Thursday, April 18, 2019

Hành Trình Một Đời Người / BÙI BÍCH HÀ


Tôi đọc Nguyễn Đình Toàn ngay từ tập truyện đầu tay của ông: Chị Em Hải, 1961, thời còn cắp sách đến trường, hồn cũng như lòng còn rất tinh khôi. Thời gian trôi qua đã lâu, tôi không nhớ nội dung truyện nhưng tôi không quên không khí truyện. Thật đẹp. Thật dịu dàng. Thật ấm áp. Như một thứ nhan sắc chỉ gặp một lần là ghi nhớ mãi. Tôi biết ơn sự may mắn trong vài giây cuối cùng này vì chỉ chưa đầy một năm ngắn ngủi sau đó, tôi bước vào cuộc hôn nhân đầy bão tố. Từ đây, sách, truyện, báo chí, với tôi, trở thành cấm địa. Tôi như con cá ngáp trong bồn nước thiếu dưỡng khí. Là người, tôi đã sống nhờ hồi tưởng.

Cuối thập niên 90, tôi vui mừng nghe tin ông cùng gia đình tới Mỹ, định cư ở quận Cam sau 23 năm kẹt lại Saigon, trong đó có hơn mười năm tù đày dưới chế độ mới. Tôi cũng nghe tin ông bế môn tạ khách, sống bình lặng theo ý riêng nên nghĩ thầm hẳn là rất khó để được diện kiến ông. Đầu thập niên 2000,  một thân hữu giúp ông ra mắt CD đầu tiên ở hải ngoại: Hiên Cúc Vàng, tại vũ trường Majestic, thu hút một lượng khán thính giả đông vượt bực chưa bao giờ ngừng hâm mộ ông, trong đó có tôi và bạn bè tôi. Quả nhiên, ông không xuất hiện. Tôi đoán là ông chưa sẵn sàng cho một môi trường thù tạc mà ông xa lánh đã quá lâu.

Mãi sau này, khi ông chuẩn bị gửi ra độc giả bộ Bông Hồng Tạ Ơn gồm hai cuốn (2006/2012) và tôi bất ngờ được hân hạnh ông cho phép bày tỏ đôi chút cảm nghĩ của mình nhân dịp này, tôi mới thực sự biết ông trong đời thường. Hiền thê của ông, bà Thu Hồng, đi bên ông như bóng với hình. Bà có khuôn mặt trái soan, đôi mắt bồ câu long lanh và làn môi như đóa hồng hàm tiếu. Lần đầu gặp nhau, vẻ hồn nhiên và nụ cười thật tươi trên môi bà lập tức cho tôi sự yên tâm và cả cái tình ấm áp, dịu dàng của Chị Em Hải ngày nào. Chúng tôi chuyện trò râm ran bên tách cà phê tối và tôi nhận được tấm hình lồng khung rất lịch sự, chụp trong buổi giới thiệu Bông Hồng Tạ Ơn để làm kỷ niệm.

Nhiều năm sau này, biết tin bà mắc bệnh quên lãng, không còn lái xe nữa, tôi hay theo Nhã Lan, thỉnh thoảng có thêm một bạn văn từ xa về, đến thăm ông bà tại căn chung cư tọa lạc trong  một khu yên tĩnh thuộc thị xã Westminster.  Dù tiến triển chậm so với các trường hợp tương tự, bà ngày một mất dần khả năng tự chủ của một người trưởng thành và trở lại như trẻ thơ. Lần mới nhất chúng tôi đến thăm ông bà, bà vui cười, cung hai nắm tay dứ dứ về phía tôi như trẻ con vẫn dọa nhau, khiến ông khẽ lắc đầu và cũng cười theo cùng với lời giải thích bao dung và hiền hậu: “Có biết gì nữa đâu? Cứ như con nít vậy thôi!” 

Trong căn nhà nhỏ ở xứ người với bàn ghế, đồ đạc cũ kỹ, đủ cho sinh hoạt hàng ngày của ông bà, họ có một thế giới thu hẹp từ những khoảng không gian bao la thuở xưa chứa đầy kỷ vật: hình ảnh, CD, sách, tài liệu văn học, nhiều tập nhạc thủ bút của tác giả chưa vội gửi ra. Có cái gì ở đây làm tôi liên tưởng tới Căn Nhà Xưa của họ, với những “sớm mai nằm nghe nắng giòn trên mái, có giếng nước soi trời trong, có gió mát đêm bình yên, có những tháng năm buồn tênh, khốn khó quyết nuôi tình duyên đã trốn thoát qua nhiều phen.” Chỉ thiếu khu vườn cải và những liếp hoa vàng.
Ở ông giờ đây, tôi thấy trong ánh mắt luôn thấp thoáng nét cười Một Ngày Sau Chiến Tranh không còn chỗ cho máu đổ xương rơi, cho người đầy đọa người, cho oán thù hay căm phẫn dầy xéo lương tâm nhau mà chỉ còn hòa bình và yêu thương, bắt đầu từ nội tâm mình. Ở ông, tiếng cười ngắn, chân thực, tận lực, đã cất giùm người đối diện nỗi đau trong lòng họ, đã cho họ sự khôn ngoan của chiếc lá mềm đánh đổi màu xanh sẽ úa vàng lấy hương nồng thơm mãi đến ngàn sau.

Bạo lực bỏ tù văn chương của ông, ông buông bút. Bởi vì khi cần, bút trở thành vũ khí. Ông không chỉ có một con đường hãm hại hay phục thù. Ông có nhiều sinh lộ. Ông chọn cầm đàn. Âm nhạc không tàn sát ai cả mà hát lên sự khốn cùng của đời sống không niềm tin, không tình yêu.
“...Hãy thắp cho anh một ngọn đèn Dù tình đời mong manh Lòng chẳng còn trông mong gì nữa Hãy thắp cho anh một ngọn đèn Để một mình trong đêm Anh tưởng nhìn ra em còn hơn. Cố thắp cho em một ngọn đèn Bằng lửa sầu tim anh Một ngọn đèn lênh đênh ngày tháng Cố thắp cho em một ngọn đèn Dù mệt nhoài trông ngóng Để nhủ lòng gắng nuôi niềm tin Cố thắp cho em một ngọn đèn Bằng nhọc nhằn cay đắng Bằng hình hài rã trong trại giam Cố thắp cho em một ngọn đèn Dù lửa tàn trong anh Không còn đủ khêu thêm đèn sáng Cố thắp cho em một ngọn đèn Để dù trong xa vắng Em còn được cháy trong lòng anh...”

Có một thời, tôi đã mồi lửa từ ngọn đèn hiu hắt nhưng không chịu tắt của Nguyễn Đình Toàn để thắp lên ngọn đèn cạn dầu trong tôi những ngày lênh đênh quê nhà, quê người, nên tôi biết ơn ông. Ông có tài năng đã đành nhưng lớn lao hơn cả tài năng, ông có trái tim mẫn cảm chan hòa thiện ý. Ông biết buông bỏ để thu nạp nhiều hơn và đem trang trải cùng thiên hạ. Những gì ông nói ra, viết xuống, hát lên là của riêng ông, không thể lầm lẫn với ai, không vay mượn ai kể cả cuộc đời ông từng đi qua với niềm đam mê cháy lòng và những khao khát yêu thương đến vô biên.

Nhắc đến ông, một người bạn lâu năm của tôi ở xứ sương mù, giá rét, quanh năm mùa đông, đã nói những lời thiết tha như sau: “Phải nhận là chúng ta đã quá may mắn để được sống cùng thời với Nguyễn Đình Toàn. Ngôn ngữ của ông sang trọng, tinh tuyền, đẹp đến nỗi không la đà cùng khung nhạc mà bay bổng, mà lan tỏa, mà thấm vào những tầng cảm xúc sâu thẳm nhất trong tôi...”Ngày thần tiên em bước lên ngôi...” Cảm ơn ông về một quãng đời xa hoa, lộng lẫy, nhìn đâu cũng thấy tình ca.”

Ông đã đi gần hết cuộc hành trình một đời người trên địa cầu, qua nhiều hạnh phúc và khổ đau, qua nhiều vinh quang và nhọc nhằn, giờ đây“mộng ước đã xa xôi, theo giòng đời trôi,” ông không giữ lại gì cho ông, trong những bước chân chiều chầm chậm đi dưới những tàu chuối tả tơi trong khu vườn nơi ông ở nhưng tôi tin rằng mỗi người biết ông đã giữ giùm ông một chút gì ông tạo ra và để lại. Mỗi người biết ông sẽ còn buồn vui cùng ông bằng nước mắt, bằng tiếng cười vượt qua mọi tang thương nghiệt ngã với một trái tim trong trẻo và một tâm hồn cao thượng. Sẽ không ngồi trong bóng đêm nguyền rủa tối tăm mà “Cố thắp lên một ngọn đèn” để xua đuổi tối tăm, để hồi sinh những bông hoa nở trên huyệt mộ và những mảnh đời ngỡ đã chôn sâu
                                                      

 Có tay nào che nổi trời mưa
Cho vai đừng ướt nặng
 
Hãy nói với đêm khuya
Một lời nói nhỏ
Tình là chi mà nhiều khi chôn được ở lòng ta 
Tình là chi mà nhiều khi chôn lại nở thành hoa.”


Gặp ông nhiều lần nhưng chưa lần nào tôi nhớ hỏi ông lý do nào ông kẹt lại Saigon hơn hai mươi năm? Bây giờ tôi sẽ không hỏi nữa mà nghĩ rằng những người hâm mộ ông, yêu thơ nhạc của ông, đã mắc nợ ông món nợ đau thương to lớn ấy bởi vì người nghệ sĩ không gánh vác khổ đau riêng mình mà gánh vác cả tội lỗi lịch sử thời đại mình khi sống thay cho đồng loại. Ôi, một ngày sau chiến tranh ở miền nam vừa đổi chủ, càng có nhiều hơn những xác người vật vờ đi trong thành phố, trên các cánh đồng khô nhà nông không còn cấy mạ, ruộng không còn thấy lúa màu xanh, người dân đốt đèn thả trôi trên sông không để cầu nguyện cho linh hồn kẻ đã khuất mà cho những phận người đang sống trầm luân. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn Một ngọn đèn trăm năm Rồi thả đèn trôi trên dòng sông Như tháng giêng trong đêm nguyệt rằm Người thả đèn trôi sông Cầu nguyện cho những ai trầm luân...”

Bên ngoài con đường vắng vẻ đưa vào căn hộ biệt lập nơi ông và gia đình cư ngụ suốt hai thập niên qua, dòng sống hối hả, xô bồ, nhộn nhịp của nước Mỹ vẫn tiếp diễn như một dòng cuồng lưu, nuốt trọn thời gian tranh sống của mỗi cá nhân. Bao nhiêu người như kẻ viết bài này, hàng ngày ngược xuôi trên các con lộ xe cộ như mắc cửi, vẫn còn thấy mình tay trắng vật vã đi tìm những điều nghĩ là cần thiết nhưng thật ra có ý vị gì đâu nếu đã không được lớn lên, cũng hai mươi năm, dưới hai chế độ cộng hòa đã đóng góp cho đất nước, ngoài máu xương bảo vệ tự do, một nền văn học nghệ thuật rực rỡ đề cao các giá trị nhân bản, để chúng ta hãnh diện mang theo làm chính nghĩa khi bỏ nước ra đi vì các giá trị cao quý ấy bị cưỡng đoạt và triệt hạ.

Chiều hôm nay trong khi lướt mạng, tôi tình cờ đọc được một câu trích dẫn của Tryon Edwards, nhà thần học người Mỹ nổi tiếng với các bộ sưu tập lời hay/ ý đẹp, nói về bài học từ một chiếc lá vàng, đối với tôi thật có ý nghĩa vào lúc này: “Do your work well and then be ready to depart when God shall call.” (Hãy sống hết sức mình rồi sẵn sàng lìa cành khi Thượng Đế gọi.) Có lẽ nó giải thích cho tôi và nhiều người nữa, thắc mắc không hiểu tác giả Nguyễn Đình Toàn ngụ ý gì khi ông hạ bút viết lời cho bản nhạc Anh Đến Thăm Em Đêm Ba Mươi của Vũ Thành An, có câu: “Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em?” Ông có tự ví mình với chiếc lá vàng trong ngụ ngôn của Tryon Edwards không?

Viết về một nghệ sĩ lớn, có những cống hiến đáng kể về mặt nghệ thuật và nhân sinh qua một bài viết có giới hạn, chỉ xin được viết ở một góc độ nhỏ với những chia sẻ nhỏ vì rất khó để phác họa một chân dung đầy đủ về họ. Viết về nhà văn/nhà thơ và nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tôi thực sự không biết bắt đầu và kết thúc thế nào? Con đường ông đi trong vô thủy vô chung, những khoảnh khắc hiếm hoi gặp gỡ cũng xin còn mãi mãi lưu hương.  


BÙI BÍCH HÀ    
       
04/19/2019
Bài của chị Hà, đúng như là nhận xét của cac anh chị, đẹp và cảm động. Một bài tâm tình vừa có "tâm" vừa có "tình", được viết xuống bằng cảm xúc chân thực, chân tình.

Nghe nhạc của NĐT, nói thiệt, tôi ko thích như là đọc truyện và thơ của ông, nhưng vẫn muốn tìm nghe, vì ko còn đuợc đọc ông nữa, và vì chut hoài niệm, nói như chị Trùng Dương, như một khán giả "của nửa thế kỷ sau, tả tơi song cũng đang gắng thu dọn tâm hồn mình".

Thế giới văn chương của NĐT có một khí hậu riêng, thi vị, lại có chút gì ẩm ướt và lãng đãng như sương mù Đà lạt (ngay cả khi ông viết truyện cho tuổi mới lớn như truyện Giờ Ra Chơi).  
Văn ông thật ấm áp, thật dịu dàng, nói như chị Hà, và thật quyến rũ. Và giọng đọc của ông thì như vỗ về, như vuốt ve mơn trớn, cứ như là "thì thầm bên gối" hay "rót mật vào tai" vậy.  Đọc ông, có cảm giac ông có ~ giác quan thật tinh tế, bén nhạy, và như chị Hà nói, một "trái tim thật mẫn cảm". Lạ một điều, văn ông thật văn vẻ mà nguời đọc vẫn ko cảm thấy "tạo dáng" như là những ông bà nhà văn làm duyên làm dáng khác. 

Câu tôi thích nhất trong bài chị Hà là "mỗi người biết ông đã giữ giùm ông một chút gì ông tạo ra và để lại".  Phần tôi nếu có giữ lại được chút gì của ông, thì ko phải là ~ truyện, hay giọng văn giọng đọc quyến rũ của ông mà là một bài thơ, Khi Em Về.
Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu, cứ thế, rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che 
LH



Sunday, March 10, 2019

Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ


Bài “Một bài thơ Xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ” được đưa lên trang nhà Trần Từ Mai từ hơn hai năm trước (tháng 1/2017). Gần đây một vài thân hữu muốn đọc lại. TTM rất tiếc chưa có thời giờ làm Mục lục hoặc Index cho các bài viết, nên với người chưa quen với Internet, việc tìm lại một bài cũ quả có khó khăn. 
Xin đưa lại bài ấy về trang chính trong ít ngày, và xin thành thật cám ơn các thân hữu quan tâm đến văn học.
TTM






BÀI THƠ QUAN TRỌNG, ĐANG BỊ PHỔ BIẾN VỚI NHIỀU SAI LẦM
Trước đây ít hôm, người viết những dòng này nhận được một điện thư từ một người bạn ở Bắc California:
“Nhân Tết sắp đến, tôi tìm trên Net xem có bài thơ xuân nào hay và có ý nghĩa. Gặp bài thơ sau đây, thấy nói là của thi sĩ Đông Hồ. Tuy đề bài là “Mùa xuân Mậu Tuất 1958” nhưng lời thơ không có vẻ là thơ xuân. Có những câu tối nghĩa, không biết tác giả muốn nói gì. Có một chữ sai chính tả, tôi thử đoán nhưng không chắc đoán đúng. Nhờ anh giải thích hộ.”  Kèm theo điện thư là bài thơ:
         Mùa xuân Mậu Tuất 1958 
Tóc đen mắt nhánh mực nhung huyền
Mặt trắng lòng thơm giấy phấm tiên
Phận mỏng chẳng vương theo cánh gió
Nghĩa dòng khảo kết chặt tơ duyên
Soi nhờ ánh tuyết nền thành lạnh
Giấu kín doanh sơn nếp thánh hiền
Điệp tháng bốn phương mùa náo nức
Lần thơ xuân hóa bóng thuyền quyên.
                                       Đông Hồ
Ở cuối điện thư, ông bạn viết thêm: “Xin anh đặc biệt cắt nghĩa hộ những chữ: ‘giấy phấm tiên,’ ‘nghĩa dòng khảo kết,’ ‘doanh sơn,’ ‘điệp tháng bốn phương,’… và cả câu chót.” 
Tôi có cơ duyên được biết đến bài thơ ấy từ cuối năm 1957, khoảng một tháng trước Tết Mậu Tuất 1958. Người đưa cho tôi đọc là nhà văn, nhà giáo Nguyễn Văn Trung, một nhân sĩ của tỉnh Bạc Liêu (không phải giáo sư Triết học Nguyễn Văn Trung trước ở Huế, sau vào Sàigòn). Nhà giáo Nguyễn Văn Trung xuất thân dạy Tiểu học, sau nhờ tự học trở nên có kiến thức uyên bác, được Trung học công lập Bạc Liêu đề nghị và Bộ Quốc gia Giáo dục chấp thuận, mời lên dạy ở bậc Trung học. Khi tới Bạc Liêu năm 1957 tôi mới được 21 nhưng ông đã khoảng 40. Ông giỏi chữ Hán, nói được cả quan thoại, Quảng Đông, giỏi tiếng Pháp, khá tiếng Anh, đọc được chữ La tinh. Tại địa phương, ông được coi là một “nhà thông thái.” Ông cũng có một tủ sách rất phong phú, và thường gửi bài đăng trên nhiều tạp chí có uy tín ở Sàigòn. Khi làm thơ, viết văn, ông dùng bút hiệu Yã Hạc (thay cho Dã Hạc, con hạc nơi đồng nội). Từ khoảng 1958, khi dịch truyện Liêu Trai đăng trên tạp chí Bách Khoa, ông ký bút hiệu là Kiều Yiêu (thay cho Kiều Diêu). Ông cho biết cùng với nhà thơ Đông Hồ, các nhà văn Bình Nguyên Lộc, Nguiễn Ngu Í, ông chủ trương viết như thế vì miền Nam không có âm “d” như ngoài Bắc. Tôi cũng được nghe ông có giao tình thân với thi sĩ Đông Hồ (lúc ấy đã từ Hà Tiên lên Sàigòn, điều khiển nhà xuất bản Bốn Phương cùng Yiễm Yiễm thư trang, Yiễm Yiễm thư quán).
So với bài thơ tôi được nhà giáo Yã Hạc Nguyễn Văn Trung đưa cho đọc năm ấy thì bài thơ đang được phổ biến trên Net có nhiều chỗ chép sai khiến lời văn trở nên ngô nghê, một số câu biến dạng, hóa thành vô nghĩa. Chẳng hạn câu “Nghĩa dày khéo kết chặt tơ duyên” bị chép sai thành “Nghĩa dòng khảo kết …,” “Lầu thơ xuân khóa” bị chép thành “Lần thơ xuân hóa.” Quan trọng nhất là những câu có ý nghĩa rất hay của thi sĩ Đông Hồ, “Soi nhờ ánh tuyết nền thanh bạch” bị chép sai thành “Soi nhờ ánh tuyết nền thành lạnh.” Theo trí nhớ của tôi sau 60 năm, bài thơ tôi được đọc hồi ấy không có tiêu đề và gồm 8 câu sau:
Tóc đen, mắt nhánh mực nhung huyền
Mặt trắng, lòng thơm giấy phẩm tiên
Phận mỏng chẳng nương theo cánh gió
Nghĩa dày khéo kết chặt tơ duyên
Soi nhờ ánh tuyết nền thanh bạch
Giấu kín danh sơn nếp thánh hiền
“Thập thúy tầm phương” mùa náo nức
Lầu thơ xuân khóa bóng thuyền quyên.
Trước khi gửi bài thơ còn giữ được trong trí nhớ cùng ít lời giải thích tới ông bạn, tôi viết hỏi ông ấy xem ông tìm thấy từ đâu bài thơ đã vừa gửi cho tôi. Ông trả lời: “Trong một số websites dưới đề mục ‘Thơ xuân’,” và cho tôi địa chỉ của những websites ấy:
Lướt qua các websites do ông bạn chuyển cho, tôi giật mình nhận thấy chuyện sai lầm ở mức khá nghiêm trọng. Gần một chục websites cùng chép bài thơ của thi sĩ Đông Hồ với những lầm lẫn rất đáng kể như thế, với một số chỗ sai giống nhau (điều ấy cho thấy cũng có thể các vị đã chỉ chép lại của nhau). Riêng với câu cuối, một số websites chép là:
                                    Lần thơ xuân lhóa bóng thuyền quyên
Đây là một lỗi chính tả, không quan trọng lắm, nhưng tôi không rõ những vị đưa bài thơ lên Net đã hiểu chữ “lhóa” theo nghĩa như thế nào.
Tôi cũng nhận thức được rằng khi rất nhiều websites cùng chép sai như thế, nếu chỉ đưa ra một bản khác và nói, “Đây là bài thơ theo trí nhớ của tôi,” thì bản ấy không đủ sức thuyết phục. Sau 60 năm, ký ức của tôi chắc gì còn đáng tin? Tôi nhờ một số bạn thân cùng để ý tìm kiếm trên Net và trong một số rất ít ỏi những sách báo của miền Nam trước 1975 các vị đã may mắn thu góp lại được, nhưng cũng biết hi vọng rất mong manh. Chúng tôi cũng đã tìm trong một số thi tập của nhà thơ Đông Hồ mấy người bạn tôi may mắn có lại được như Trinh trắng (xuất bản năm 1961), Bội lan hành (in năm 1969), nhưng đều không thấy.
Trong những bộ tuyển tập thơ của miền Nam in trước năm 1975 như Thi ca Việt Nam hiện đại của Trần Tuấn Kiệt, Thi nhân Việt Nam hiện đại của Phạm Thanh … cũng không có bài thơ ấy. Trong những sưu tập về thơ miền Nam trước 1975, mới thực hiện ở ngoài nước gần đây như bộ Thơ miền Nam (gồm 5 tập với gần 4000 trang) của Thư Ấn Quán do nhà văn Trần Hoài Thư thực hiện, và trong bộ tổng tập Văn học miền Nam của nhà văn Võ Phiến, cũng không thấy.
Đã tưởng “hết hi vọng,” tôi nhận được từ một người bạn:






































































Tôi mừng hơn bắt được vàng. Đây chính là bản thủ bút của thi sĩ Đông Hồ cho bài thơ ấy, bản thủ bút nhà văn, nhà giáo Yã Hạc Nguyễn Văn Trung đã có nhã ý đưa tôi đọc 60 năm trước đây.
Chị bạn tìm ra bản thủ bút cho biết chị phát hiện được từ một sưu tập tạp chí Bách Khoa, sau khi đọc rất kỹ mục lục từng số Bách Khoa từ số đầu tiên trở đi. Sưu tập này chúng tôi may mắn có được do sáng kiến của chị, một Quản thủ thư viện lỗi lạc và tận tâm, cùng những thiện cảm mà một anh bạn chung của chúng tôi, người chủ biên một tạp chí điện tử có uy tín ở ngoài nước, đã gây được nơi một số độc giả mến mộ ở trong nước. Chị cho biết tìm thấy bản thủ bút ấy trong bài “Những cánh thiếp Tết” của nhà thơ Đông Hồ, in từ trang 41 đến trang 50 của Bách Khoa số đặc biệt kỷ niệm Đệ Nhị chu niên, cũng là số 49, ra ngày 15-1-1959. Bài thơ thủ bút này được in ở trang 49.
So sánh lại, bài thơ thủ bút này y hệt bài thơ tôi chép ra phía trên. Các websites tôi vừa liệt kê đang góp phần phổ biến bài thơ của thi sĩ Đông Hồ một cách sai lầm.
Xin được trình bày ý nghĩa bài thơ ấy theo sự hiểu biết của tôi trong mấy trang sau. Ý nghĩa này tôi có được sau khi bàn bạc với nhà giáo Yã Hạc Nguyễn Văn Trung ở Bạc Liêu cuối năm 1957. Như trên đã nói, anh là một trong những người bạn có giao tình thân với thi sĩ Đông Hồ.
Ý NGHĨA KHÁI QUÁT CỦA BÀI THƠ
Theo giáo sư Yã Hạc Nguyễn Văn Trung, bài thơ có thể được hiểu là lời của một thiếu nữ, nhưng cũng có thể được hiểu là lời của một cuốn sách, được nhân cách hóa theo phái nữ (thi sĩ Đông Hồ thường dùng từ “nàng Sách”). Cố tình “nói nước đôi” để người đọc có thể hiểu theo hai cách, chính là dụng ý của nhà thơ Đông Hồ.
Dễ nhận thấy hơn là lời của một thiếu nữ. Trong hai câu 1-2, cô nói qua về nhan sắc và phẩm cách (tóc đen, mặt trắng, mắt đen nhánh như mực, như nhung, có tâm hồn thanh cao):
Tóc đen, mắt nhánh mực nhung huyền
Mặt trắng, lòng thơm giấy phẩm tiên.
(Giấy phẩm tiên là một loại giấy quý, có hương thơm. Chữ “tiên” ở đây có nghĩa là “giấy,” như trong câu thơ của Nguyễn Du, “Tiên thề cùng thảo một chương”)
Trong hai câu 3-4, cô cho biết vốn khiêm nhượng, không mơ những chuyện trăng gió. Nặng tình nghĩa, cô mong những kết hợp lâu dài:
Phận mỏng chẳng nương theo cánh gió
Nghĩa dày khéo kết chặt tơ duyên.
Trong hai câu 5-6, cô cho thấy rất ham học, ham đọc trong hoàn cảnh gia đình thanh bạch. Cô cũng cho biết thuộc một gia đình có danh giá, trọng kiến thức, đạo nghĩa, không thích phô trương:
Soi nhờ ánh tuyết nền thanh bạch
Dấu kín danh sơn nếp thánh hiền
(“Soi nhờ ánh tuyết” là một thành ngữ, lấy sự tích một người học trò nghèo không có tiền mua dầu để thắp đèn thời xưa, nhờ ánh sáng được phản chiếu trên tuyết để đọc sách. “Danh sơn” là “ngọn núi có danh tiếng,” không phải “doanh sơn” như đang bị phổ biến sai).
Trong hai câu kết, cô muốn nói: Xuân đến, mọi người nô nức đi chơi xuân, riêng cô vẫn cô đơn, “khóa xuân” trong lầu thơ:
Thập thúy tầm phương mùa náo nức
Lầu thơ xuân khóa bóng thuyền quyên.
(“Tầm phương” có nghĩa là “đi tìm hoa cỏ thơm về mùa xuân.” Thơ cổ có câu “Xuân du phương thảo địa” [mùa xuân đi chơi ở chỗ có cỏ thơm]. Trong từ “thập thúy,” chữ “thập” này không có nghĩa là số 10 mà là “thu nhặt” [như khi ta nói “thu thập”]. “Thúy” là màu xanh biếc, là con chim phỉ thúy, ta thường gọi là chim trả, lông có màu xanh biếc rất đẹp, người xưa có thể cài lên tóc để trang điểm. Trung Hoa có thành ngữ “Thập thúy tầm phương, mạc đãi xuân tàn,” có nghĩa là đi thu thập lông chim phỉ thúy, đi tìm hoa cỏ thơm, đừng đợi đến khi xuân hết. “Xuân hết” ở đây vừa để chỉ ngày mùa xuân, vừa ngụ ý tuổi xuân. “Khóa xuân” nói lên cảnh một thiếu nữ khuê các, sống “cấm cung” thời xưa. Trong Truyện Kiều, từ trước ngày gặp nhau trong tiết Thanh minh, Kim Trọng đã nghe tiếng hai chị em Kiều: “Vẫn nghe thơm nức hương lân, Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều.” Nguyễn Du viết câu này theo ý câu thơ của Đỗ Mục đời Đường, “Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều”).
Nói tóm lại, theo nghĩa thứ nhất, bài thơ là lời một thiếu nữ. Cô cho biết có nhan sắc, có phẩm hạnh, không thích chuyện trăng gió, trọng tình nghĩa lâu bền. Cô thuộc một gia đình thanh bạch nhưng có danh tiếng, trọng học vấn, đạo đức. Nhân xuân đến, “gần xa nô nức yến anh,” cô cảm thấy cô đơn trong lầu thơ (ngụ ý một cách kín đáo: mong tìm một “tri âm”).
Bài thơ còn một nghĩa thứ hai, lời của “nàng Sách.” Nàng vốn từ mực đen, giấy trắng. Giấy có hương thơm. Từng trang giấy thì mỏng nhưng khéo kết chặt nên một quyển sách dày. Trong sách có những gương hiếu học, có điển tích, kiến thức, triết lý, đạo nghĩa… Giữa lúc thiên hạ nô nức du xuân, nàng cô đơn trong lầu thơ. Ngụ ý kín đáo: nhiều người ham vui, không năng đọc sách.
Mô tả “nàng Sách” như một mỹ nhân là điều nhà thơ Đông Hồ và người bạn đời, cũng là bạn văn gần gũi nhất của ông, nhà thơ Mộng Tuyết, đã thực hiện từ lâu. Trong tấm thiệp chúc Tết do nhà xuất bản Bốn Phương gửi ra nhân dịp xuân Ất Mùi 1955, “nàng Sách” đã được mô tả như sau:

 























































Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA BÀI THƠ

Trong cương vị một người có tình thân với nhà thơ Đông Hồ từ khá lâu, giáo sư Yã Hạc Nguyễn Văn Trung cho tôi biết: Thi sĩ Đông Hồ thích thơ. Bắt đầu từ 1950, mỗi cuối năm, ông vẫn giữ lệ in một bài thơ trên một tấm thiệp chúc Tết gởi các văn thi hữu, mong mọi người họa gửi lại để đầu năm có nhiều thơ hay. Mùa xuân năm Ất Mùi 1955, ông công bố bài thơ sau đây:
                                                Đền Thơ tên yết bảng son
                                         Trạng Thơ gọi chút đền ơn lạng vàng
                                                Đem vào Yiễm Yiễm thư trang
                                         Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
Theo giáo sư Yã Hạc, nhà thơ Đông Hồ muốn nói: Tác giả bài thơ hay nhất trong những bài gửi về sẽ được tuyên dương là “Trạng Thơ.” Vị tác giả đoạt giải nhất ấy sẽ được Yiễm Yiễm thư trang tặng một lạng vàng, để xin thơ đem vào “treo trong thư trang.” Trong những năm trước, ông đã nhận được thơ từ nhiều thi hữu danh tiếng, trong đó có nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Những vị ấy đã có tên tuổi, họa thơ vì vui, vì tình bạn, không phải để lấy giải thưởng. Nhà văn Trương Bảo Sơn, từng nhận được thơ xuân của của thi sĩ Đông Hồ từ năm 1951 khi còn ở Hong Kong, đã dùng danh hiệu P. S. Chang hay Chang Pao-San (do sống ở Trung Hoa) gửi thơ hồi đáp một số lần. Khi biết chuyện muốn “đem vàng đổi thơ” năm 1955, đã gửi một bài đùa bỡn trong đó có những câu:
                        Lạng vàng mua một lời hoa
                 Khỏi đưa tôi cũng giúp ba bốn hàng
                        Chỉn e xuân trách “Anh Chang”
                 Vì thơ hay vị lạng vàng? Lại thôi!
Nhưng ý nguyện mong nhận được thơ hay để “trang điểm” cho Yiễm Yiễm thư trang của nhà thơ Đông Hồ là ý nguyện có thật. Ông nhắc lại lời cam kết ấy trong bài thơ gửi ra nhân dịp đầu năm Bính Thân 1956, dùng những vần đảo ngược lại những vần đã được dùng trong bài thơ năm trước, 1955. Ông gọi chuyện dùng vần họa đảo ngược ấy là “vóc gấm đảo canh tơ.” Lời cam kết được nhắc lại trong hai câu:
                                                Nhà ngọc mong treo vần yiễm tuyệt
                                                Lạng vàng dám đổi giá tương đương
 

Tới đầu năm Mậu Tuất 1958, nhà thơ Đông Hồ đặc biệt muốn nhận được thơ do một số “tài tử văn nhân” trẻ gửi tới, nên đã đưa ra lời một thiếu nữ muốn “tìm bạn tri âm,” mong nhiều tao nhân trẻ tuổi yêu văn chương và biết họa thơ sốt sắng hưởng ứng. Trả lời câu hỏi của một đồng nghiệp tại Trung học Bạc Liêu trong một buổi đàm đạo văn chương cuối năm 1957, “Tại sao ông Đông Hồ muốn tìm những người trẻ tuổi biết họa thơ?” giáo sư Yã Hạc Nguyễn Văn Trung đã thử giải thích như sau:
Vị ái nữ của thi sĩ Đông Hồ đã đến tuổi trưởng thành. Nhà thơ xứ Hà Tiên mong tìm được một “giai tế” có đức hạnh, có tư cách, trọng văn chương chữ nghĩa, có văn tài, nhất là biết quan tâm đến việc bồi đắp văn hóa Việt Nam, giống như  ông hồi còn trẻ. Đọc những bài thơ gửi tới, bên cạnh việc thấy được văn tài, ông cũng có thể đồng thời nhận ra phần nào cốt cách, chí khí của những tao nhân trẻ. Có lẽ đây là cơ hội để “phạm vi lựa chọn” của ông mở rộng thêm, giúp ông tiếp xúc với một số thanh niên ưu tú theo quan niệm của ông, nhưng từ trước ông chưa biết tới.
KẾT QUẢ CUỘC THI HOẠ THƠ XUÂN MẬU TUẤT 1958
Nhà thơ Đông Hồ “tuyên bố kết quả” cuộc thi họa thơ xuân Mậu Tuất 1958 trong hai trang 48-49 của bài “Những cánh thiếp Tết,” in trong Bách Khoa số 49, ra ngày 15-1-1959 như đã nói trên. Không rõ bao nhiêu người đã gửi thơ họa về để “dự thi,” nhưng trong bài viết trên, ông chỉ đề cập đến năm người đáng lưu ý nhất. Có lẽ hiểu ý ông, muốn “Trạng nguyên, Bảng nhãn” trong ký họa thơ này về tay những người trẻ, các thi sĩ danh tiếng của miền Nam không hưởng ứng góp tiếng (không thấy ông nhắc tới). Trong các nhân vật được nhà thơ Đông Hồ đặc biệt điểm danh, vị duy nhất được nhiều người biết đến trong kỳ họa thơ này là nhà cựu học Tạ Thúc Khải. Mấy năm sau, bắt đầu từ 1962, ông Khải cùng một số vị khác dịch bộ Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (chép tên và sơ lược tiểu sử những vị thi đậu). Bộ sách này được bộ Quốc gia Giáo dục VNCH in làm nhiều đợt từ 1963 đến 1968.  Ít năm sau, nhà cựu học Tạ Thúc Khải lại dịch Cao Chu Thần thi tập, được Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục ấn hành năm 1971. Nhưng đó là chuyện về sau. Khi họa thơ của thi sĩ Đông Hồ đầu năm 1958, nhà cựu học còn trẻ, chưa bị xếp vào thành phần “các vị có danh tiếng.” Thi sĩ Đông Hồ cho biết đã chú ý đến hai câu thơ của ông Khải, hai câu đầu tiên trong bài thơ họa vần của ông:
                                    Lời hay chữ đẹp ý cao huyền
                                    Dở bức hoa tiên ngỡ thấy tiên.
Người có hai câu 3-4 được “tuyên dương” là ông Phạm Đàn:
                                    Hương sắc một mùa tràn đất nước
                                    Niềm tin đôi nét hẹn giao duyên
Người được vinh danh với hai câu 5-6 là ông Đỗ Long Giang:
                                    Gấm chiếu thanh nan quà viễn khách
                                    Hương lồng đan táo dấu tiên hiền.
Sau ba “trích đoạn” để vinh danh ba vị mặc khách khác nhau, nhà thơ Đông Hồ chép nguyên văn hai bài thơ của hai vị khác:
--Ông Phan Ngọc Châu:
                                    Phòng thơ xuân đến vẫn u huyền
                                    Thầm lặng hồn vương bóng dáng tiên
                                    Vẫn mấy lần xuân đời vẫn nợ
                                    Còn bao nhiêu tuổi chữ còn duyên
                                    Mai ngời ánh tuyết niềm trong trắng
                                    Tuyết tựa lòng mai nét dịu hiền
                                    Thoang thoảng hương hoa lòng lại nhớ
                                    Lầu thơ kia với bóng thuyền quyên.
--Ông Bình Hành:
                                    Khép mở đài trang diễm diễm huyền
                                    Tay phàm hồ dễ bén tờ tiên
                                    Hương nồng phấn đượm ngây ngây sắc
                                    Yến rã oanh rời thấm thấm duyên
                                    Há đắm say chi mùi tục lụy
                                    Mà ôm ấp mãi mộng cao hiền
                                    Rách lành giữ lấy lề cho vẹn
                                    Khăng khít muôn đời đẹp phận quyên.
Trước khi chép ra 6 câu thơ trích đoạn và nguyên vẹn 16 câu của hai bài nói trên, nhà thơ Đông H chỉ viết là, “Mười hai tháng cách đây, những vần thơ họa văng vẳng tiếng ngâm còn rất mới, điểm có chút vị mùa xuân của hạnh lâm, quít tỉnh cho nàng Thơ thêm khí sắc” ¹.  Ông không tuyên bố tác giả bài thơ nào được coi là Trạng nguyên, tác giả bài nào là Bảng nhãn, Thám hoa. Ông cũng không cho biết bài thơ nào sẽ được:
                                   
                                            Đền Thơ tên yết bảng son
                                    Trạng Thơ sẽ được đền ơn lạng vàng
                                            Đem vào Yiễm Yiễm thư trang
                                    Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
Tổng kết những chuyện thiếp xuân gửi đi, thơ họa gửi về từ năm 1950 cho tới lúc ấy, nhà thơ Đông Hồ chỉ viết, “Một viên gạch trao ra, bao nhiêu viên ngọc trả về, trong chín năm ngọc gieo châu ném loạn tao đàn.” Ông kết luận, “Chừ đây, tháng tận năm cùng, chỉ còn đủ thời giờ nhặt vội mấy hạt gần tay trên đó, để cho nàng Thơ cài lên mái tóc đón xuân sang. Còn thì xin trân trọng xếp cả vào một tráp bảo tàng, đợi có dịp sẽ kết thành một tràng chuỗi minh châu khuê bích, là món tư trang vô giá của nàng Thơ” ².  Chắc vị giám đốc sáng lập nhà xuất bản Bốn Phương muốn nói: Khi có hoàn cảnh, ông sẽ cho in một tuyển tập gồm những bài thơ xướng họa hay nhất ông đã nhận được.
Tóm lại, bài thơ mở đầu bằng câu “Tóc đen, mắt nhánh mực nhung huyền …” của nhà thơ Đông Hồ là một bài thơ hay với nhiều ý nghĩa phong phú như đã nói trên. Được đưa ra nhân dịp xuân Mậu Tuất 1958, bài thơ ấy được in trên tấm thiệp chúc Tết nhà thơ Đông Hồ gửi tới các văn thi hữu để mong nhận được thơ họa, một thông lệ ông đã giữ từ nhiều năm, chứ không có tiêu đề.
Những trang phía trên được viết với ước nguyện sẽ đính chính được những sai lầm trên một số websites đang phổ biến bài thơ của thi sĩ Đông Hồ. Chúng tôi muốn được cùng bạn đọc phục hồi lại nguyên bản một bài thơ mang nhiều ý nghĩa, khá điển hình cho sinh hoạt văn chương miền Nam trong giai đoạn 1954-1975. Đây là một bài thơ hay, nhưng cuộc hủy diệt văn hóa một cách tàn khốc sau cuộc đổi đời ngày 30-4-1975 đã làm cho biến dạng, trở thành ngô nghê, vô ý nghĩa.
                                                                                                          Trần Từ Mai
                                                                                                  
Ghi chú:
1.      Đông Hồ, “Những cánh thiếp Tết,” trong Bách Khoa số 49 (ngày 15-1-1959), trang  49.
2.      Đông Hồ, Bài viết đã dẫn, trang 49-50.