Dự án tái bản tác phẩm Nhật Ký An Lộc của BS Nguyễn Văn Quý, 24 năm sau lần xuất bản đầu tiên năm 2002, đồng thời mở ra một hướng đi xa hơn: chuẩn bị cho một ấn bản Anh ngữ tại một Nhà xuất bản Đại học.
Cuộc phỏng vấn này là một bước chuẩn
bị cho Dự Án Tổng Thể của ấn bản tiếng Anh.
Tựa sách dự kiến:
AN LỘC DIARY / NHẬT KÝ AN LỘC
A South Vietnamese Military
Physician’s Eyewitness Account of the 1972 Siege
Một bác sĩ giải phẫu miền Nam Việt
Nam trong vòng vây, 1972
Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Văn Quý
Chủ biên: Bác sĩ Ngô Thế Vinh
Dịch giả: Sẽ tuyển chọn
Người viết dẫn nhập lịch sử: Sẽ tuyển chọn
Hình thức dự kiến: Ấn bản Anh ngữ học thuật có chú giải
Lĩnh vực: Nghiên cứu Chiến tranh Việt Nam, Nghiên cứu Đông Nam Á,
Quân y, Nhân văn y học, Chiến tranh và xã hội, Hồi ký và tư liệu gốc
Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý và phu nhân, bà Quách Thị Minh, người ghi chép cuộc phỏng vấn. [Ảnh gia đình, tháng 09/ 2026]
TẦM NHÌN VÀ MỤC ĐÍCH
Dự án không chỉ là dịch Nhật
Ký An Lộc từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Mục tiêu rộng hơn là xác lập
nhật ký thời chiến của Nguyễn Văn Quý như một tư liệu gốc có kiểm chứng, góp
phần vào nghiên cứu quốc tế về Chiến tranh Việt Nam.
Sau đây là phần trả lời các câu hỏi
của BS Nguyễn Văn Quý, nguyên vẹn ở dạng bản thảo, hoàn toàn không hiệu đính
hay cắt xén.
BS Ngô Thế Vinh, 09/2026
TÓM TẮT DỰ ÁN PHỎNG VẤN BS NGUYỄN VĂN QUÝ
(Chuẩn bị cho ấn bản Anh ngữ có chú
giải của “Nhật Ký An Lộc”)
Người thực hiện: BS Ngô Thế Vinh
Mục tiêu: Thu thập lịch sử truyền khẩu (oral history),
xác minh sử liệu, thiết lập nguồn gốc bản thảo (chain of custody) và tái
dựng bối cảnh y khoa chiến trường.
NỘI DUNG 21
CÂU HỎI PHỎNG VẤN
I. LỊCH SỬ BẢN THẢO & SỰ KIỆN
Câu 1–8
1. Thời điểm, địa điểm, lý do bắt
đầu viết nhật ký và ý định ban đầu: dành cho gia đình hay làm tài liệu lịch sử?
Ngay từ đầu trận đánh, tôi đã cảm
thấy đây là một trận chiến lớn. Tôi quyết định ghi chép lại mọi việc, phòng
trường hợp nếu không sống sót trở về thì người thân trong gia đình biết được
những gì đã xảy ra và những gì tôi đã làm.
2. Hình thức bản thảo gốc năm 1972:
sổ, giấy rời, loại bút, nơi viết; có bị hư hại không?
Tôi viết vào một cuốn vở học sinh
bằng bút bi Bic. Nơi viết thường là vào ban đêm, dưới gầm giường trong phòng
ngủ để tránh pháo kích. Rất may mắn là phòng ngủ của tôi không bị trúng pháo
kích trong thời gian đầu và mỗi lần di chuyển tôi đều mang nó theo. Có thể nói
nhờ bom đạn “tránh” tôi nên bản thảo cũng may mắn được nguyên lành.
3. Bản thảo gốc năm 1972 còn không?
Ai giữ? Đâu là bản sao sớm nhất để làm base text?
Sau khi rời An Lộc về lại Sài Gòn,
tôi đã đánh máy lại toàn bộ với những chỉnh sửa cần thiết để người đọc thấy dễ
hiểu hơn. Vì bản chép tay ban đầu chỉ là những nét ghi vội vã, viết ngoáy các ý
chính, không đầu không đuôi nên sau khi hoàn thành bản đánh máy, tôi thấy không
cần thiết giữ lại bản nháp tay nữa.
Năm 1979, khi vượt biển ra đi, tôi
hoàn toàn đi tay trắng. Rất may mắn là đến năm 1991, cô em gái tôi khi sang Mỹ
xuất cảnh theo diện đoàn tụ gia đình đã mang theo được bản thảo đánh máy này
cùng với bộ phim slides.
4. Hành trình bản thảo và hình ảnh
rời Việt Nam qua các mốc 1975, 1979 và khi nhận lại?
Sau biến cố 1975 và kể cả sau khi
tôi vượt biển năm 1979, bản thảo đánh máy và các phim slides vẫn được mẹ và em
gái tôi giữ tại nhà ở Việt Nam. Đến năm 1991, khi em gái tôi sang California
theo diện gia đình bảo lãnh, cô ấy mới trao lại cho tôi.
5. Mức độ chỉnh sửa/thêm bớt về tên
người, ngày tháng, suy ngẫm, chính trị khi xuất bản năm 2002 tại California?
Lúc viết năm 1972, thấy gì tôi ghi
nấy, có cả những kỷ niệm riêng tư nảy ra lúc đó, ghi rất tự nhiên chứ không gò
ép. Sau này khi có chương trình Microsoft Word, tôi đánh máy lại thì sắp xếp
lại cho bớt lộn xộn, bỏ bớt những đoạn điệp ý và thêm chi tiết rõ ràng hơn cho
người đọc…
Còn phần Lời Tựa, Lời Mở Đầu có mấy
đoạn kể chuyện trước khi đến An Lộc và chuyện thăm lại chiến trường sau này,
hay chương cuối lúc về phép và sau khi giã từ Bình Long... đều là “hồi ký”, tôi
viết thêm sau này trên máy tính, chứ không phải nhật ký nguyên bản năm 1972.
6. Vai trò biên tập của NXB Văn Nghệ
và Từ Mẫn Võ Thắng Tiết năm 2002; có còn lưu tư liệu/bản thảo sửa đổi không?
Khi giao bản thảo cho NXB Văn Nghệ,
tôi chỉ đề nghị họ đổi tựa sách từ “Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long” thành “Nhật
Ký An Lộc: 86 ngày của một bác sĩ giải phẫu tại mặt trận” theo lời đề nghị của
BS Ngô Thế Vinh.
Với sự tin tưởng nơi nhà xuất bản
qua lời giới thiệu của BS Vinh và công việc rất bận rộn tại phòng mạch lúc đó,
tôi đã không kiểm tra lại xem bản thảo có được sửa chữa hay thay đổi gì không.
Đến khi nhận sách đã in để chuẩn bị cho buổi ra mắt, tôi mới thấy tên tôi đã
được sửa từ “Quý” thành “Quí”. Khi tôi phàn nàn, ông Võ Thắng Tiết giải thích
rằng nhà văn Nguyễn Hiến Lê luôn viết theo quy tắc chính tả đó. Vì sách đã in
xong nên đành chịu. Mãi đến khi bản vi tính được gõ lại gần đây, tên tôi mới
được sửa lại.
Tôi không nhớ NXB có trả lại bản
thảo hay không. Tôi có giữ một bản sao, nhưng sau khi sách in xong vài năm thì
cũng thất lạc hay bỏ đi, vì tôi chưa hề nghĩ rằng sẽ có ngày tài liệu này được
hỏi đến.
7. Anh cho biết có những thời gian
chiến sự quá dữ dội khiến anh không thể viết trong hai hoặc ba tuần. Những
khoảng trống ấy nằm vào khoảng thời gian nào?
Trong Lời Tựa (Về Nhật Ký Này)
tôi có viết: “Những ngày đầu của trận đánh tương đối tôi còn có thì giờ để
viết. Sau đó trận chiến trở nên gay cấn, nguy hiểm, sống chết không biết lúc
nào, vì bệnh viện đã ở ngay sát tuyến đầu. Hơn nữa vì quá bận rộn săn sóc
thương binh nên tôi không có thì giờ viết hàng ngày được. Có khi tôi phải gián
đoạn tới hai, ba tuần.”
Ngẫm lại tôi thấy chi tiết “gián
đoạn hai, ba tuần” có lẽ không đúng lắm.
Ngày vui bao giờ cũng qua mau. Ngược
lại, giữa cái cảnh địa ngục trần gian ở An Lộc ngày ấy, mỗi ngày đối với chúng
tôi dài hơn 24 tiếng nhiều, bởi sự mong đợi “một ánh sáng nơi cuối đường hầm”;
chỉ một vài ngày không viết mà cứ tưởng chừng như đã ngưng cả tuần.
Ngoài chuyện rất bận rộn vì thương
binh quá nhiều với những ca mổ liên tục và khi phải di chuyển phòng mổ sang Bộ
Chỉ Huy dưới hầm ngầm vì bệnh viện đã bị hư hoại bởi pháo kích, còn một nguyên
nhân tâm lý rất lớn: có những lúc chán nản và căng thẳng tột độ giữa ranh giới
sống chết khiến tôi không còn tâm trí đâu để ghi chép.
8. Cách tái lập trình tự sự kiện sau
những gián đoạn: trí nhớ, ghi chú, lịch, hồ sơ bệnh viện...?
Hầu hết là dựa trên các mảnh ghi chú
ngắn ghi vội lúc đó kết hợp với hồi tưởng của trí nhớ sau này. Riêng danh sách
và số lượng ca mổ thì có một ông Thượng sĩ giữ sổ, ghi chép lại tên tuổi, cấp
bậc của từng bệnh nhân mỗi ngày.
II. Y
KHOA & THỰC ĐỊA BỆNH VIỆN BÌNH LONG
Câu 9–14
9. Quy mô Bệnh viện Bình Long trước
trận đánh: giường, bác sĩ, máy gây mê, X-ray, thuốc, máu...?
Bệnh viện Tiểu khu Bình Long lúc đó
có chừng 103 giường, nhưng bác sĩ điều trị thì vỏn vẹn chỉ có 3 người: anh Lê
Hữu Chí (bạn cùng khóa với tôi) lo bên Nội khoa; anh Nguyễn Phúc phụ trách Sản
phụ khoa, kiêm luôn Trưởng Ty Y tế; còn tôi thì gánh bên Ngoại khoa.
Ngoài ra còn có một bác sĩ quân y Mỹ
là David Risch, thuộc đoàn MILPHAP 10, cùng phụ với tôi bên Ngoại khoa. Nhưng
đúng lúc trận chiến bùng nổ thì anh Risch lại đang nghỉ phép.
Lúc mất điện thì mấy máy móc như
X-quang coi như vô dụng. Việc gây mê hoàn toàn làm bằng tay, do mấy y tá đảm
nhiệm chứ chẳng có máy móc hỗ trợ gì. Thuốc men cần thiết như kháng sinh
Penicillin hay thuốc giảm đau thì cũng tạm đủ xài. Còn máu thì lúc cần cấp cứu
là lại phải hô hào mọi người ra hiến trực tiếp tại chỗ.
10. Sự thay đổi của bệnh viện khi bị
bao vây: lượng thương binh đỉnh điểm, bố trí chỗ nằm, tình trạng pháo kích?
Tôi không còn nhớ chính xác con số
thương binh đỉnh điểm trong một ngày. Khi bệnh viện hoàn toàn quá tải và hết
giường, tất cả thương bệnh binh lẫn thường dân phải nằm la liệt ngoài hành
lang.
Tình trạng pháo kích diễn ra liên
tục và dữ dội. Dù phòng mổ may mắn không bị trúng pháo trực tiếp, nhưng sức
chấn động từ các quả đạn pháo rơi gần đó nhiều lúc làm rụng cả bụi đất và thạch
cao từ trần nhà xuống, ngay trong lúc chúng tôi đang tiến hành phẫu thuật.
11. Nguồn gốc con số 254 cuộc đại
giải phẫu và định nghĩa “đại giải phẫu” thời đó?
Con số 254 thực chất là tổng số tất
cả các ca phẫu thuật được ghi nhận, bao gồm cả đại phẫu lẫn tiểu phẫu.
Trong điều kiện chiến trường lúc bấy
giờ, “đại giải phẫu” được định nghĩa là những ca phẫu thuật phức tạp đòi hỏi
phải gây mê toàn thân, mổ ngực, mổ bụng, hoặc cắt lọc và đoạn chi (cắt bỏ tay
chân).
12. Phân loại 254 ca mổ: vết thương
bụng, ngực, chi, bỏng... và ca bệnh nhớ nhất sau hơn 50 năm?
Hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi, tôi
không nhớ nổi chi tiết từng loại vết thương hay chính xác bao nhiêu ca bụng,
ngực, đầu, mạch máu, rồi ca nào do mảnh pháo, ca nào do đạn nhọn. Nhưng ám ảnh
nhất trong đầu tôi đến tận bây giờ vẫn là những ca mổ đặc biệt về kỹ thuật, khi
phải xoay xở giữa những tổn thương cực kỳ phức tạp trong khi phòng mổ thiếu
thốn đủ thứ, từ ánh sáng cho tới đồ khử trùng.
Ca mổ làm tôi nhớ đời nhất là lần
đầu tiên mổ nối động mạch cánh tay cho một người lính trẻ. Tôi không bao giờ
quên được ánh mắt van nài và lời cầu khẩn. Rơm rớm nước mắt, anh rưng rưng nói:
“Bác sĩ ơi, xin bác sĩ ráng giữ cái
tay cho em, đừng cắt... Bác sĩ mà cắt tay em thì chắc em chết mất, em còn tới
sáu đứa con nhỏ ở nhà...”
Thực sự lúc đó hy vọng mong manh
lắm, vì vết thương bị lâu rồi, quá mất 6 tiếng đồng hồ. Nhưng thật may mắn, lần
mổ đó thành công êm đẹp.
Với tôi, mổ bụng cứu sống một mạng
người tôi cũng quý, nhưng cảm giác không vui sướng bằng việc nối thành công cái
động mạch để cứu lại nguyên một phần thân thể cho bệnh nhân. Vì kết quả nó diễn
ra ngay trước mắt: bàn tay đang tái héo, lạnh ngắt tự nhiên hồng hào và ấm dần
lên ngay trên bàn mổ, cảm giác đó thật tuyệt vời!
13. Quy trình phân loại bệnh nhân (triage)
và các quyết định y khoa/đạo đức khó khăn?
Khi nhân lực và các phương tiện y tế
như máu, oxy đều cạn kiệt, mà thời gian mổ thì có hạn, việc phải quyết định ưu
tiên mổ cho ai thực sự là những lựa chọn “sinh tử” vô cùng khó khăn đối với
người thầy thuốc.
Nhiều lúc, giữa ranh giới sống chết
mong manh đó, chẳng còn sách vở hay quy trình nào hướng dẫn nổi nữa, người bác
sĩ đành phải dựa vào cảm tính và linh tính (intuition) của chính mình để
đưa ra quyết định.
14. Việc điều trị cho thương binh
phía bên kia, tinh thần Y đức và Lời thề Hippocrates?
Về nguyên tắc trung lập y khoa (Medical
Neutrality): trước vết thương và ranh giới giữa sự sống với cái chết, chúng
tôi chỉ nhìn thấy bệnh nhân chứ không còn khái niệm bạn-thù.
Đứng trước thương binh phía bên kia,
người bác sĩ chỉ đơn thuần thực thi Lời thề Hippocrates và bổn phận cứu người.
III. BỐI CẢNH, CON
NGƯỜI & DI SẢN
Câu 15–21
15. Nguồn tin quân sự thời điểm đó:
radio, cố vấn Mỹ, bệnh nhân... so với thực tế được biết sau này?
Khi bệnh viện hoàn toàn bị cô lập,
tôi không nắm được nhiều thông tin quân sự toàn cục. Dù có nghe được đài BBC,
nhưng thời điểm đó “Mùa hè đỏ lửa” diễn ra đồng loạt nhiều trận đánh lớn trên
toàn quốc, nên thông tin riêng về chiến trường An Lộc cũng rất hạn chế.
16. Mảnh ký ức/thời điểm tin rằng An
Lộc sẽ thất thủ và nỗi sợ lớn nhất?
Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi không
phải là cái chết thông thường, mà là cảm giác bất lực khi phương tiện y tế cạn
kiệt không thể cứu chữa thương binh; hoặc nỗi sợ chính bản thân mình bị thương
mà không có ai cứu chữa, vì tôi là bác sĩ giải phẫu duy nhất tại bệnh viện.
17. Đào tạo Y khoa Sài Gòn đã chuẩn
bị được gì và không chuẩn bị được gì cho y khoa chiến trường?
Thực tế tàn khốc của một cuộc chiến
tranh quy mô lớn là điều không một trường y hay sách vở nào có thể dự báo
trước.
Trường Y khoa Sài Gòn chủ yếu trang
bị kiến thức y khoa căn bản, chưa thể chuẩn bị nhiều cho y khoa chiến trường
tàn khốc, nơi việc sơ cứu thông thường chỉ dừng ở mức băng bó và di tản thương
binh như công việc của một y tá.
Toàn bộ kỹ năng và kinh nghiệm phẫu
thuật chiến trường thực tế mà tôi có được đều nhờ vào một năm thụ huấn chuyên
môn giải phẫu dã chiến tại Tổng Y viện Cộng Hòa.
18. Tri ân những con người lặng lẽ
giúp bệnh viện tồn tại: y tá, tải thương, người cho máu, linh mục...?
Đó là những y tá, y công, người phụ
gây mê, anh em tải thương, những người lặng lẽ dọn dẹp, đi tìm từng nguồn nước,
từng cây nến, hay giúp chôn cất người tử thương...
Họ chính là những người đã giữ cho
“nhịp đập” của bệnh viện tiếp tục duy trì, dù tên tuổi của họ không hề xuất
hiện trong bất kỳ bản báo cáo chiến sự nào.
19. Tư liệu hình ảnh/slides: ai
chụp, hoàn cảnh, bản gốc và các chứng từ liên quan để lập Archive?
Tất cả hình ảnh tư liệu trong cuốn
nhật ký này đều được chụp bằng chiếc máy ảnh Canon cá nhân và sử dụng phim
slides (dương bản). Trừ những bức ảnh có mặt tôi, các tấm ảnh còn lại đều do tự
tay tôi bấm máy.
Năm 1972, khi từ An Lộc trở về Sài
Gòn, tôi có hai cuộn phim slide chụp tại chiến trường. Vì không tin tưởng chất
lượng rửa phim màu slide của các tiệm ảnh ở Sài Gòn lúc đó, tôi đã nhờ cô em
gái (đang làm kế toán cho Văn phòng Cố vấn Quân sự Mỹ - US DAO) gửi hai cuộn
phim này qua hệ thống PX (Post Exchange) sang Hawaii để tráng và rửa.
Đến năm 2002, khi chuẩn bị xuất bản
sách, tôi chọn lọc những tấm slide rõ nét, không trùng lặp để rửa ra ảnh giấy
láng. Sau đó, các bức ảnh này được in ra bằng máy photocopy màu để có khoảng
trống bên dưới cho phần chú thích bằng chữ đánh máy.
Hiện tại, các hình in trên giấy và
bản photocopies màu vẫn được giữ. Riêng các khay phim slide gốc thì không nhớ
cất ở đâu.
20. Anh có nhắc tới mấy chi tiết
không chính xác của bài báo TIME, June 26, 1972. Những chi tiết không đúng đó
là gì?
Báo Time viết "An Lộc gần như đã bị bao vây từ khi cuộc tấn công của Miền Bắc Việt Nam bắt đầu vào ngày 30 tháng 3". Thật ra Ngày 30/3/1972 là ngày mở màn chính thức Chiến dịch Mùa Hè năm 1972 trên toàn lãnh thổ Việt Nam . Chỉ sau khi chiếm được Lộc Ninh ngày 7/4/1972, quân Bắc Việt mới liên tục pháo kích dữ dội trước khi bộ binh và xe tăng bắt đầu mở đợt tấn công đầu tiên để vây hãm thị xã ngày 13/4/1972.
Con số tổn thất 1.000 người chết
trong báo cáo Time chỉ là con số ước tính tạm thời tại chỗ. Trên thực tế tổng
số thường dân thiệt mạng do pháo kích và giao tranh tại khu vực An Lộc trong cả
chiến dịch lớn hơn con số đó nhiều, chưa kể những người bị thương.
Khi phóng viên báo TIME vào An Lộc,
phòng mổ dã chiến đã phải dời sang hầm ngầm (bunker) của Bộ Chỉ Huy rồi. Thành
ra họ chỉ thấy một phòng mổ tương đối an toàn... Họ đã không thấy được
cảnh nguy hiểm trước đó: bệnh viện đã phải hứng chịu những trận mưa pháo kích
liên tục mấy tuần đầu, mất sạch điện nước, thương binh và các xác chết tràn
ngập, các trại bệnh và phòng mổ bị pháo sập hoàn toàn phải ngưng hoạt động...
21. Thông điệp gửi độc giả tương
lai, năm 2030, và nội dung sẽ viết nếu bổ sung một trang cuối?
Trực tiếp chứng kiến chiến tranh,
tôi mới hiểu rõ hơn cái sức tàn phá khủng khiếp của nó. Nó không chỉ húc đổ nhà
cửa, cày xới phố phường, mà nghiệt ngã nhất là nó cướp mất tuổi thơ, hoài bão
và mạng sống của bao nhiêu người trẻ. Càng về sau, vũ khí càng hiện đại thì sự
mất mát lại càng rộng lớn.
Bởi vậy, tôi luôn nghĩ hòa bình chưa
bao giờ là điều nghiễm nhiên, mà là thứ cần được vun đắp từ sự thấu hiểu và
lòng bao dung của mỗi con người.
Mong các bạn dù có khác nhau về quan
điểm, ngôn ngữ hay niềm tin, cũng đừng vội biến nhau thành thù nghịch. Khi có
bất đồng, nếu mình chịu khó ngồi lại, lắng nghe nhau một chút trước khi phán
xét, thì mọi thứ đã khác đi nhiều lắm. Đừng để những lời kích động hay định
kiến làm lòng mình khép lại.
Nói về hòa bình nghe thì to tát,
nhưng tôi thấy nó bắt đầu ngay từ những việc rất nhỏ mỗi ngày: một chút nhường
nhịn người chung quanh, một lời nói ôn hòa, một bàn tay đưa ra giúp người yếu
thế. Những điều tử tế nhỏ bé đó, cộng lại, sẽ giữ cho thế giới này bớt đi những
mâu thuẫn.
Các bạn trẻ năm 2030 là những người
nắm giữ tương lai. Mong các bạn dùng tri thức và công nghệ để kéo con người lại
gần nhau hơn, chứ không phải để tạo thêm khoảng cách; dùng sự can đảm để bảo vệ
sự sống và những điều tử tế.
Những đau thương của chiến tranh,
thế hệ chúng tôi trót mang rồi, chỉ mong nó dừng lại ở đó. Mong sao các bạn sau
này ai cũng được sống những ngày tháng thật bình an, tự do và tử tế với nhau.
BS Nguyễn Văn Quý
Ghi chép: Quách Thị Minh
Diamond Bar, California
Tháng 09/2026