Kính thưa Quý vị,
Trước hết, tôi xin phép được nói một chuyện nhỏ: Hồi nãy cô Diệu Quyên vừa
nói là thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 6 tháng 9 năm 1976. Điều ấy đúng như
Wikipedia. Có tài liệu ghi rằng ông mất ngày 7 tháng 9. Sự thực là ông qua đời
lúc nửa đêm ngày 6 qua ngày 7 tháng 9. Bà Vũ Hoàng Chương tin rằng ông có linh
giác khi viết câu “Đêm nào ta trở về ngôi,” in trong bài “Nguyện cầu,” bài thơ
mở đầu tập Rừng Phong từ năm 1954. Qua nửa đêm thì thuộc về hôm sau, nên
những người nói ông mất ngày 7 tháng 9 cũng có lý. Nếu đọc bài “Gặp bà Thục
Oanh, nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương” của nhà văn Hoàng Quốc Hải, một nhà văn và
biên khảo được nhiều người mến mộ ở trong nước, in trong cuốn Trắng Án Nguyễn
Thị Lộ, rồi in lại trong cuốn Kẻ Sĩ Trước Thời Cuộc, thì chúng ta thấy
rằng bà Thục Oanh, tức bà Vũ Hoàng Chương, cho biết là “thi sĩ Vũ Hoàng Chương
qua đời ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn 1976, trước Trung Thu một ngày.”
Bà Thục Oanh nhớ ngày giỗ theo âm lịch, và “trước Trung Thu một ngày” là một
ngày dễ nhớ. Một nhà thơ có tình thân với ông bà Vũ Hoàng Chương, nữ sĩ
Hoàng Hương Trang, cũng làm thơ tưởng niệm thi sĩ Vũ Hoàng Chương vào ngày 14
tháng 8 âm lịch.
Hiện nay chúng ta theo dương lịch. Nhiều gia đình cũng đã nhớ ngày giỗ theo
dương lịch, nhưng chúng ta vẫn ghi nhớ những ngày theo âm lịch quan trọng như Tết
Nguyên Đán, Tết Trung Thu, ngày Rằm tháng Bảy “Xá tội vong nhân.” Vì thế tôi
xin thưa rằng theo âm lịch, hôm nay là ngày 10 tháng 8, ngày giỗ Nguyễn Du mà Vũ
Hoàng Chương luôn luôn ghi nhớ, rồi 4 hôm nữa, Thứ Năm tuần này, là 14 tháng
8 âm lịch, một ngày trước Trung Thu, chính là ngày giỗ thi sĩ Vũ Hoàng Chương.
Nhận xét về Vũ Hoàng Chương tại hai miền Nam Bắc Việt Nam trong thời gian đất
nước chia đôi và ít chục năm sau đó cũng khác nhau rất nhiều. Một người cháu gọi
tôi là bác ruột nhưng sinh ra và lớn lên ở ngoài Bắc có lần nói chuyện với tôi
về thơ văn. Cháu có khiếu về văn chương. Một lần trong câu chuyện tôi nhắc đến
danh hiệu thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Cháu hỏi lại một cách thành thật và lễ phép: “Vũ
Hoàng Chương có gì đáng nói đâu bác? Tác giả này phóng đãng và trụy lạc, thơ
văn có ra gì đâu!” Tôi không ngạc nhiên vì biết rằng cháu được dạy như thế từ nhỏ,
chỉ được biết về Vũ Hoàng Chương qua mấy câu của bài “Say đi em” (sau đổi tên
là bài “Mời say”):
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêng, cho điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa! và quên quên hết!
(Cháu không được cho biết những câu sau)
Cháu cũng được dạy rằng VHC” là nhà thơ đam mê nhục dục, thân xác,” chuyên
ca ngợi những cảnh:
Hai xác thịt lẫn vào nhau
mê mải.
Không được đọc toàn thể bài “Tối tân hôn,” cháu không biết gì về những câu trước
và sau của câu ấy:
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn
Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nơi hạ giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn.
Theo nhà giáo, nhà văn Nguyễn Thông, tốt nghiệp khoa Văn,
Đại học Tổng hợp Hà
Nội, được cử vào dạy ở trong Nam từ năm 1977, trong bài
“Án văn 7”, đăng trên Văn
Việt ngày 5 tháng 9-2026 vừa qua (đúng nửa tháng trước đây), thì trong thời
gian ông
còn ngồi trên ghế nhà trường:
“Ở miền Bắc những năm đó, Vũ
Hoàng Chương bị án “tử hình về văn nghệ”, đã “chết” như khá nhiều người có số
phận giống ông, những Đinh Hùng, Phạm Duy, Hồ Hữu Tường, Nhất Linh, Doãn Quốc Sỹ,
Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến… Thậm chí cả những tên tuổi như ... Nguyễn Bính, một
hồn thơ hiền lành, đa cảm, tài hoa, Vũ Trọng Phụng vốn chả gây thù chuốc oán gì
với họ, Khái Hưng ... của nhóm Tự lực văn đoàn… mà họ còn cấm tiệt thông tin, cấm
tiệt xuất bản, loại hẳn khỏi sách giáo khoa và đời sống văn nghệ, huống hồ là
những người đang sống, sáng tác trong chế độ “ngụy quyền.”
Với chính quyền ở miền Bắc, văn nghệ phải đi với chính trị, tuyệt đối phục tùng chính trị. Chỉ cần trái ý họ, không làm theo lời họ là bị thi hành án, mà rõ nhất là Nhân văn – Giai phẩm với những nhân vật “chiếu trên” trong đời sống văn nghệ khi ấy như Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán…
Huống chi với một người như
Vũ Hoàng Chương, họ luôn luôn coi là kẻ không đội trời chung, có tài mấy,
hay mấy cũng phải bị hủy diệt, cả danh tiếng lẫn con người.
Nhà giáo Nguyễn Thông sống ở miền Bắc trong ba thập niên, từ nửa cuối thập niên 1950 đến nửa đầu thập niên 1970, nên biết rõ việc Vũ Hoàng Chương bị chính quyền Bắc vĩ tuyến 17 đối xử thế nào:
Hầu hết dân Bắc những năm
đó không biết gì về Vũ Hoàng Chương. Báo đài không đề cập, không nhắc tới.
Sách giáo khoa lại càng không.
Cũng có lúc, rất ít ỏi, người
ta nhắc tới Vũ Hoàng Chương và những người như ông, chẳng hạn Nhất Linh, nhưng
là để… chửi. Đội ngũ những nhân vật phục tùng chính trị như Hoài Thanh, Chế Lan
Viên, Xuân Diệu, Huy Cận…, một số bạn bè cũ của Vũ Hoàng Chương, từng một thời
khâm phục ông, ca ngợi ông, đề cao ông, nay quay ngoắt chửi ông ra rả, rằng “đồi
trụy, trai gái, nghiện ngập, khốn nạn, điên khùng, phản động, thơ chẳng ra thơ,
người chả ra người ...”
Nếu họ có nhắc tới Vũ Hoàng
Chương, thường chỉ đưa ra những câu nhằm hạch tội, đủ thứ tội: “Say đi em/Say
cho lơi lả ánh đèn/Cho cung bậc ngả nghiêng/Cho điên rồ xác thịt” (tội trụy lạc,
trai gái), hay là: “Bao giờ ta trở lại cố đô/Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ” (tội phản
động, “chống cộng,” thô bỉ, tàn bạo).
Câu thơ trên, Lưỡi lê no
máu rửa Tây hồ, không phải của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhưng ông Trần Bạch
Đằng, Ủy viên Tuyên huấn Trung ương Đảng CSVN, qua bút hiệu Nguyễn Trương Thiên
Lý, đã viết khơi khơi rằng “đó là thơ Vũ Hoàng Chương,” cốt để dân miền Bắc căm
ghét, thù hận Vũ Hoàng Chương.
Dân Việt ở phía Nam vĩ tuyến 17 nhìn thấy một Vũ Hoàng Chương khác, một nhà thơ hiền hòa:
Ta van cát bụi trên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này (1954)
Nghe được từ lâu cá thở than
Hôm nay mới sõi tiếng cây ngàn.
Bao giờ tôi hiểu sâu lòng đất
Là thấy đường lên cõi Niết bàn (1962)
Thi sĩ Việt, trong tay không tấc sắt
Chưa giết một ai trên nẻo luân hồi
Vàng hoen máu không một lần để mắt... (1965)
Tạo “duyên” thay “nghiệp,” dây Oan gỡ
Hiểu “sắc” là “không,” bến Giác kề (1967)
Ta đứng trông về cái chính ta
Hồn xanh trong nếp áo thu già
Cánh tay xưa níu trời cao mãi
Nay chống ô chờ đất nở hoa (1972).
(So với năm 1954: Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời).
Với miền Nam, Vũ Hoàng Chương
được coi là một nhà thơ có niềm thông cảm với người dân, đã nói lên những điều người
dân không thể nói hay không dám nói:
Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.
Những người tìm cách vượt biển
những năm cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980 ... thấy thơ Vũ Hoàng Chương
nói lên cảnh ngộ của họ:
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ,
giống nòi khinh...
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh...
Dân miền Nam
biết rằng nhà thơ Vũ Hoàng Chương có một nhược điểm: đau đớn cho mối tình đầu theo
đuổi trong gần 10 năm bị tan vỡ, nhà thơ – từ hồi còn trẻ -- tìm quên trong
khói thuốc phiện (nàng tiên nâu), rồi sau trở nên nghiện, không bỏ được. Chúng
ta thông cảm cho nỗi đau đớn ấy:
Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai
Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của ai.
Ngoài nhược
điểm ấy, Vũ Hoàng Chương không phải là một kẻ trụy lạc, bê tha, phóng đãng ...
như nhà cầm quyền miền Bắc muốn mô tả.
Sự kiện tác
giả bài “Say đi em” không phải là một dân ăn chơi được một người bạn thân của
ông, nhà thơ Tô Kiều Ngân, xác nhận:
“Đọc thơ Vũ
Hoàng Chương, với những câu:
Say đi em, say đi em
Say cho lơi lả ánh
đèn
Cho cung bậc ngả
nghiêng, điên rồ xác thịt
Nhiều người tưởng là ông rượu chè be bét. Kỳ thực Vũ
không uống được rượu, hoặc uống rất ít. Mà đó là hồi còn trẻ, ở Hà Nội. Từ khi
quen anh ở Sài Gòn, tôi chưa bao giờ thấy anh say sưa.”
Họa sĩ Tạ Tỵ cũng cho biết ông có hai người bạn trong giới văn nghệ không uống được rượu, một trong hai người ấy là Vũ Hoàng Chương. Nhà thơ Tô Kiều Ngân cho biết tiếp:
“Vũ cũng không biết nhảy đầm mặc dầu tả nhảy đầm rất hay... Có thể lúc còn trẻ Vũ đã đi nhảy đôi lần. Còn khi vào Sài Gòn chẳng thấy anh chuyện trò gì về khiêu vũ. Một người quen mặc áo gấm, áo the, đi guốc mộc hay giày hạ như anh hẳn là lạ lẫm lắm với cảnh bốn tường gương điên đảo. Hỏi anh Grand Monde ở đâu, Croix du Sud, Tabarin, Mỹ Phụng ở đâu (tên các tiệm nhảy danh tiếng ở SG), anh lắc đầu bảo ‘không biết’.”
Với miền Nam, Vũ Hoàng Chương còn là một nhà giáo được hầu hết học sinh kính trọng và quý mến. Nhà văn Song Thao nhớ lại kỷ niệm cùng mấy người bạn đến thăm, chúc Tết thầy đầu năm Bính Thân 1956:
“Chúng tôi
ngỏ ý cáo từ để Thầy nghỉ thì Thầy khoát tay bảo chúng tôi ngồi lại. Thầy lấy mực
và một xấp giấy đỏ ra để tặng chữ, tặng thơ kỷ niệm. Không khí vui nhộn hẳn
lên. Chúng tôi lật những tập thơ của Thầy ra tìm những câu thích nhất để xin Thầy
viết. Có anh lại xin Thầy một đôi câu đối chữ Hán... Thầy chỉ khẽ mỉm cười vung
tay viết ra những chữ đẹp như vẽ. Chỉ cần nhìn vào nét chữ cũng đủ thấy cái tài
hoa khôn sánh của Thầy. Mỗi chữ lững lờ như tiềm tàng niềm ngây ngất ẩn dấu. Thấy
chữ như buông thả mà trong chữ dường như có tâm sự riêng...
... Trên đường
về tôi cười một mình khi thấy sao mà cảnh tết thầy vừa rồi giống như cảnh tết
thầy của một thời xa lắc xa lơ khi các cụ đồ nho ngồi dạy học được coi như những
bậc quân tử được mọi người bái phục, kính nể. Sự so sánh lẩm cẩm này làm nẩy
sinh ra một câu hỏi. Vì sao Thầy lại có một chỗ đứng riêng biệt trong lòng
chúng tôi như vậy? Bởi vì chúng tôi mến mộ thi tài của Thầy? Bởi vì chúng tôi
quí trọng tư cách của Thầy? Bởi vì chúng tôi yêu mến Thầy? Bởi vì chúng tôi xót
xa cho sức khỏe của Thầy? Bởi vì chúng tôi trân trọng cố gắng truyền đạt kiến
thức của Thầy? Có lẽ phải cộng tất cả những cái ‘bởi vì’ này mới có một câu trả
lời tạm đầy đủ”
Hồi nãy cô
Ysa vừa cho biết là thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm Chủ tịch Văn Bút Việt Nam từ năm
1964 đến 1968. Theo nhà văn Nhật Tiến, sau khi không giữ nhiệm vụ Chủ tịch nữa,
nhà thơ Vũ Hoàng Chương vẫn rất quan tâm đến Văn Bút trong cương vị Cố vấn. Nhà
văn Nhật Tiến viết, “Sau này, trong vai trò Cố vấn Văn Bút, thi sĩ vẫn rất
siêng năng đi họp. Ông ngồi đấy, nhìn những đàn em với cặp mắt hiền từ, bao
dung, như sẵn sàng chia sẻ với mọi người trong các vấn đề đang bàn thảo...”
Là một trong
những học trò cũ của nhà giáo, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, bạn cùng lớp với anh
Song Thao, tôi có ý định viết một cuốn sách về thầy mình từ khoảng năm 2016
nhưng những năm ấy chưa gom góp được đủ tài liệu. Nhờ nhà sưu tầm thơ Trần Ngọc
Khôi đã tìm lại được đầy đủ các tác phẩm của Vũ Hoàng Chương, từng được in thành
thi tập hay được đăng rải rác trên các báo, tạp chí, đặc san của miền Nam trong
những năm 1954-1975, công việc của tôi bớt khó khăn. Nhờ sự cố gắng của một số vị
có lòng với lịch sử và văn hóa như nhà giáo Huỳnh Chiếu Đẳng, nhiều sách báo, tạp
chí của miền Nam trước biến cố 1975 như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Văn Hóa
Nguyệt San ..., các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận, Chính Luận, Tiền Tuyến,
Hòa Bình, Tiếng Chuông, Sống, Sóng Thần ... dần dần được phục hồi, giúp tôi
có cái nhìn tạm đầy đủ về lịch sử và xã hội miền Nam trong những năm ấy, nên mới
dám khởi sự viết. Tuy tôi được mấy người bạn tận tâm giúp đỡ, công việc của một
nhóm 4, 5 người khó có thể toàn hảo. Ước mong khi đọc sách, các bậc thức giả thấy
có chỗ nào thiếu sót hay chưa hoàn toàn chính xác, xin vui lòng chỉ cho biết để
khi tái bản, sách được hoàn chỉnh hơn, chúng tôi xin thành thật cảm ơn trước.
Ngoài bìa
sách có ghi tên Gs Phạm Thị Lệ-Hương, một người bạn chúng tôi, nguyên là giáo
sư và Quản thủ thư viện tại Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Ở bìa sau cũng in
lời của Gs Lệ Hương về việc biên soạn một Thư tịch chú giải thật đầy đủ về Vũ
Hoàng Chương, một tài liệu sẽ rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu lớp sau, nhưng
trong tập sách phát hành hôm nay chưa có bản Thư tịch ấy. Lý do là gần tới ngày
đưa sách đi in, bản Thư tịch vẫn có chỗ
cần được bổ túc. Trước cuối năm nay, chúng tôi sẽ in tập 2 của bộ sách với bản
Thư tịch với những lời chú giải ấy. Trong tập 2 cũng sẽ có một số bài về bà Vũ
Hoàng Chương, (cũng là chị ruột của nhà thơ Đinh Hùng), một nhân vật rất quan trọng
đối với thi nghiệp của Vũ Hoàng Chương mà theo nhận xét của họa sĩ Tạ Tỵ, “Đó là
một người có tình thương yêu vô lượng, có sức chịu đựng phi thường,” và, “Sự
nghiệp của Vũ Hoàng Chương được thành quả, một phần cũng bởi lòng hy sinh cao cả
và ý chí sắt son của tâm hồn khả kính ấy.” Chúng tôi cũng sẽ cho in trong tập 2
một số thơ tưởng niệm Vũ Hoàng Chương rất đặc sắc nhưng phát hiện được trễ, sau
khi đưa tập 1 đi in.
Cám ơn Quý vị
đã đồng cảm với ý nghĩ “nên có một hình thức tưởng niệm dành cho thi sĩ Vũ
Hoàng Chương” hôm nay:
--Một nhà
thơ có chân tài,
--Một tâm hồn
nhân hậu,
--Một tư
cách khảng khái,
--Một vị thầy
được học sinh kính ngưỡng,
--Một người
cầm bút với nhiều từng trải, rất quan tâm tới tập thể cùng tới thế hệ sau.
Xin cám ơn sự
lưu tâm lắng nghe của toàn thể Quý vị.
Trần Huy
Bích

