân trời ngẫu nhiên bước vào trong lưu trú ? Lưu trú là gì, hỡi ôi ! bởi
đâu mà biến làm trong cõi sương tuyết có trăm năm ? Trăm năm là gì, hỡi ôi !
bởi đâu mà biến làm vạn thuở ? Vạn thuở ở lại trong phút giây sau phút, hỡi ôi
! bởi đâu mà đam mê ? Đam mê quay cuồng trong gắn bó, hỡi ơi ! bởi đâu mà thân
thiết rằng trăm năm cũng từ đây ? Từ
đây không xê dịch bao giờ, hỡi ôi ! bởi đâu mà bỗng chốc bỏ ra đi...” ( Rằng Từ
Ngẫu Nhĩ (II), Giữ thơmq quê mẹ, tập
2, tháng 8-1965, tr. 63).
Rốt cuộc chỉ có thơ. Thơ phản ảnh trung thực một trạng
thái tinh thần đồng vị với sự gãy đổ trầm trọng trong nhiên giới của Bùi. Ngôn
ngữ phải gánh vác sự mất quân bình và từ đây hình thành thế giới thơ Bùi không
chỉ về mặt hình thức. Nhân danh thơ, ngôn ngữ của Bùi đã có yếu tính của một
thứ ma thuật, buộc người ta phải bỏ lại, quên đi cái minh triết của ngôn ngữ
đời thường. Một thứ cháo lú khiến những người làm quen với thơ Bùi dễ dàng buông
xả những luật tắc của ngôn ngữ, của ngữ nghĩa, khi mà dưới mắt người đọc, những
hàng chữ sau chỉ là biểu thị những chấn động khuynh đảo thần trí, là tiếng nói
lăng nhăng vô nghĩa thay cho chữ viết của kẻ lạc thần tự mình đi vào cơn say
dài dặc. “ Hốt xuất hồng hiên sương tuyệt
cái / Sai kình cưỡng mạch lục tồ lam “ ( bđd. tr.61).
Nhưng, ngôn ngữ còn sót lại trong cơn đảo điên thần trí là ngôn ngữ nhập
thần sau cái rùng mình bỏ lại dấu vết những cái sa đà.Thơ không là thế giới
riêng duy nhất của Bùi nhưng là thế giới mà ngôn ngữ hiển lộng một cách”thịnh
phồn” mà người làm thơ có thể đạt tới. Văn xuôi, chốn mà Bùi đã đặt chân với sự thỏa hiệp phóng túng một
cách không ngờ cũng là địa bàn tung hoành của ngôn ngữ đặc thù. Nơi mà Bùi có
thể rộng tay gieo rắc “ngôn ngữ” như sai khiến âm binh, lấy lời thay cho chữ. Đến mức có người nghĩ rằng : “Tất cả để chỉ thể hiện một Bùi Giáng nói chứ không phải là viết. Bởi vì đạt đến trình
độ của một tác giả (cái chữ tác giả ở đây coi bộ cũng không đủ, không đúng,
không xứng !) như Bùi Giáng thì có thể nói là sự nói đã đi nhanh và cần thiết
hơn sự viết. Mà hễ đã nói thì nói đủ chuyện, đủ cách, đủ mọi hình thức.” ( Khởi hành, Tuyển Tập mùa Xuân Nhâm Tý 1972, tháng 1.1972, tr.33).
Như thế, nói cũng là cách để xem
văn của Bùi là sự ruồng rẫy mọi ràng buộc của thể văn. Cái bóng ma khoa học rập rình, từ đó len lỏi vào mọi cõi tồn sinh lĩnh
vực của con người. (Rằng Từ Ngẫu Nhĩ, sđd. tr. 61).
Văn Bùi gần gũi cơn tiêu trầm của thần trí, và tiêu thổ đăm chiêu, bộc lộ
phần tiềm thức bấy lâu chìm sâu trong thói quen của người cầm bút.
Chỉ khi nói lên bằng chữ viết, Bùi mới có cơ hội trình bày quan điểm về
thơ, về công việc của người thi sĩ. Và dường như đó cũng là điều nhà thơ đã tận
tụy cống hiến cho đời. “ ...thi sĩ thiên
tài là cái kẻ tái tạo trong thanh âm, thiết lập thịnh triều trong ngôn ngữ”
(Rằng Từ Ngẫu Nhĩ, sđd. tr. 62). Theo
thi sĩ, tài thơ quy tụ vào việc sáng tạo không khí của âm điệu và thể hiện sự
phong phú bóng bẩy của ngôn ngữ. Dù hiểu theo nghĩa nào, đây cũng là con đường
tìm đến thơ Bùi bằng chính sơ đồ do nhà thơ vạch sẵn. Âm điệu, ngôn ngữ là hai thành tố trong thơ Bùi, ngoài ra chẳng
cần tìm kiếm gì khác. Âm điệu là bầu khí để ngôn
ngữ được phát huy thêm diệu vợi. Phần còn lại là ngôn ngữ mà người làm thơ được
trông đợi làm nên kỳ tích. Có thể quan niệm như trên, ngôn ngữ Bùi sử dụng đã hình
thành một ma trận không lường, có đủ hình thức biến ảo nằm ngoài quy luật
thường thấy trong thơ hay văn. Ngôn ngữ trở thành phương tiện để nhận diện văn
thơ Bùi, đối lại, khiến Bùi có mặt giữa đời như một tác nhân gây nên một trật
tự mới cho văn thơ, hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất.
Như thế, đọc thơ (văn) Bùi là tham dự vào việc xây dựng những thành tố mới
cho ngôn ngữ thơ (văn) và bằng những thử thách gan dạ nhất. Bằng sự sắp xếp lại
ngôn ngữ dưới ảnh hưởng của sự dao động thần trí khó giải thích, Bùi đã lập
thành một cõi văn chương kỳ dị không kém cơn mê sảng của người say. Ngôn ngữ bị
xô đẩy miên man trong nỗi thảng thốt trước một sự thật không lý giải được vì
người trong cuộc khước từ sự can thiệp lý tính và chấp nhận mãnh lực của tiềm
thức. Tiềm thức làm nên trong khí hậu thơ lục bát và đạt tới điểm trùng lặp
trong truyện Kiều . “ Không biết. Thưa
rằng không biết. Câu chuyện Gia Tĩnh chạy lộn chiều, gặp đủ thứ gió rừng trận nổi
cơn ở một chân trời không khí. Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ. Đem cầm kỳ đổi
ra kỳ cuộc. Đem kỳ cuộc đổi ra vạn lý hà sơn. Đem vạn lý hà sơn đổi làm nhân
sinh nhứt giác mộng. Đem nhứt giác mộng đổi làm đoạn trường. Đem đoạn trường
tấu lại tân thanh. Đem tân thanh xô vào bạc mệnh. Đem bạc mệnh gán vào hồng
nhan. Đem hồng nhan ghép cho kỹ nữ. Đem kỹ nữ tôn lên ngai vàng. Biến Nữ Vương
thành Hoàng Hậu. Đổi Hoàng Hậu làm Hoàng Thiên Thu. Hoàng Thiên Thu bỗng đo ra
vạn đại.” (Rằng Từ Ngẫu Nhĩ, sđd. tr. 68).
Theo quán tính, văn (thơ) Bùi phải
trải qua sự dằng co giữa lý tính và cảm tính, trải qua sự xung đột trong ngữ
nghĩa, trước khi đạt được sự dàn xếp nào đó giữa người đọc. Trường hợp Bùi
không phải là trường hợp đầu tiên và duy nhất dành cho người cầm bút. Thơ (văn)
Bùi ở ngã ba tư tưởng nên người đứng tại ngã ba luôn tưởng rằng thơ (văn) Bùi ở
vị trí như họ nghĩ. Có lúc thơ Bùi là sự kết hợp ngôn ngữ không kể khác biệt.
Không mới lạ nhưng nói lên xu hướng biểu thị sự giao thoa giữa những ý thơ đến
tự muôn ngả. Cách phối hợp trong văn chương có vẻ thô sơ như thế chỉ nói lên
một điều, là tâm hồn Bùi dung dị, đơn sơ như những đối tượng mà Bùi thường so
sánh: chuồn chuồn, châu chấu, gái mọi...
“ Herbes et roseraises natales !
Ungedachte ! vous avez peur
Des Entrées nocturnes fatales
Cái điều bạc mệnh...tel est le
coeur
Ngại ngùng dín gió e sương
Liễu yêu bài động như dường đã phai
Ngừng hoa bóng thẹn mặt dày
Phong tình vạn chủng cuối mày sắp
tan
Lệ lên đầu mắt một hàng
Ainsi commencent les grands
malheurs “
(Rằng Từ Ngẫu Nhĩ (II), sđd. tr. 67).
Nhưng cho dầu cách phối hợp trên chỉ có giá trị một gợi ý. Điểm then chốt
làm nên tài thơ là sự sáng tạo và mức độ đạt được ra sao tương tự trường hợp
các người làm thơ thành công khác.
Sự thành công, ít ra về mặt biểu kiến, trong trường hợp Bùi Giáng là tính chất đặc thù của một hồn
thơ mà kết quả nhìn nhận nằm trong một tiến trình thẩm mỹ khá lâu dài.
Xuất hiện vào giai đoạn cuối cuộc xung đột Việt-Pháp nhưng hào quang của
những nỗ lực tranh giành vẫn còn ít nhiều tia sáng. Bùi Giáng đã tỏ ra có thái
độ phải chăng hơn thái độ chung của phần lớn thế hệ nhà thơ khi tìm ra cho mình
một thái độ minh triết trước thời cuộc và trong sự xô đẩy mạnh mẽ của ngọn
triều “ý thức quần chúng”. Giữa xu hướng cổ xúy phục vụ cho nhiệm vụ chung,
điển hình là nhóm chủ trương tủ sách Chân
trời mới tại Sài gòn, Bùi Giáng đã có cái tỉnh táo khác thường của con
người chân thực, bảo vệ cho quan điểm sống và cho cả quan niệm sáng tác của
người nghệ sĩ. “ Giữa sóng đời vồ
vập,đừng đánh lạc mất tấm lòng mình.” (Bùi Giáng, Nhân đọc Rừng Phong, Thẩm mỹ, Sài gòn, 1954, in lại trong Văn, Sài gòn, số 150, 15.3.1970). Bênh
vực cái nhìn xa lánh thế sự của Vũ Hoàng Chương như là sự lắng lòng để thương
đời truân chuyên, Bùi Giáng, thực sự, đã tự biện hộ cho xu hướng sáng tác cho
chính mình trong viễn ảnh sự bênh vực cho cái nhìn độc lập trong sáng tác. Bùi
trong tâm thức rỡ ràng của người nhìn thấu hoàn cảnh khác nhau của người cầm
bút, của người nghệ sĩ trong nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm phức tạp, đã
minh nhiên giữ vững lòng tin về một quan niệm viết phù hợp với con người. “ Chương (Vũ Hoàng) sống đời cô độc, để lắng
rõ lòng mình, gửi lại cho đời lời kêu tha thiết, chịu đứng lại giữa bóng tối để
rọi đường cho thế hệ tiến lên. Vấn đề chỉ là biết thu nhận bài học hay không.”
(Bùi Giáng, bđd. tr. 52).
Như thế, chủ trương cầm bút của họ Bùi đã có một cách độc lập không do hoàn
cảnh thúc đẩy
Quan điểm ấy càng tỏ rõ trong giai đoạn sáng tác sau năm 1954, khi mà hoàn
cảnh đã đổi khác, ý thức của người cầm bút dần dần thành hình rõ rệt, cũng như
sự đề kháng áp lực tự bên ngoài đã nẩy
nở trong vô thức. Trước sau gìn giữ cho mình một quan niệm độc lập về sáng tác
bên cạnh những biến cố đổi dời, tâm hồn Bùi không dễ dàng bị khích động như thế
nhân trước những manh động thời thế.
Các nhà làm văn học sử cố tìm kiếm
nguyên nhân đích thực dẫn đến sự thay đổi bút pháp của Bùi hầu xác định những
giai đoạn làm nên một cuộc đời thơ. Nhưng, đọc thơ Bùi người ta rõ rệt nhận ra
hơi thơ một mạch của cảm hứng và tứ thơ. Tình yêu với người yêu và với thiên
nhiên hòa quyện trong thơ Bùi một cách đằm thắm, nhẹ nhàng mà tha thiết như
sương mai nghĩa là tinh khôi và trong suốt tự ban đầu. Đến khi trắc trở nghĩa
là khi gặp mấy biến cố tinh thần và tình cảm dồn dập mà người viết sử cho văn
chương thường xem là sự khánh tận toàn diện của Bùi. Cái chết đột ngột của
người vợ trẻ và vụ cháy nhà thiêu rụi hầu hết gia tài tinh thần gồm bản thảo và
sách quý đã là nguyên nhân rõ rệt đẩy Bùi vào sự tuyệt thông với thế giới bên
ngoài, đồng thời khiến Bùi giao tiếp với văn chương qua ngả đặc biệt mà rõ rệt
nhất là tạo nên sự khúc xạ trong cái nhìn nơi người đọc.
Nội dung của cảm hứng và tứ thơ vẫn như xưa. Cái đổi khác hầu như chỉ ở
ngôn ngữ và cách diễn đạt mang dấu vết cuộc xung đột mãnh liệt giữa vô thức và
ý thức, giữa tiềm thức và nhận thức.
Như thế, thế giới thơ Bùi chỉ thực sự hình thành và như cơn hậu chấn của
hồn thơ chỉ xảy ra sau biến cố liên quan đến tinh thần và tình cảm. Sau biến cố
này, thơ Bùi tưởng như rùng mình, thoát hình, bỏ lại cái xác quen thuộc của
ngôn ngữ, và như một cách hóa thân trong một trạng thái kỳ dị cùng cơn phóng
túng của thần trí. Bùi đã tiến đến một thế giới mới, nửa như hồn nhiên, không
vướng bận điều gì, thênh thang với mây ngàn, nội cỏ. Ngôn ngữ là lúc được mùa,
như đồng cỏ sau mưa, như hồn sa mạc phát
tiết mưa ra ngoài.
Thơ trước biến cố trở thành một thứ tiền thân của ngôn ngữ Bùi. Nó nằm
trong khuôn phép và dường như không có dấu hiệu rõ rệt cho phép một sự đột biến hay khúc quanh ngoại trừ sự
nhiệt thành với đời được diễn tả một cách khác thường
tôi đã nguyện yêu trần gian trọn
vẹn
hết tâm hồn và hết cả da xương
(Phụng Hiến)
Biến cố đã lấy đi của Bùi cái dè dặt của người tỉnh nhưng không giành lấy
từ Bùi cái hồn nhiên rất mực của một tâm hồn trong suốt như sương sa. Dấu sơ nguyên rộng mây trèo cửa thu. (Sa
mạc phát tiết). Ngôn ngữ mới của Bùi không xuất phát từ gọt rũa thôi sao, hay
kết quả sự tinh luyện của ý thức mà trái lại. Ngôn ngữ Bùi là sự phối hợp dị kỳ
trong cơn bồng bềnh của thần thức. Màu tinh khôi của ngôn ngữ chính là vẻ sơ
khai của chữ nghĩa mới ra khỏi đầu môi như chính bản ngã của Bùi
xin chào giữ bước chân ra
chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn
ngậm ngùi gió nội lang thang
vân mồng rớt hột cung đàn phím se
(Xin Chào)
Chữ chưa kịp hội ý đã vội thành thơ. Lời chưa kịp chào đã vội rời bước để
lại trăm ngàn ngơ ngác cho người nhận.
Qua thi ca, ngôn ngữ (chữ nghĩa) nơi Bùi Giáng, trở thành thứ sản phẩm nửa
vời nghĩa là cần sự hợp tác (dù là bất đắc dĩ ) của người tiếp nhận.
Cao Huy Khanh có thể là người thứ nhất đặt vấn đề Bất Khả Tư Nghị trong
trường hợp họ Bùi,
khi thi nhân sử dụng “thứ ngôn ngữ dùng để nói lên những điều mà
không thể nói được” và từ đó “thành
lập thịnh triều của ngôn ngữ vô thanh vô túc trong nếp gấp Bất khả tư nghị của
vô ngôn.” (Bùi Giáng Cải Lương Ca
(II), Khởi hành, số 79,
12.11.1970). (*)
(*) Bùi Giáng, Cải Lương Ca là
tiểu luận phong phú hơn cả viết bằng ngôn ngữ đặc thù tương tự văn phong Bùi
Giáng.Tiểu luận trên của Cao Huy Khanh được đăng tải 2 kỳ liên tiếp trên tuần
báo Khởi Hành, số 78 ngày 5.11.1970 và số 79, ngày 12.11. 1970. Số 78 gồm các tiểu mục: Phố Thị, Gái Chiêm
Bao và Đười Ươi (tr. tr. 8.9.15.) Số 79 gồm các tiểu mục: Bất Khả Tư Nghị, Tại
Hạ, Tái Bút (tr. 6.7.10).
Phần được đăng tải trên giai phẩm Văn
(ra ngày 18.5.1973, tr. tr 54-65) dưới nhan đề Bùi Giáng, Cải Lương Ca chỉ gồm nội dung của bài được đăng tải
trong Khởi Hành, số 78 với 3 tiểu mục
nói trên, khác với chú thích dưới bài của tạp chí Văn.
------------------------------------------------------------------------------
Trần Mạnh Toàn.