Tuesday, June 8, 2021

Cuối năm “kể” chuyện Tam Quốc / TRÚC CHI



 Gửi Lôi Tam 

 

Con gái tôi chìa cho tôi phần quảng cáo phim trong nhật báo Los Angeles Times:

- Có cái phim Tàu này, thấy họ quảng cáo trong TV nhiều lắm. Ba có muốn đi coi không?

Tôi nhìn vào trang báo, thấy hai chữ “Red Cliff” cỡ lớn, bên dưới có hai chữ Hán nhỏ hơn: Xích Bích.

- Ồ. Phim này thì phải đi xem mới được.

Lâu nay, tôi ít đi xem phim mới. Phần làm biếng. Phần nghĩ rằng chờ ít lâu, thuê video về coi cũng không muộn. Cái tuổi náo nức rủ bạn rủ bè chen lấn mà mua mấy tấm vé để xem cho kỳ được một phim có Gregory Peck hay Ingrid Bergman... cái tuổi ấy nó giã từ tôi đã lâu lắm rồi. Nó đã bỏ tôi mà xuôi về một chốn nào đó xa xôi lắm để mà nấp, mà ẩn náu sau cái đống năm tháng không ngừng chồng chất lên mớ tóc của tôi mỗi ngày lại bạc thêm vài sợi. Đã vậy, tình hình điện ảnh tôi cũng không theo dõi. Ngồi chung với bạn bè, câu chuyện nếu có đi vào lĩnh vực điện ảnh, tôi khám phá ra là mình mù tịt. Bèn dựa cột.

Con tôi nó biết điều này. Nó biết tôi thuộc giới trẻ… hôm qua, nay ít quan tâm đến điện ảnh, nên thỉnh thoảng nó vẫn chỉ cho tôi một hai phim ăn khách. Mỗi lần như vậy, nó lại phải kiên nhẫn giới thiệu hãng sản xuất, đạo diễn và các “ngôi sao”trong phim. Vậy mà cũng vất vả lắm mới kéo tôi đến rạp chiếu bóng được. Lần này, thấy tôi không do dự, quyết định nhanh chóng, nó cười:

- Sao ba biết phim hay?

- Có dở đi nữa thì xem lại một vài đoạn trong Tam Quốc cũng vui.

- Tam Quốc là gì vậy ba?

Nghĩ đến cái bát ngát của “thế giới Tam Quốc” - với tôi, Tam Quốc là cả một thế giới - tôi đã đặt xuống bàn ly cà phê sữa điểm tâm:

- Chắc con cũng đã gặp cái nhan sách The Story of Three Kingdoms trong mấy hiệu sách Mỹ, Tam Quốc là cái tên tiếng Việt của bộ sách đó. Rảnh, ba sẽ nói thêm cho con biết.

 Tôi cầm tờ báo lên xem giờ giấc rồi điện thoại rủ hai người bạn mà tôi biết cũng thích Tam Quốc như tôi, nói đùa rằng gần Tết, tuy mới Tết Tây, phải đi xi-nê như… ngày xưa, thời còn ở trung học. Vậy là được thêm một ngày vui trong cái cõi phù sinh này: có bạn, xem được phim Xích Bích, bình luận thao thao về những sự việc trong sách mà lại không có trong phim và đảo lại!

Và bây giờ, một chiều Đông không lạnh lắm – ở Nam California mùa Đông không nghiệt ngã lắm so với băng tuyết tại nhiều tiểu bang ở miền đông -ngồi một mình trong cái quán vắng này, đối diện với ly rượu độc ẩm và đối diện luôn với dãy núi sừng sững như muốn chận hết mọi lối vào thung lũng San Gabriel, bất giác tôi nghĩ đến hai câu:

 Thanh sơn y cựu tại

Kỷ độ tịch dương hồng

(Núi xanh tự nghìn xưa vẫn còn đó

Đã bao lần tịch dương nhuốm hồng)

 

Tôi biết Kỷ độ tịch dương hồng là tên một tác phẩm của nhà văn Quỳnh Dao, tôi cũng biết rằng cái nhan sách này là một câu năm chữ trích từ một bài thơ. Nhưng mà bài nào? Chịu. Nghĩ mãi không ra, tôi nhấc ly rượu vừa hớp một hớp vừa tự nhủ rằng điều này không quan trọng. Và cũng ngay phút ấy, tôi nhớ ra rằng đó là bài từ mở đầu truyện Tam Quốc:

 Cổn cổn Trường giang Đông thệ thủy

Lãng hoa đào tận anh hùng

Thị phi thành bại chuyển đầu không

Thanh sơn y cựu tại

Kỷ độ tịch dương hồng…

(Trường giang cuồn cuộn xuôi về Đông

Bọt sóng xua hết cả anh hùng

Phải, trái, thành, bại chớp mắt thành ra không cả

Đã bao lần nắng chiều nhuộm hồng núi xanh vẫn còn đó)

 À, ra thế! Cái phim Xích Bích, xem cách đây cũng đã mấy hôm mà ấn tượng mạnh đập vào trí óc tôi vẫn âm thầm sống. Nó nhắc lại cho tôi một bài từ mà đã rất lâu, tôi không có dịp xem lại. Một bài từ đặc sắc.  Một lối nhìn rất “triết” và rất “Trung Hoa”! Hình như lối nhìn này cũng khá gần Việt Nam, nếu tôi không lầm. Thoáng chút bào ảnh của Phật giáo, thoáng cái lẽ tương đối của sự vật trong Dịch lý. Mấy dòng thơ ngắn ngủi đã nhắc cho người đọc Tam Quốc rằng mưu kế thâm như vậy, tên giáo sắc bén như vậy, vũ dũng phi thường như vậy mà nay không còn gì cả. Cái còn lại là ngày lại ngày nắng chiều vẫn nhuộm đỏ dãy núi xanh trơ trơ đó tự nghìn xưa. Biết vậy mà vẫn đọc. Mà lại còn đọc đi đọc lại nữa.  Cái ma lực của những kiệt tác là vậy đó.

Tôi nghĩ cũng chính cái ma lực khó định nghĩa ấy đã khiến cho người đời sau nhiều lần đem Tam Quốc diễn thành tuồng, thành phim mà mới nhất là cái màn Xích Bích được tung ra thị trường điện ảnh vào tháng này. 

Còn nhớ, lúc vừa xem xong phim, tôi đã lấy làm suy nghĩ về cái xen Tôn Quyền tha bổng Tào Tháo sau trận Xích Bích. Mũi tên vàng của bậc anh hùng “mắt xanh râu tía” lắp sẵn trên cái cung trương lên cách Tào Tháo có mấy thước đã được bắn chếch lên đỉnh đầu – thay vì hướng thẳng vào yết hầu -xẹt nhanh như chớp, hất tung mũ của Tào Tháo. Tào Tháo ngạc nhiên, nhưng mặt không có sắc sợ. Dĩ nhiên. Đạo làm tướng, mà lại là thứ tướng thuộc làu Tôn - Ngô binh pháp như Tào Tháo, không có quyền mất bình tĩnh, bất luận trong tình huống nào. Người đạo diễn phim Xích Bích (Red Cliff) này, quả cũng thuộc binh pháp.

 Nhưng mà… tôi gõ những hàng chữ này không phải để làm một “cú” điểm phim. Bởi vì xưa nay tôi chưa từng điểm một bộ phim hoặc một quyển sách nào cả. Đọc được một quyển tiểu thuyết có giá trị tâm lý, văn chương hoặc xã hội, vui miệng trong một buổi họp bạn cùng trường cùng lớp nay đã già mà vẫn mày tao, tôi thường nói: “Tụi bây tìm mà đọc, không mất thì giờ vào một thứ vô bổ đâu.” Mà gặp một tác phẩm của những nhà đạo diễn trứ danh như Kurosawa, Ingmar Bergman hoặc Fellini cũng vậy, nếu có dịp tôi cũng chỉ nhắc bạn bè đi xem cho biết. Cái hay, cái đẹp của một tác phẩm, tức là giá trị nghệ thuật của nó, trong nhiều trường hợp, chữ nghĩa không nói hết được.

Dù vậy, tôi cũng xin lướt qua một vài điều chính trong màn Xích Bích. Trong bộ truyện lịch sử tiểu thuyết trứ danh này của nền văn học Trung quốc, có ba trận đánh lớn có tính cách quyết định đối với cái thế tam phân: trận Quan Độ, Tào Tháo diệt Viên Thiệu; trận Xích Bích với hậu quả trước mắt của nó: Tào Tháo phải tạm gác ý đồ thôn tính Giang Nam; trận Hào Đình trong đó doanh trại của Lưu Bị bị Lục Tốn thiêu rụi, đánh dấu sự xuất hiện của một lớp danh tướng mới và trẻ như Chung Hội, Đặng Ngải, Khương Duy vân vân, báo hiệu giai đoạn cuối của cái thế chân vạc.

Trong ba trận đó, trận Xích Bích hào hứng nhất, nếu có thể dùng tính từ hào hứng để nói về cái chết của mấy mươi vạn binh lính của cả ba nhà họ Tào, Ngô và Lưu! Với người Việt Nam, địa danh Xích Bích không xa lạ gì, ngay cả đối với những ai không đọc Tam Quốc: bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Đông Pha đã đi vào văn chương Việt Nam qua nhiều tác phẩm của một số các nhà nho đời trước, trong số phải kể Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát.(về điểm này lát nữa tôi sẽ nói thêm )

Xích Bích sôi nổi là vì về mặt binh pháp đời trước và có lẽ cả về mặt chiến thuật quân sự đời nay nữa, hai phe dùng hầu hết mọi mưu mẹo mà các bản dịch lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc sang tiếng Việt thời trước gọi là kế: Khổng Minh dùng kế khích tướng với Tôn Quyền, với Châu Do. Khổng Minh cũng khích ngay cả Quan Vân Trường khi ông giao cho ông tướng tốt râu rất kiêu này nhiệm vụ đi chận Tào Tháo ở Huê Dung. Châu Do đồng mưu với Huỳnh Cái để thi hành khổ nhục kế mà đưa trá hàng thư cho Tào Tháo. Lại cũng ông đô đốc tài cao này dùng kế phản gián, mượn tay Tào Tháo giết tướng của chính mình là Trương Doãn và Thái Mạo. Rồi đến hỏa công, phục binh, nghi binh, kiêu binh vân vân không thiếu một kế nào cả. Xem Tam Quốc, đến trận Xích Bích không đặt quyển sách xuống được là vì vậy.

 Riêng trong phim Red Cliff, cũng không khác chi phim Chiến Tranh và Hoà Bình rút từ quyển lịch sử tiểu thuyết cùng tên của Tolstoy, có rất nhiều chi tiết đã được lược đi hết. Đã vậy, cốt chuyện cũng được người làm phim thay đổi hẳn. Nhưng đó là cái linh động của nghệ thuật điện ảnh, không tránh được. Khi làm một phim rút từ một tác phẩm văn học, người đạo diễn không bắt buộc phải theo sát nguyên tác. 

Bây giờ xin nói qua kỹ thuật hiện đại của điện ảnh mà người làm phim đã triệt để khai thác khi quay hai màn Khổng Minh “mượn tên” và Châu Do thiêu rụi thủy sư của Tào Tháo. Điện ảnh là thế giới của cái thấy, của thị giác, của nhãn giới. Và trong phim Xích Bích, hai màn này quả có bắt mắt, đẹp mắt. Đúng là cảnh thị dạ đại vụ mãn thiên, Trường Giang chi trung, vụ khí cánh thậm, đối diện bất tương kiến” (đêm ấy sương mù đầy trời, giữa Trường Giang, sương lại càng dày, đối mặt không thấy nhau.) Mù mịt vậy thì thấy được gì? Chỗ này người làm phim đã khéo tạo được cảnh khi ẩn khi hiện, như hư như thực, của mấy chiếc thuyền nhẹ, khi tròng trành trên mặt sóng để hứng tên, khi lướt nhanh để về thủy trại của mình. Và, ngoạn mục nhất là cảnh tên bay như mưa trong sương mù cùng với mấy chiếc thuyền cắm đầy tên trông như những con nhím trên mặt sông. Xem trong sách, ta chỉ có thể tuởng tượng thôi! Đến cái hồi Tam Giang khẩu Châu Do túng hoả (Châu Do dùng hỏa công ở Tam Giang khẩu) thì thiết tưởng mấy bộ phim thuật chuyện chiến tranh thời  đế quốc La Mã sản xuất ở Hollywood khoảng thập kỷ 50-60 thế kỷ trước có “vĩ đại” với những cảnh khói lửa ngập trời, cũng đến thế thôi. Tóm lại, trong đoạn nói về trận Xích Bích, những chỗ hấp dẫn nhất trong sách xem trong phim cũng hấp dẫn không kém.

Riêng về cốt chuyện, như trên đã nói, người làm phim đã thay đổi hẳn. Thay đổi như thế nào? Thật tình, nói cho hết mà có nói gọn lắm ít ra cũng phải đến ba trang đánh máy. Lại còn làm mất hứng người muốn xem phim. Tạm thời xin cứ để… lơ lửng như vậy! Chỉ xin nêu một vài điểm then chốt:

Trong sách, Quan Vân Trường tha Tào Tháo ở Huê Dung. Trong phim, Tôn Quyền tha Tào Tháo liền sau khi chiến thuyền và doanh trại của Tháo bị đốt sạch. Trong sách, Châu Do và Khổng Minh tranh dành đất đai mãi cho đến khi Châu Do vì thua trí, uất mà chết sau khi thốt ra câu nói nổi tiếng ký sinh Do, hà sinh Lượng (đã sinh Do sao còn sinh Lượng). Trong phim, Châu Do và Khổng Minh thân mật chia tay sau trận Xích Bích và hẹn nếu gặp lại sẽ hợp tác với nhau.

Đối với người chưa từng xem Tam Quốc, phim kết thúc như vậy không có chi lạ. Đâu có khác chi hai tay súng giúp phe “chính”  giết  một kẻ “tà” như chúng ta thường thấy trong nhiều phim “cao-bồi”. Xong, mỗi người một ngả, về đâu không ai biết. Nhưng, với những ai đã đọc và thích Tam Quốc, trong số có kẻ đang tí toáy gõ mấy hàng này, thì trong phim cái lối  sửa cốt chuyện, cũng như màn kết thúc, không khỏi không gây một phút bỡ ngỡ, hụt hẫng. Tôi nghĩ cốt chuyện được viết lại trong phim có gọn hơn và vai trò của Tôn Quyền và Châu Do nổi hơn trong sách (Có hay hơn hay không là chuyện khác. ) 

Mà thật ra, như vậy cùng hợp tình hợp cảnh, vì trong truyện, đành rằng không có cái màn thử nhật Đông Nam phong đại khởi (Ngày ấy gió Đông Nam nổi lên rất lớn) thì cũng chưa biết ra sao, nhưng công lớn vẫn là công của tướng và quân sĩ Đông Ngô,  dưới quyền điều khiển của Châu Do. 

Nghĩ lại, trận Xích Bích chỉ gồm có hai ba hồi trong bộ truyện dài đến 120 hồi. Mà ngay cả toàn bộ Tam Quốc cũng chỉ là một thời kỳ nhiễu nhương loạn lạc non một trăm năm trong mấy nghìn năm lịch sử Trung Quốc. Tác giả La Quán Trung thấy rõ đìều này hơn ai hết cho nên ông đã mở đầu kiệt tác này với câu thiên hạ đại thế, phân cửu tất hợp, hợp cửu tất phân (thế lớn trong thiên hạ, cứ phân chia lâu rồi lại hợp thành một mối, hợp thành một mối lâu rồi lại phân chia.) Và đó cũng là mười hai chữ mà tác giả La Quán Trung dùng để chấm hết bộ truyện trứ danh này: một cái nhìn đượm Dịch lý, theo đó thì sự vật trong đất trời diễn biến theo từng chuỗi chu kỳ vô tận.

Trong loại tiểu thuyết chương hồi, ở cuối mỗi hồi, thường vẫn có một bài thuộc loại văn vần: tứ tuyệt, bát cú, từ, cổ phong vân vân. Họa hoằn lắm mới thấy có ghi tên tác giả, thường chỉ thấy ghi hậu nhân ( người đời sau. ) Ở cuối truyện Tam Quốc cũng vậy, tóm tắt cơ đồ nhà Hán từ lúc Cao Tổ đề kiếm nhập Hàm Dương ( Hán Cao tổ Lưu Bang vung gươm tiến vào Hàm Dương) đến hết thời kỳ Tam Quốc là một bài cổ phong dài, với mấy câu cuối thiệt đẹp, thiệt man mác:

Phân phân thế sự vô cùng tận

Thiên số mang mang bất khả đào

Đỉnh túc tam phân dĩ thành mộng

(việc đời liên tiếp dồn dập không bao giờ hết 

số Trời mờ mịt không thấy ở đâu nhưng không tránh được

cái thế chân vạc –mà Khổng Minh hằng ấp ủ -  chỉ còn là một giấc mộng)

 Bài cổ phong nằm ở trang cuối bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa mà lại nói thế sự vô cùng tận, đìều này có nghĩa là thời kỳ tam phân chỉ là một “hồi” trong cái bát ngát của lịch sử Trung Quốc, hoặc, nói như một sáo ngữ nghe đã nhàm tai, trong cái vô tận của thời gian. Cho nên, tuy trong phim Tôn Quyền tha Tào Tháo sau trận Xích Bích thay vì cứ để việc ân nghĩa này cho Quan Công ở Huê Dung như trong sách, tôi nghĩ vai trò cùa Tào Tháo trong chính sử cũng như trong dã sử trước sau vẫn là một.

Sau hết, nói về trận Xích Bích mà không nhắc đến một nghệ sĩ lớn của Trung Quốc là Tô Thức  (cái  tên Tô Đông Pha nghe quen thuộc hơn đối với người Việt) là một thiếu sót… không thể tha thứ được. Bởi vì chính ông là tác giả bài Tiền Xích Bích Phú có một không hai, dù rằng nơi ông du ngoạn rồi thừa hứng mà sáng tác ra bài phú bất hủ này không phải là nơi đã xẩy ra trận Xích Bích. Ở đây, tôi không bàn đến phần triết lý trong bài phú. Chỉ xin nói qua về đoạn Tô Đông Pha nhắc đến Tào Tháo. Sau khi tóm tắt những võ công oanh liệt của Tào Tháo, ông ngậm ngùi mà viết ra câu cố nhứt thế chi hùng dã, nhi kim an tại tai (Anh hùng nhất trên đời lừng lẫy/Mà bây giờ nào thấy ở đâu - Đào Nguyên Phổ dịch).

Mới đọc, tưởng ông thương tiếc Tào Tháo, nhưng điều khiến ông có cái giọng ngậm ngùi âý chính là cái phù du của sự vật như Nguyễn Công Trứ, vốn cũng phóng khoáng không khác chi Tô Thức, đã cảm và hiểu đúng, qua những lời được viết ra theo thể văn sở trường của mình tức là thể hát nói:… Sực nhớ kẻ quày ngọn giáo vịnh câu thơ thủa trước / Ngẫm việc đời mà cảm nỗi phù du…

Và cũng chính Tô Thức trong một bài từ đã mở đầu bằng một câu được cho là rất mạnh giữa cái ẻo lả của đa số các bài từ viết vào thời ông: đại giang Đông khứ lãng đào tận thiên cổ phong lưu nhân vật (tất cả nhân vật phong lưu từ xưa đến nay đều theo sóng trên Trường Giang mà đổ ra biển Đông)

Tô Thức là người đời Tống. Bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa ra khoảng cuối Nguyên đầu Minh. Cho nên khó mà nghĩ rằng bài từ trong Tam Quốc mà tôi nhắc đến trên đây lại không chịu ảnh hưởng từ của Tô Thức. Mà ngay nhà thơ lớn nhứt của chúng ta, Nguyễn Du, hồi đi sứ sang Trung Quốc, có lần nhìn di tích đã đổ nát của một nơi danh thắng, cũng đã mượn con sông lớn ở Trung Quốc để nhắc đến điều mà ngày nay chúng ta gọi là “thời gian”:

Duy hữu Trường Giang xảo thu thập

Nhứt thành nhứt hủy tẫn đông lưu

(Chỉ có Trường Giang là khéo sắp đặt

Việc thành việc hỏng đều tuôn hết ra biển đông)

 ​Ấy, tôi định chỉ viết về phim Xích Bích mà rồi phải “mở rộng” ra… tận Tam Quốc. Nhưng mà Tam Quốc thì “nói” đến đời nào mới hết chuyện. Thôi thì tạm dừng ở đây. 

 

TRÚC CHI

1/2010

 

Monday, June 7, 2021

Các dịch giả Tam Quốc Chí diễn nghĩa / PHẠM XUÂN HY

   


  TAM QUỐC

( 220 CN  -  280 CN)

 

Tôi không nhớ rõ tôi đọc Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung lần đầu tiên  vào năm nào và do ai dịch.

Nhưng gần đây có độc giả đặt câu hỏi: Ai là người đầu tiên dịch tiểu thuyết Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung sang tiếng Việt ?

Câu hỏi này cũng gợi trí tò mò hiếu kỳ của tôi, nên tôi muốn tìm hiểu cho rõ thêm.

 

1-Thời Tam Quốc

Tam Quốc (220CN-280CN) là một giai đoạn lịch sử của Trung Quốc, khoảng cuối thời nhà Hán, và đầu triều nhà Tấn.Trong đoạn thời gian này từng xuất hiện ba nước là

Tào Nguỵ, Thục Hán và Đông Ngô.

Chúng tôi mạo muội xin trích một vài số liệu từ cuốn “Trung Quốc Niên  Biểu 中 國 年表 ”của chúng tôi như dưới đây:

-Năm 220 CN, Thừa Tướng nhà Hán là Tào Phi bức vua Hán Hiến Đế nhường ngôi cho mình, định đô ở Lạc Dương lấy quốc hiệu là Nguỵ, sử gọi là Tào Nguỵ, đánh dấu chính thức cho sự chấm dứt của nhà Hán. Nhà Tào Nguỵ trải 5 đời vua ( 220-265) tồn  tại  46 năm.

-Năm 221 CN, Lưu Bị xưng đế, đóng đô ở Thành Đô, sử gọi là Thục Hán.

Nhà Thục Hán  2  đời vua (221-263)  tồn tại 43 năm.

-Năm 229 CN, Tôn Quyền xưng đế, đóng đô ở Kiến Nghiệp, quốc hiệu là Ngô, sử gọi là Đông Ngô.

Nhà Ðông Ngô trải qua  4  đời vua (222-280) tồn tại 59 năm.

-Từ năm 190 CN, chế độ chính quyền trung ương tập quyền của nhà Hán bị suy đồi, đổ nát, bọn quân phiệt  đua nhau nổi dậy cát cứ, thiên hạ rơi vào tình trạng đại loạn.

-Đến năm 208, Tào Tháo bị liên minh quân sự Lưu Bị và Tôn Quyền đánh bại ở trận Xích Bích, từ đó manh nha ra thế “tam quốc đỉnh lập”, ba nước thành lập.

Trong thời gian này, Gia Cát Lượng và Khương Duy  của nhà Thục Hán nhiều lần đem quân bắc phạt nhà Tào Nguỵ, nhưng không thành công.

Thực quyền của chính quyền Tào Nguỵ  bị Tư Mã Ý khống chế.

- Năm  265 CN, Tư Mã Viêm diệt nhà Nguỵ xưng đế, lấy quốc hiệu là Tấn, đóng đô ở Lạc Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam ), sử gọi là Tây Tấn.

Ðến năm 280 CN, Tư Mã Viêm diệt nốt Ngô, thống nhất toàn quốc, chấm dứt cục diện Tam Quốc (220CN-281CN), tồn tại 61 năm.

 

2- Truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa

 三國志演義

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa 三国志演có tên gọi trọn vẹn đầy đủ là Tam Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa 三国志通俗演义của tiểu thuyết gia La Quán Trung, người  thời Nguyên mạt Minh sơ sáng tác. La Quán Trung đã căn cứ vào “Tam Quốc Chí”  của Trần Thọ và Bùi Tùng Chi chú giải, cùng với những truyền thuyết cố sự trong dân gian, rồi trải qua bút pháp điêu luyện viết thành một tác phẩm “trường biên chương hồi lịch sử diễn nghĩa tiểu thuyết”.

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, cùng với ba truyện Tây Du Ký, Thuỷ Hử Truyện, Hồng Lâu Mộng  được coi là Tứ đại kỳ thư trên văn đàn văn học Trung Quốc.

Sau khi ra đời vào năm Nhâm Ngọ (1522) đời vua Gia Tĩnh, Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa có nhiều khắc bản khác nhau.

Đến thời Minh mạt Thanh sơ, Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa được Mao Tôn Cương chỉnh lý hồi mục, tu sửa ngôn từ, sửa đổi thi văn, bàn luận, trở thành bản có giá trị cao nhất được phổ biến, lưu truyền lúc bấy giờ.

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa có 120 hồi, đại thể phân làm 5 bộ phận chính:

-Hoàng Cân Khởi Nghĩa.

-Đổng Trác Chi Loạn.

-Quần Hùng Trục Lộc.

-Tam Quốc Đỉnh Lập.

-Tam Quốc Qui Tấn.

Miêu tả gần một trăm năm lịch sử loạn lạc, các lãnh chúa cát cứ tranh hùng, các cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, kinh tế,  từ cuối đời nhà Đông Hán đến đầu thời nhà Tây Tấn, giữa ba nhà Nguỵ, Ngô, Thục, và cuối cùng bị Tư Mã Viêm tiêu diệt , thống nhất toàn quốc lập ra nhà Tây Tấn.

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa là một bộ chương hồi tiểu thuyết, một bộ lịch sử tiểu thuyết đầu tiên, trong văn học Trung Quốc, được xếp đứng đầu trong “tứ loại kỳ thư”.

Theo các nhà phê bình văn học Trung Quốc nhận định, họ cho rằng mục đích chính của “Tam Quốc Diễn Nghĩa” của La Quán Trung là  “Tôn Hán Ức Tào”, tôn sùng Lưu Bị là chính thống, đánh giá thấp  Tào Tháo chỉ là một kẻ gian thần mưu lược, soán nghịch.

Việc “xú hoá” hình ảnh Tào Tháo, đã tạo cho hậu thế có người đọc Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa nổi cơn căm hờn, cầm dao đâm vào hai chữ Tào Tháo trong sách. Ô hô! Ai tai! Đao bút quả là đáng sợ thật.

Và  La Quán Trung đã thành công với Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa; căn bản là dựa vào Tam Quốc Chí của Trần Thọ và Bùi Tòng Chi chú cũng như các truyền thuyết, dã sử trong dân gian.

Chúng tôi cũng xin mạn phép được quanh co thêm đôi diều.

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung được coi là “bộ chương hồi tiểu thuyết” đầu tiên trong lịch văn học TQ. Hình thức này phát triển trên cơ sở “bình thoại” và “giảng sử”, tự thuật những tình tiết của từng cố sự theo từng hồi. Mỗi hồi là một câu truyện tương đối hoàn chỉnh, và độc lập, nhưng ở mỗi hồi, khi tình tiết của câu chuyện đạt đến chỗ lý thú nhất, bỗng dưng dừng lại và dùng sáo ngữ quen dùng: “Muốn biết kết quả thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ’’, để chấm dứt hồi đó, và để hấp dẫn câu độc giả.

Ngoài ra, khi bắt đầu mỗi hồi, thường có một câu thơ, làm theo đối ngẫu, trình bầy cái nội dung chủ yếu của hồi đó. Đúng ra, tác phẩm thoại bản Đại Đường Tam Tạng Thủ Kinh Thi Thoại đời Tống là tác phẩm đầu tiên viết theo hình thức này.

Sang đến hai triều Minh và Thanh, thể tài này được phổ biến rộng rãi, như Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Thuỷ Hử Truyện, Hồng Lâu Mộng, đều viết theo hình thức này. Và hình thức văn học này rất được quần chúng ưa chuộng yêu thích.Trong truyện này, ở đầu mỗi hồi đều có một câu thơ. Hình thức đặc biệt này có nguồn gốc từ tiền thân của nó là “Thoại bản” đời Tống mà ra.

“Thoại bản 話本”, tức bản gốc mà người “ thuyết thư nhân 說書人” (tức nghệ sĩ thuyết xướng cố sự và lịch sử) kể truyện dùng làm bản để nhớ.

Mới đầu, “ thuyết thư nhân 說書人” không có nơi cố định, nghĩa là không có “rạp”, mà thường phải di chuyển nơi đầu chợ, cuối xóm, rồi khua mõ đánh trống ầm ĩ để chiêu dụ quần chúng qui tụ đến nghe. Mãi đến đời Tống, Thuyết thoại 說話 (một loại nghệ thuật, kể truyện và hát xướng lưu hành vào thời kỳ Đường, Tống và thường kể những cố sự trong lịch sử làm chính), mới trở thành chuyên môn và có “rạp” cố định.

 Để lôi cuốn thính giả đến nghe cho đông đảo, Thuyết thư nhân 說書人Người kể truyện trước khi kể vào chính văn, thì ngâm một câu thơ, hay một bài từ, hay kể một đọan chuyện nho nhỏ, nội dung liên quan đến bối cảnh của chính văn, khái quát chủ đề, tư tưởng của truyện sẽ kể.

Việc làm thơ mào đầu của mỗi hồi trong các chương hồi tiểu thuyết như vậy, thời đó gọi là “Nhập Thọai 入話”.

Thoại Bản được lưu truyền từ cửa miệng truyền đến các đời người sau qua bút mực. Do đó Thoại Bản Tiểu Thuyết 話本小 phát triển thành Đoản Biên Bạch Thoại Thông Tục Tiểu Thuyết 短諞白話通俗小, và Giảng Sử Thoại Bản  phát triển biến thành Trường Biên Chương Hồi Tiểu Thuyết. Và Nhập Thoại, tức các câu thơ mở đầu mỗi hồi, vẫn tiếp tục được giữ lại.

 3-Về Tác giả La Quán Trung

La Quán Trung  tên là Bổn, hiệu là Hồ Hải Tán Nhân, là thông tục tiểu thuyết gia trứ danh thời Minh mạt, không rõ sống và chết năm nào. Ông sống ước chừng vào khoảng thời gian Nguyên Thuận Đế và Minh Thái Tổ. Ông là người Thái Nguyên (nay thuộc thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây), nhưng lại có thuyết nói ông là người Tiền Đường (nay thuộc thành phố Hàng Châu tỉnh Chiết Giang), nên đã có những thuyết  khác nhau về cuộc đời, năm sinh năm mất của ông, như:

*1330-1400

*1315-1385 hoặc 1388

*1310 -1380

La Quán Trung là người quả giao, không hợp thế tục, chỉ có người bạn vong niên là Giả Trọng, tác giả "Lục Quỷ Bạ Tục Biên". Ông sống trong một thời đại động loạn, từng ôm chí phò tá đế vương để lập công nghiệp.Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa ông từng mỹ hóa Lưu Bị là một vị minh chủ chính thống, và xú hoá Tào Tháo, cũng như trong Triệu Thái Tổ Long Hổ Phong Vân Hội, ông ca tụng Triệu Khuông Dẫn thành một vị hoàng đế hết lòng lo nghĩ đến sự cùng khổ của người dân, điều đó cho thấy ông chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho gia rất nhiều.Có thuyết cho rằng ông từng là môn khách của Trương Sĩ Thành và là sư phụ của Thi Nại Am, cùng họat động sáng tác với Thi Nại Am.

Ngoài ba tác phẩm hý kịch "Triệu Thái Tổ Long Hổ Phong Vân Hội", "Tam Bình Chương Tử Khốc Phỉ Hổ Tử", "Trung Chính Hiếu Tử Liên Hoàn Gían", La Quán Trung còn là tác giả của năm cuốn thông tục tiểu thuyết "Tùy Đường Chí Truyện", "Tàn Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa", "Tam Toại Bình Yêu Truyện", "Phấn Trang Lâu".

La Quán Trung được coi là một nhà viết tiểu thuyết thông tục kiệt xuất trên văn đàn Trung Hoa. Những sáng tác phổ biến kiến thức lịch sử Trung Quốc của ông có một tác dụng hết sức trọng đại.Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, được phổ biến một cách rộng rãi, khắp trong nước, người già, trẻ con, thành thị, thôn dã đều đọc, họ bàn tán, nói đến những nhân vật trong Tam Quốc, qua các kịch bản, hí khúc, tạp kịch, Nguyên khúc.

Còn tại ngoại quốc cũng rất được nổi tiếng, tại các nước Anh, Mỹ, Nga, Nhật, Cao Ly, Nam Dương, Thái Lan, đều có bản dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa.

 4- Tam Quốc Chí Tại Việt Nam

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa cũng rất được hâm mộ ưa thích, và phổ biến một cách rất rộng rãi. Chẳng những thế, Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa được nhiều người dịch ra tiếng Việt, và có những tác giả dựa vào những cố sự trong đó để tạo ra những hí khúc, tuồng tích, hát bộ, cải lương, viết ra những áng văn chương, những tác phẩm riêng biệt của mình.

Theo học giả Trung Quốc Vương Lệ  Na 丽娜, trong tác phẩm “Trung Quốc Cổ Điển Tiểu Thuyết Hí Khúc Danh Trứ Tại Ngoại Quốc” xuất bản năm 1984, 中國古典小说戏曲名著在国外 thì  những tuồng tích, cải lương, hí khúc, hát bộ , đã ra chào đời trước những bản dịch.Và đặc biệt, có một bản dịch  ra chữ nôm, do nhà tàng bản Quan Văn Đường khắc ván vào mùa đông năm Mậu Thân đời Duy Tân, tức năm 1908. Nội dung chỉ có 4 hồi, từ “Tam Cố Thảo Lư” đến “Đương Dương Trường Bản”, không nói rõ là bao nhiêu tờ.

Đặc biệt, có một bản dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa không phải sang tiếng Việt, mà dịch ra tiếng Pháp do giáo sư Nghiêm Toản và và Louis Ricaud.

Cũng theo học giả Vương Lệ Na, các tuồng tích, hát bộ, cải lương hí khúc, kịch bản, của Việt nam lấy đề tài từ truyện Tam Quốc, được tổng kết là 21 đề tài. Chúng tôi xin liệt kê lại như dưới đây:

 

a-Các kịch bản, hát bộ, tuồng tích của VN, phát triển  từ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa

1-Lã Bố Sát Đinh Nguyên tác giả Nguyễn Thành Long xuất bản tại Sài gòn năm 1910.

2-Triệu Tử Long Đương Dương Trường Bản, tác giả Thông Khê xuất bản năm 1926 tại Sài Gòn.

3-Phụng Nghi Đình, tác giả Trương Quang Tiên, xuất bản tại Sài gòn năm 1926, do nhà xuất bản Cổ Kim Xuất Bản Xã.

4-Lưu Bị Cầu Hôn, tác giả Nguyễn Hiền Phu, xuất bản tại Sài gòn năm 1929 do nhà xuất bản Cổ Kim Xuất Bản Xã.

5-Tam Quốc Hí Khúc, tác giả Đặng Lễ Nghi, xuất bản tại Sài gòn năm 1929, do nhà xuất bản Cổ Kim Xuất Bản Xã.

6-Quan Công Thất Thủ Hạ Bì, tác giả Trần Phong Sắc, xuất bản năm 1929, tại Sài Gòn do Cổ Kim Xuất Bản Xã.

7-Triệu Tử Long Phò Á Đẩu, tác giả Lê Sầm Sơn, xuất bản năm 1929, tại Sài Gòn do Cổ Kim Xuất Bản Xã.

8-Đương Dương Trường Bản, không rõ tác giả, xuất bản năm 1934 tại Hà Nội, do nhà Thái Sơn Xuất Bản Xã.

9-Tam Quốc Hí Khúc, tác giả Nguyễn Tấn Chiếu, xuất bản năm 1934 tại Hà Nội, do nhà Nam Mỹ Xuất Bản Xã.

10-Tư Đồ Mưu Đổng Trác Lã Bố Hí Điêu Thuyền, tác giả Hoàng Thúc Khiêm, xuất bản năm 1936 tại Hà Nội, Thái Sơn xuất bản.

11-Quan Công Phò Nhị Tẩu, tác giả Thông Khê, xuất bản năm 1936 tại Sài gòn do Cổ Kim Xuất Bản Xã.

12-Quan Công Phục Hoa Dung Đạo, tác giả Thông Khê, xuất bản tại Sài gòn năm 1936, do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã.

13-Triệu Tử Long Đoạt Ấu Chúa; tác giả Thông Khê, xuất bản tại Sài Gòn năm 1936, do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã.

14-Lưu Bị Cầu Hôn Giang Tả, tác giả Thông Khê, xuất bản tại Sài Gòn năm 1936 do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã.

15-Tam Anh Chiến Lã Bố Trảm Hoa Hùng, tác giả Thông Khê, xuất bản tại Sài Gòn năm 1936 do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã.

16-Tam Khí Chu Công Cẩn, tác giả bất tường, xuất bản tại Sài Gòn năm 1936 do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã xuất bản.

17-Trương Phi Thủ Thành, tác giả Thông Khê, xuất bản tại Sài Gòn năm 1936 do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã.

18-Đại Chiến Mã Siêu Tào A Man Cát Tu, tác giả Thông Khê, xuất bản tại Sài Gòn năm 1937 do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã.

19-Phụng Nghi Đình, tác giả Thông Khê, xuất bản tại Sài Gòn năm 1939 do nhà Cổ Kim Xuất Bản Xã.

20-Đào Viên Kết Nghĩa, tác giả Nguyễn Thành Long, xuất bản tại Sài Gòn năm 1944.

21-Tam Quốc Hí Khúc, tác giả Đinh Thái Sơn và Bồng Dinh, không rõ năm và địa điểm xuất bản.

Bảng tóm lược:

 

Tên Cố Sự

Tác Gỉa

Tên nhà Xuất Bản

Năm Xuất Bản

Tại

Lã Bố Sát Đinh Nguyên

Nguyễn Thành Long

-

 1910

Sài gòn

Triệu Tử Long Đương Dương Trường Bản

Thông Khê

-

1926

Sài gòn

Phụng  Nghi Đình

Trương Quang Tiên

Cổ Kim Xuất Bản Xã

1926

Sài Gòn

Lưu Bị Cầu Hôn

Nguyễn Hiền Phu

Cổ Kim Xuất Bản Xã

1929

Sài Gòn

Tam Quốc Hí Khúc

Đặng Lễ Nghi

Cổ Kim Xuất Bản Xã

1929

Sài Gòn

Quan Công Thất Thủ Hạ Bì

Trần Phong Sắc

Cổ Kim Xuất Bản Xã

1929

Sài Gòn

Triệu Tử Long Phò A Đẩu

Lê Sầm Sơn

Cổ Kim Xuất Bản Xã

1929

Sài Gòn

Đương Dương Trường Bản

Không biết tác giả

Thái Sơn Xuất Bản Xã

1934

Hà Nội

Tam Quốc Hí Khúc

Nguyễn Tấn Chiếu

Nam Mỹ Xuất Bản Xã

1934

Hà Nội

Tư Đồ mưu Đổng Trác : Lã Bố Hí Điêu Thuyền

Hoàng Thúc Khiêm

Thái Sơn Xuất Bản Xã

1936

Hà Nội

Quan Công Phò Nhị Tẩu

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1936

Sài Gòn

Quan Công Phục Hoa Dung Đạo

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1936

Sài Gòn

Triệu Tử Long Đoạt  Âú Chúa

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1936

Sài Gòn

Lưu Bị Cầu Hôn Giang Tả

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1936

Sài Gòn

Tam Anh Chiến Lã Bố-Trảm Hoa Hùng

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1936

Sài Gòn

Tam Khí Chu Công Cẩn

Không rõ tác giả

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1936

Sài Gòn

Trương Phi Thủ Thành

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1936

Sài Gòn

Đại Mã Mã Siêu-Tào A Man Cát Tu

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1937

Sài Gòn

Phụng Nghi Đình

Thông Khê

Ni Kim Sơ Xuất Bản xã

1939

Sài Gòn

Đào VIên Kết Nghĩa

Nguyễn Thành Long

Bảo Tồn Ấn Loát xuất bản

1944

Sài Gòn

Quan Công Thất Thủ Hạ Bì

Nguyễn Thành Long

Bảo Tồn Ấn Loát xuất bản

1944

Sài Gòn

Tam Quốc Hí Khúc

Đinh Thái Sơn

Không rõ

Không rõ

Không rõ

 

b-Các dịch giả Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa sang Việt ngữ.

Cũng  theo học giả Vương Lệ Na, thì Việt Nam bắt đầu dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa  khởi thuỷ từ năm 1908. Đó là bản dịch ra chữ Nôm mà chúng tôi đã nhắc ở trên. Nhưng nếu tính từ năm 1918  đến năm 1972, cũng theo tác giả, thì chúng ta có 7 bản dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa khác nhau.

Xin liệt kê như sau :



1-Bản Nguyễn An Khương, dịch năm 1918, xuất bản tại Sài Gòn do Nông Cổ Mín Đàm xuất bản, không rõ số hồi.

 (; nghĩa là "uống trà bàn chuyện làm ruộng và đi buôn"), cũng có tên tiếng PhápCauseries sur l’agriculture et le commerce là tờ báo tiếng Việt do Paul Canavaggio - một chủ đồn điền và thương gia người đảo Corse, hội viên Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ làm chủ nhiệm, chủ bút lần lượt là các ký giả Dũ Thúc Lương Khắc Ninh, Gilbert Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt.

Nông Cổ Mính Đàm bàn về nông nghiệpthương nghiệp, phát hành thứ năm hằng tuần tại Sài Gòn bằng chữ Quốc ngữ. Số 1 ra ngày 1 tháng 8 năm 1901. Một thời gian sau báo được xuất bản một tuần 3 kì. Sau khi phát hành số ra ngày 4 tháng 11 năm 1921 thì báo bị đình bản. Đây được coi là tờ báo kinh tế đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Chữ Mín  âm hán việt là mính, nghĩa là trà, miền Nam đọc là mín.

2-BảnTam Quốc Chí Diễn Nghĩa Toàn dịch của Phan Kế Bính, xuất bản năm 1923 tại Hà Nội, bản này về sau từng được học giả Bùi Kỷ hiệu đính. Năm 1959, bản này lại được nhà xuất bản Phổ Thông in lại tại Hà Nội.

Năm 1962 lại được tái bản và năm 1972 do nhà xuất bản Khai Trí ở Sài Gòn in lại, sự hiệu đính của Bùi Kỷ đã đem lại cho nguyên tác nhiều sửa chữa.

3-Bản dịch  Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của Nghiêm Xuân Lãm, do nhà xuất bản Tân Dân tại Hà Nội năm 1931, nội dung từ hồi thứ nhất đến thứ sáu mươi sáu.

4- Bản dịch  Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của Vũ  Hy Tô, do nhà xuất bản Phú Văn Đường tại Hà Nội năm 1957, nội dung từ hồi thứ nhất đến thứ mười bẩy.

5- Bản dịch  Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của Lê Sơn, do báo Tiền Tiến tại Hà Nội xuất bản năm 1957, nội dung từ hồi thứ nhất đến thứ mười bẩy. Bản này có lời bình của Mao Tôn Cương.

6- Bản dịch  Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của Phan Quân, do nhà sách Khai Trí xuất bản tại Sài Gòn năm 1962.

7-- Bản dịch  Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của Nguyên Huấn Lãm, do Khai Trí xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn.

8- Chúng tôi xin liệt kê thêm  bản dịch của Tử Vi Lang (còn bút danh là Thầy Gòn), đăng hàng ngày trên Báo Ngôn Luận, từ hồi thứ nhất đến hồi một trăm hai mươi, cuối mỗi hồi đều có lời bàn của Kim Thánh Thán, văn chương điêu luyện, lưu loát, rất được độc giả Sài Gòn thời bấy giờ  hâm mộ, tìm đọc, khen là một bản dịch hay nhất. Bản này do cơ sở Ngôn Luận bản năm 1961 và năm 1962 tái bản.

 

Bảng tóm lược:

 

Số

Tên Dịch Giả

Tên nhà Xuất Bản

Năm Xuất Bản

Tại

1

Nguyễn An Khương

Nông Cổ Mín Đàn

1918

Sài Gòn

 

2

Phan Kế Bính-Bùi Kỷ hiệu đính

 

1923

Hà Nội

3

Nghiêm Xuân Lãm

Tân Dân

1931

Hà Nội

4

Vũ  Hy Tô

Phú Văn Đường

1957

Hà Nội

5

Lê Sơn

Tiểu Thuyết

1957

Hà Nội

6

Phan Quân

Khai Trí

1962

Sài Gòn

7

Nguyên Huấn Lãm

Khai Trí

1972

Sài Gòn

8

Tử Vi Lang

Ngôn Luận

1961-1962

Sài Gòn

 

*****

Gần đây, nhân có dịp lang thang rong chơi bên lề những trang mạng, chúng tôi có nhặt được một tin vui vui lý thú, liên quan đến các bản dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa. Đại để mục đích:

Quyển Tam quốc diễn nghĩa chữ quốc ngữ sớm nhất tại Việt Nam do Nguyễn Liên Phong dịch, ấn hành năm 1907 vừa được trưng bày đặc biệt tại nhà sách Cá Chép (223 Nguyễn Thị Minh Khai - Q1) từ ngày 9-4

Thông tin trên, cho độc giả biết người dịch Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa đầu tiên cách đây 109 năm là dịch giả Nguyễn Liên Phong, ấn hành năm 1907.

Đồng thời cũng giới thiệu các bản dịch khác, các dịch giả khác, có đôi chi tiết khác biệt về năm xuất bản so với tác giả Vương Lệ Na.

Như dưới đây :

-Bản Phan Kế Bính in năm 1909 do Nguyễn Văn Vĩnh hiệu đính.

-Bản Nguyễn An Cư do Tín Đức Thư Xã in lần thứ hai năm 1928 và lần ba 1929

-Bản Nguyễn Chánh Sắt in năm 1930

-Bản Nghiêm Xuân Lãm in năm 1933

- Bản Nghiêm Toản và Louis Ricaud dịch ra tiếng Pháp

-Bản Từ Mỹ và Viên Đình lược thuật in ngày 14-4-1975, được coi là bản Tam Quốc  cuối cùng.

 

***