Nhà báo, nhà văn, nhà thơ
Trúc Chi.
Trúc Chi là bút hiệu của Tôn Thất Kỳ. Anh sinh năm 1934 tuổi Giáp Tuất,
học ở Huế và Đà Lạt. Vào ngành thông tin báo chí năm 1960 tại Luân
Đôn, là biên tập viên ban Việt Ngữ đài BBC. Đã từng theo dõi và tường thuật Hội Nghị Geneve về vấn
đề Lào (1960-1961) khi cộng tác với giáo sư Tôn Thất Thiện. Giáo sư Thiện bấy giờ phụ trách thông tin
trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị. Một phần kinh nghiệm thông tin
quốc tế này giúp cho Trúc Chi được nhận làm thông tín viên thực thụ của hãng
Reuters Luân Đôn sau khi rời đài BBC vào năm 1967. Đã được phái đi công tác ở
một số quốc gia Đông Nam Á kể cả Việt Nam. Tại Singapore, từng làm chủ biên ban
tin tức Việt – Miên – Lào của Reuters.
Trúc Chi dùng bút hiệu Nguyễn Phúc trong các bản tin,
dịch thuật và phỏng vấn, anh có nhiều thơ đăng trên Văn Học, Thế Kỷ 21, ngoài
ra anh có 2 cuốn tùy bút: Đó Đây và Gỗ & Đá; trong năm 2000 nhà văn Phạm
Xuân Đài đã nhận xét “có thể nói ngay mà không sợ lầm, đây là cuốn tùy bút hay
nhất trong mấy năm gần đây ở hải ngoại.”
BAN VIỆT NGỮ ĐÀI BBC
Ngồi: Xuyến Như và Hữu Đại
Đứng: từ trái sang phải,
Trần Minh, Xuân Kỳ, Nguyễn Phúc
(Nguyễn Phúc là bút hiệu
của Trúc Chi trong ngành truyền thanh)
Bút hiệu Trúc Chi
Tôi có hai ông anh có trí nhớ cự phách siêu phàm “Mắt nhìn qua đã thuộc,
mở miệng thành văn chương / Quá mục thành tụng, xuất khẩu thành chương” là anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ và anh Từ Mai Trần Huy Bích. Đó là vạn
hạnh của người em nhỏ này, để tôi được nhắc nhở, được khuyên bảo, được lắng nghe thật nhiều chuyện đông tây kim cổ, đủ viết thành một pho sách dầy.
Bữa nọ trong tuần lễ mưa rả rích không nguôi, nhớ đến câu
“Trời Thục như mắt người ly biệt, Mười ngày mưa không ngày nào tạnh ráo” trong
“Trúc Chi Từ” của Đinh Hạc Niên đời Minh, tôi giới thiệu đến anh kèm thêm dòng
thư: em gửi anh bài có tựa đề Trúc Chi từ 竹枝詞 giống như tên anh.
Anh đáp ngay: “tên Chi trong bút hiệu Trúc Chi không phải
là cành 枝 mà là
Chi 之 như
Chi Hồ Giả Dã do tôi bắt chước tên tự của ông Nội là Lạc Chi”.
(Ông Nội của anh Trúc Chi là Phò Quang Quận Vương Tôn
Thất Hân hiệu Liên Đình tự Lạc Chi, là cháu đời thứ Sáu của chúa Hiền Vương
Nguyễn Phúc Tần. Ngài là tôn sinh Quốc Tử Giám, lần lần thăng Bố chánh, Tuần vũ,
Tổng đốc, từng làm Thượng Thư Bộ Hình, Phụ Chánh đại thần, Phò Quang Quận Công,
Phò Quang Quận Vương dưới thời các Vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại.
Năm 1925, sau khi vua Khải Định qua đời, vua Bảo Đại đang
du học tại Pháp, ngài được cử làm Nhiếp chính thân thần, xử lý các công việc
cho đến khi vua Bảo Đại hồi loan).
Anh Từ
Mai tiếp: nếu vậy chữ Chi 之 trong tên anh Trúc Chi cũng giống nhà báo nhà
học giả Đào Trinh Nhất. Tên là Nhất nên ông lấy tên tự là Quán Chi 貫之.Ông lấy chữ
trong Luận Ngữ, lời Khổng Tử: “Ngô đạo nhất dĩ quán chi 吾道一以貫之.”
Anh
Trúc Chi hân hoan: ông Đào Trinh Nhất là bạn của bác tôi, hân
hạnh được nhìn thấy ông ở nhà bác ngày còn nhỏ, hồi tôi mới biết viết biết đọc.
Anh Trúc Chi thường xuyên nhắc đến người bác thân yêu và mãi mãi nhớ ơn
bác, là thầy dạy chữ Nho cho anh. Thứ
Năm ngày 24 tháng 09 (14 tháng 08 âm lịch) tôi gửi anh Trúc Chi xem hình bàn thờ anh Từ Mai cúng thầy Vũ Hoàng
Chương, anh Trúc Chi đã niệm A Di Đà Phật, và hồi tưởng, chừng 80 năm trước bác
từng dạy cho tôi một bài trong Tân Quốc Văn: Trung Thu dạ nguyệt, Tối minh đăng
lâu viễn vọng… bác còn dặn kỹ đừng lầm hai chữ mạt 末 và vị 未, thầm cảm ơn ông bác.
Trong một thư đầu năm 2026 anh bùi ngùi viết đôi ba dòng lửng lơ: anh Từ
Mai đúng là quyển tự điển sống về thơ Đường. Ngày xưa tôi được bạn cùng lớp tặng cho cái
danh hiệu “dictionnaire ambulant” (tự điển di động) về thơ tiếng Pháp trong mấy
quyển sách giáo khoa quen thuộc thời ấy, chúng nó bí câu nào thì cứ bảo nhau
“hỏi thằng Kỳ”. Bây giờ thì chắc chắn thằng Kỳ cũng bí nốt. Mà bạn thời ấy cũng
“đi” cả rồi. Không có ai hỏi tôi nữa.
Hiền thê của anh Trúc Chi
Trong
lần gặp anh chị Trúc Chi ở nhà anh Từ Mai, anh Trúc Chi khoe: Dzung có biết tôi
tuổi Tuất mà Đoan Thư tuổi Thìn nên người ta khen tôi là chó ngáp phải rồng, tôi không nén được cười rinh rích trong khi anh
tỉnh bơ.
Ông
Cố của chị Đoan Thư là cụ Nguyễn Khoa Đạm trước dạy Quốc Tử Giám. Có 2 bức hoành phi trang trọng treo ở nhà Cụ Nguyễn Khoa
Đạm, một tấm khắc bốn chữ 政教大家 CHÍNH GIÁO ĐẠI GIA, tấm kia khắc ba chữ 品自高 PHẨM TỰ CAO (Sự năng tri túc tâm thường lạc, Nhân đáo vô cầu phẩm tự cao 事能知足心常樂,人到無求品自高 là câu của tiên sinh Trần Bá Nhai sư phụ
nhà văn Kỷ Hiểu Lam đời Thanh treo trước án sách để tự nhắc nhở mình. Mọi điều biết đủ lòng thường vui, Người không cầu cạnh phẩm giá tự nhiên cao)

Chị
Đoan Thư giòng dõi trâm anh thế phiệt như anh, chị hết sức xinh đẹp mảnh mai
tao nhã, điều ấy trùng hợp với cung Hôn Phối của anh Trúc Chi, là sự truyền
tinh giữa hai lá số: Cơ Lương đắc địa, Khôi Việt, Thiên Nguyệt Đức, Thiên Quan
Quý Nhân.
Cùng thích Số Tử Vi
Anh Trúc Chi thích xem Tử Vi và nhờ có Tử Vi nên ngoài Đường
thi, Tam Quốc Chí, anh em chúng tôi có đủ điều để nói hết ngày này tháng nọ
không bao giờ vơi chuyện.
- Thưa anh,
hôm nay em tình cờ xem được số Tử Vi Tôn Trung Sơn, Mệnh của Quốc Phụ có vòng chính
tinh giống của anh Trúc Chi, các phụ
tinh cũng tương tự, nhưng cung Hôn Phối và cung Tử Tức của Tôn Trung Sơn thua
xa anh Trúc Chi, em chưa thấy lá số
Tử Vi nào có cung Hôn Phối và Tử Tức đẹp như của anh. Anh Trúc Chi mệnh có Đế Vượng là con người trượng phu, bề thế,
rộng lượng hào phóng ưa làm việc thiện có lòng nhân ái, luôn thể hiện tình yêu
thương với mọi người xung quanh, anh được nhiều sự yêu mến, là mẫu người duyên
dáng có sức thu hút, có năng khiếu nghệ thuật, nghề nghiệp anh liên quan đến
ngôn ngữ làm công việc truyền thanh là hợp cách và đúng số. Anh được hưởng vòng
Tràng Sinh (ngay cung an Thân). Thiên Đồng là sao chủ Mệnh được hưởng phúc lộc
của Trời đất thêm các sao Văn Tinh nên là người nho nhã văn chương trí tuệ. Cung Tử Tức của anh phải nói là tuyệt đẹp: Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Khoa Quyền Lộc, Xương Khúc, Quang Quý, Long Phượng, Thai Tọa, Tướng Ấn.
Anh Từ Mai tiếp lời: Rất vui nhận được email từ anh Trúc Chi. Dung nói
cung Mệnh của anh có Đế Vượng, có Đế Vượng ắt được Tràng Sinh chiếu. Anh được
bộ sao Sinh Vượng cộng thêm Tả Hữu và Thiên Phúc thì quý lắm rồi. Thiên Khôi đi
với Hồng Loan (Hồng Khôi) rất đẹp, mình rất quý sao Thiên Khôi (là quý nhân).
Anh có Tả Hữu, Thiên Phúc Thiên Khôi, các cụ vẫn nói là “cát nhân thiên tướng”.
Chân thành cầu chúc anh được hưởng phúc vì có những bộ sao quý ấy.
Vào mỗi cuối năm tôi tự hiểu mình cần chuẩn bị lá
số Tử Vi của anh cho năm sắp đến hầu có thể trò chuyện kỹ hơn về vận niên khi bắt
đầu qua Tết Nguyên đán “cho đúng phong tục cổ truyền” để nghe anh dí dỏm pha
trò:
-Quá khen, Vui chút vậy thôi. Tuổi này rồi còn số chẵn số lẻ gì nữa.
Ừ đêm tháng Sáu Mười Hai nhỉ
Mỗi năm đến ngày 12 tháng 06, anh thường gửi thư đố hai
anh em Từ Mai: Hôm nay 12 tháng 06, anh Từ Mai và Dzung có nhớ là ngày gì không? Sau này
anh Từ Mai nói rõ thêm, 12 tháng 06
âm lịch mới là ngày nàng Tố Uyển bước lên xe hoa, không phải 12 tháng 06 dương
lịch.
Riêng tôi, những chiều Nguyên Tiêu, những tối Thất tịch, những
sáng Lập Xuân hàng năm thường gửi các bài thơ hợp mùa hợp cảnh đến anh, lúc thì
Nguyên tịch của Âu Dương Tu, khi là câu thơ năm chữ của một ẩn sĩ đời Tấn, khi
là bài thơ Mưa viết trong tết Hàn Thực của Tô Đông Pha.
Anh Trúc Chi rất thưởng thức câu “Phù vân du tử ý,
Lạc nhật cố nhân tình”. Người đi là
đám mây, Kẻ ở là chiều tà. Quá đẹp. Lời anh thật đúng ý tôi hết chỗ nói: em
cũng yêu Lý Bạch, anh biết Hành Đường Thoái Sĩ mê câu “Yên hoa tam nguyệt há
Dương Châu” lắm không, ông phê câu ấy là “Thiên cổ lệ cú”, em cũng yêu “Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng
Lăng” vì tháng Ba là tháng của em. Anh có ý kiến riêng: tôi lại mê cái bát ngát
của câu kế tiếp “Cô phàm viễn ảnh bích không tận”.
Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu
Năm 2024 anh gửi bài thơ Đường luật làm nhiều
năm trước cùng những lời tâm sự của một tráng niên tóc bạc đến cho các anh chị
em: “San sẻ với các bạn chút vui riêng tư. Bài thơ
mà tôi chép dưới đây, tôi làm trong môt buổi họp bạn năm 1994 gồm mấy anh em
thân với nhau từ thời trung học (Quốc học Huế, Yersin Đà Lạt). Hai mươi
lăm năm rồi, cả môt lũ bốn năm thằng nay chỉ còn sót lại mỗi mình tôi. Chính
tôi cũng quên rằng mình có làm bài Đường luật này cho đến cách đây khoảng ba tuần,
em của một người bạn trong nhóm tình cờ gặp bản chép tay của tôi trong mớ thư từ
cũ, gửi lại tôi xem. Dĩ nhiên thấy NÓ là tôi nhớ ngay. Trước năm 1994, tức là
trước 60 tuổi, tôi có làm môt số thơ Đường luật gửi tặng bạn bè ....bốn phương.
Có ngay cả môt bài tặng ông Quách Tấn nữa, to gan chưa? Nếu tôi không lầm thì
bài Họp Bạn này là bài Đường luật cuối (và duy nhất mà tôi còn có trong tay).
Thấy lại NÓ, mừng và vui nhưng cũng tiếc và nhớ quay quắt mấy người bạn đã rẽ
sang lối về thiên cổ. Bài này tôi suy nghĩ rồi viết xong giữa hai ly rượu.
Ly thứ hai được rót ra từ chai rượu vang trong đó chỉ còn vừa đúng một ly
mà một người bạn của tôi nói "thưởng trước cho mi một ly nhưng mà phải
làm cho xong bài thơ!" Cho nên tôi mới bảo các bạn tôi khui thêm
chai nữa sau khi đọc to hai câu kết. Xem lại, không đến nỗi quá hổ ngươi (mắc
cỡ).
Họp Bạn
Mới đó mà nay đã bạc đầu
Cầm tay cười khóc chuyện xưa
sau
Này thơ này rượu câu tâm sự
Kìa núi kìa sông cuộc bể dâu
Tàn lớp phế hưng chừng mất cả
Già đời lưu lạc may còn nhau
Quí rồi! buổi loạn cầu chi nữa
Khui nốt chai kia phá trận sầu
Trúc Chi
(1994)
Tái bút: Cái tứ " Chúng ta mất hết chỉ còn nhau" của
thi sĩ Vũ Hoàng Chương nằm sẵn trong tiềm thức tôi! Khi viết xong toàn bài mới
thấy nó hiện ra. Xin thắp một nén tâm hương mà tạ thi hào họ Vũ.
Vạn lý bi thu thường tác khách
Từ trong Rehab center anh gửi … Đỗ Phủ: Gian nan khổ hận
phồn sương mấn, Bách niên đa bệnh độc nằm
khoèo, ở đây không có đài mà đăng.
Tôi gửi anh nhận xét của La Đại Kinh, học giả đời Nam
Tống phân tích Đăng Cao rất kỹ, chỉ trong 14 chữ “Vạn lý bi thu thường tác
khách, Bách niên đa bệnh độc đăng đài” có đến tám điều đáng buồn: làm lữ khách
nơi đất lạ là điều buồn thứ nhất, luôn làm lữ khách là điều buồn thứ hai, làm
lữ khách nơi vạn dặm là điều buồn thứ ba, đúng vào mùa thu se sắt là điều buồn
thứ tư, tuổi đã già việc chưa thành là điều buồn thứ năm, bằng hữu người thân
đã khuất là điều buồn thứ sáu, cô đơn lên đài là điều buồn thứ bảy, thân bệnh
tật là điều buồn thứ tám. Đăng Cao được mọi người tôn là “cổ kim thất ngôn luật
đệ nhất” một trong những kiệt tác tiêu biểu nhất của thơ Đường mà Đỗ Phủ là nhà thơ kiệt xuất nhất trong thể loại này.
Vào tuổi 92 phải qua nhiều thí nghiệm, chụp hình, lấy máu,
đủ các loại test này test kia mỗi ngày nhưng lúc nào anh cũng lạc quan dí dỏm, sáng sáng tôi kính thăm anh,
hôm nay anh ra sao, anh có được khỏe, anh đáp khỏe nhưng cái khỏe của người
bệnh (đời này tương đối cả). Tôi khích
lệ anh chịu khó tịnh dưỡng một thời gian, bình phục về nhà ăn cơm ngon chị Đoan
Thư nấu. Hiện nay đại vận của anh đương ở cung Tỵ, mà mệnh Hỏa khi đi vào các
hạn ở những cung Dần, Ngọ, Tỵ là đắc cách bởi gặp nơi sinh vượng cho hành Hỏa, trong
tài liệu Tử Vi cổ, quy ước được đúc kết qua bài khẩu quyết “Hỏa hành Dần, Ngọ
cộng Xà hương” cuộc sống và công việc sẽ gặp thật nhiều thuận lợi may mắn.
Vui nhanh kẻo mất
giữa vô thường này
Ngày
19 tháng 07, anh gửi một dòng nhắn đi chung bài lục bát: Mấy câu ngẫu đắc khi nhìn thấy những cánh hoa
khô bên cửa sổ bệnh viện:
Nắng chiều sưởi mấy
đóa tàn
Ấm thay một nét hân
hoan bất ngờ
Thoáng nụ cười
trong tứ thơ
Vui nhanh kẻo mất
giữa vô thường này
Khổ thơ sáu
tám, bốn dòng giản dị mà ý tứ sâu sắc khiến tôi nhớ về Lý Bạch, “nhi phù sinh
nhược mộng, vi hoan kỷ hà” mà kiếp phù sinh như mộng, vui được là bao. Tôi yêu
thích bốn chữ “Vui nhanh kẻo mất” phong thái tự do tràn đầy thi hứng trước vũ
trụ bao la không ngừng thay đổi muôn hình vạn trạng mà niềm vui kiếp nhân sinh thì
vô cùng bé nhỏ hữu hạn.
Tôi thưởng thức thơ anh, những ý thơ phong vị như Mạnh Hạo Nhiên,
Vương Duy, Vi Ứng Vật, tao nhã, điềm đạm, cao viễn, tịch mịch, nên vài ba ngày
lại gửi lời nhắc nhở: Có thêm bài thơ nào anh nhớ gửi cho em nhé. Anh đáp: Có
được vần nào còn sót lại Dzung sẽ là người đầu tiên tôi gửi đấy.
Cõi trần ta lại lè kè túi thơ
Trước sinh nhật 92 một ngày, vào Thứ Ba, 14
tháng 07, 2026 lúc 12:52 PM anh gửi bài lục bát:
Chiều rồi chút bệnh mà hay
Gánh nghiệp bớt nặng cho ngày ra đi
Kiếp sau duyên có dẫn về
Cõi trần ta lại lè kè túi thơ.
Anh Trần Mạnh Toàn rất chịu bài thơ trên, anh gửi lời chúc mừng anh Trúc
Chi: Kính anh Trúc Chi, Được đọc bốn câu
khẩu chiêm của anh mới thấy anh là người sớm đạt được tuệ giác hơn ai về lẽ sắc
không của nhà Phật. Cái nợ văn chương thi ca mà anh nhắc đến chỉ là sự nhắc nhở
khéo léo lớp hậu sinh. Mai này ngày 15 tháng 07 là ngày anh vượt thêm ngưỡng
cửa cửu tuần. Đây cũng là ngày Kỷ niệm 92 năm ra đời ngôi Văn Tinh Trúc Chi. Xin nồng nhiệt chúc
mừng.
Đây là lần đầu tôi thấy hai chữ “lè kè” trong bài thơ,
nghe duyên dáng làm sao, đó là cách dùng chữ ngộ nghĩnh sáng tạo của anh. Tôi
thưa với anh tôi thích chữ “dẫn” trong câu lục “Kiếp sau duyên có dẫn về” anh
bảo mình thấm đạo Phật là nhờ vào mẫu thân, “dẫn” đây là duyên đưa đến, không
có cái tình cờ trong nghĩa triết học.
Tao ngộ giữa nhà thơ Trúc Chi và nhà văn Trần Mạnh Toàn cũng nhờ vào thơ Vũ Hoàng Chương. Trong thư gửi anh Trần Mạnh Toàn anh Trúc Chi tâm
sự “Lang thang giữa đường một cách vô định, nói chuyện với cuộc đời qua chữ
nghĩa của mình, họa hoằn gặp được một đôi người “nghe” và hiểu mình quả là một
điều may mắn. Riêng anh, đối với tôi là một hạnh ngộ. Mà cũng nhờ chút duyên
của tôi đối với thơ của Vũ Hoàng Chương. Viết mấy câu “bình thơ” bậc thi bá này
nhân thể nói luôn về con người Vũ Hoàng Chương, thế nào lại lọt vào mắt xanh
của anh, từ đó … Duyên văn tự là vậy. Bài của anh viết thật công phu. Nghĩ cho
cùng anh Toàn ơi, chân thiện mỹ là ba, nhưng tuyệt đối chỉ có một. Mon men tìm
đến chân trời của tuyệt đối là một cách nói thôi. Mong có dịp gặp nhau, cảm ơn
anh Toàn.”
Anh Trúc Chi tin vào kiếp sau, như Tô Đông Pha tin vào
kiếp trước, đọc thơ Trúc Chi, tôi nhớ đến Tô Đông Pha “Ngã bản tu hành nhân, tam
thế tích tinh luyện. Trung gian nhất
niệm thất, thâu thử bách niên khiển. / Ta vốn người tu hành, suốt ba đời tu
luyện, lỡ làng sai một niệm, phải xuống trần trăm năm.”
Dăm hàng lục bát thương về sau xưa
Hôm nọ anh gửi 4 câu từng đăng trong Văn Học trước
năm 2000, kể từ lúc nhận thư anh trong vòng
nửa tiếng tôi chép bài thơ với bút lông mực Tàu trên giấy Tuyên.
Anh biết không, dạo đó đọc bài thơ này trên báo Văn Học ngay lập tức em trở
thành người hâm mộ anh đấy, mỗi lần có báo mới em tìm thơ Trúc Chi đầu tiên.
Vần thơ gieo giữa vô thường
Bể dâu thế ấy đoạn trường thế kia
Vạch trên rêu đá xanh rì
Dăm hàng lục bát thương về sau xưa.
Tiếng
thơ vọng ra đâu đó nỗi âm trầm dằng dặc từ thời Tam Quốc “Tơi bời thế sự bao giờ hết,
Mịt mù vận số trốn vào đâu / Phân phân thế sự vô cùng tận, Thiên sổ mang mang
bất khả đào” dòng thơ vừa như ngưng tụ vừa như xuyên suốt cả trăm năm.
Chị Phạm Hảo cũng kể chuyện cho anh Trúc Chi
nghe: em mê thơ và tùy bút Trúc Chi, lúc xưa em thường mua sách của Văn Nghệ,
có hôm ông Võ Thắng Tiết nói chuyện là cuối tuần này nhà văn Trúc Chi sẽ ghé
quán sách của Văn Nghệ để ký sách cho độc giả, em chỉ ước gì em ở California để
ra đó quanh quẩn lúc nhà văn Trúc Chi ở đấy. Nhà em có trồng được hai chậu trúc
thân màu đen, mỗi lần ngắm Thạch Trúc, em lại nghĩ đến nhà văn Trúc Chi vì Trúc
Chi gọi trúc đen là Thạch Trúc. Anh Trúc Chi cũng viết về “Lan vàng Vũ Nữ”
duyên dáng lắm, hỏi sao em không mê đọc sách của anh.
Kiếp sau duyên có dẫn về
Kỷ niệm nhớ mãi không quên là hôm được sắp xếp ngồi gần anh dùng bữa
trưa ở nhà chị Lệ-Hương; sau khi ăn khoảng 10 con ốc hương nhồi giò thơm hương
vị gừng xả, mấy khoanh đậu phụ rán giòn chấm tương Cự Đà, bát bún riêu cua nêm
nếm mắm tôm, tôi còn định ăn thêm một bát riêu cua nữa nhưng thật ngại ngùng vì
thấy ngồi bên cạnh anh cầm đũa ung dung từ tốn khoan thai trông thanh lịch làm
sao, tôi đâm ngượng; anh vừa tinh ý vừa nghịch ngợm, hạ giọng nói riêng tôi
nghe: Dzung cứ ăn thoải mái đi, tôi không nhìn mô.
Sau bữa ăn các anh chị ra salon nói chuyện văn chương, tôi xích lại gần
bàn xôi vò chè đường, chị Lệ-Hương nấu xôi vò chè đường và làm xôi gấc rất
ngon, mà sao các anh vô tâm thế, cứ nhởn nha nhởn nhơ chuyện thơ văn mà không
chịu để ý đến cái bàn xôi chè này, anh Trúc Chi đi ngang nghiêng đầu ngẫm nghĩ một
vài giây rồi khuyến khích "thêm 8 bát chè này có lẽ tạm đủ cho Dzung tráng
miệng rồi đấy, tôi không ăn, Dzung cứ ăn phần của tôi". Tôi khúc khích vào hùa với
anh “Sinh ra em là cha mẹ, mà hiểu em chỉ có anh Trúc Chi. Sinh ngã giả phụ
mẫu, tri ngã giả Trúc Chi dã.”
Yêu
thích tính cách trẻ trung tinh nghịch của anh nên thỉnh thoảng tôi gọi anh là
Lão Ngoan Đồng, mấy hôm sau nhận thư anh ký tên Ngỗng Loan Đào. Nghe tên Ngỗng
Loan Đào có khác gì một món ăn cực phẩm của miền sông nước Giang Nam không chứ.
Tôi đọc đâu đó có người viết thế này, “nếu phải chọn một
người bạn Thơ đồng hành phiêu lãng rong chơi, có lẽ ít ai chọn Lý Bạch vì chàng
Lý phiêu dật bay bổng xa vời thực tế, không chọn Đỗ Phủ vì chàng Đỗ nghiêm túc,
khắc khổ, sầu tư, hầu như phần đông chúng ta sẽ chọn Tô Đông Pha vì chàng Tô khả ái lạc
quan, thú vị hài hước, dễ dãi khoát đạt, có thể làm bạn với Ngọc Hoàng thượng đế
trên trời cũng có thể ngồi với bác nông phu bên bờ ruộng” tôi bất chợt nghĩ
ngay đến anh Trúc Chi, anh Trúc Chi của chúng tôi chính là mẫu người giống Tô
Đông Pha nhất rồi còn gì.
Kiếp sau duyên có dẫn về, tôi mong được gặp anh, và trong kiếp lai sinh ấy xin cho tôi vẫn có
trái tim nồng nàn yêu thích Tam Quốc, Tử Vi, Đường thi, Tống từ, để ngày ngày được
trò chuyện cùng ông anh của mình.
HỮU SỞ TƯ
Tháng 10-03-2026
Một số sáng tác văn, thơ của
Trúc Chi Tôn Thất Kỳ có thể tìm đọc ở: https://tranhuybich.blogspot.com/p/truc-chi-ton-that-ky.html