Một
Y Sĩ Tiền Tuyến giữa 86 ngày đêm lửa đạn
BS
NGÔ THẾ VINH
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Thời
gian đủ dài để những chiến trường năm xưa trở thành địa danh trong quân sử:
Kontum, An Lộc, Quảng Trị. Những bản đồ hành quân đã ngả màu, những
đơn vị tham chiến đã giải thể, nhiều người lính của cả hai phía không còn nữa.
Nhưng chiến tranh, nếu chỉ được nhớ bằng những mũi tên đỏ xanh trên bản đồ, bằng
số xe tăng bị bắn cháy hay những con số thương vong, thì vẫn còn thiếu một phần
rất quan trọng: số phận con người ở bên trong cuộc chiến ấy.
Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý giữ lại cho chúng ta phần ký ức đó.
Tôi được đọc cuốn sách này từ trước năm 2002 dạng bản thảo khi anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, Giám đốc Nhà xuất bản Văn Nghệ California gửi cho tôi và cho biết đang chuẩn bị xuất bản tác phẩm này. Trước hết không phải như đọc một tác phẩm quân sử. Tôi đã đọc Nhật Ký An Lộc từ tâm thế của một người cùng thế hệ, cùng bước ra từ một trường Y khoa Sài Gòn, và cũng từng khoác áo lính và hiểu rằng đối với một người thầy thuốc trong quân đội, có một thời điểm mà khoảng cách giữa giảng đường và chiến trường chỉ còn được tính bằng vài dặm đường.
Và ở An Lộc năm 1972, với Nguyễn Văn Quý, khoảng cách ấy gần như không còn nữa.
TỪ ĐẠI HỌC Y KHOA SÀI GÒN ĐẾN AN LỘC
Nguyễn
Văn Quý tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn năm 1967, là con
trai độc nhất trong
một gia đình mà mẹ là quả phụ và em gái. Lẽ ra được
miễn quân dịch, Quý vẫn tình nguyện
gia nhập
Khóa 10 Y Sĩ Trưng Tập năm 1968. Ban đầu,
anh phục vụ trong một Trung đoàn Bộ
binh. Sau mấy cuộc hành quân và đụng trận, chứng kiến
tổn thất thương vong, anh nhận ra
mình không
thể làm được nhiều giữa trận địa, nên đã xin theo học khoá Giải Phẫu Dã
chiến
tại Tổng Y Viện Cộng Hoà. Một năm sau, anh tốt nghiệp và chọn về phục vụ tại Bệnh
viện
Tiểu
khu Bình Long vì nơi này gần gia đình.
Anh
tới Bình Long ngày 13 tháng 4 năm 1971.
Gần
đúng một năm sau, chiến tranh tìm tới tận cửa bệnh viện.
Tháng
4 năm 1972, cuộc Tổng Công Kích Mùa Hè bắt đầu. Sau khi Lộc Ninh thất thủ,
An
Lộc trở
thành mục tiêu của những cuộc tấn công dữ dội. Quốc lộ 13 bị cắt. Thành phố bị
vây.
Tiếp tế
chủ yếu trông vào không vận. Pháo kích diễn ra ngày đêm. Quân nhân và thường
dân
thương
vong ngày một nhiều.
Bệnh
viện Bình Long từ một bệnh viện tỉnh nhỏ với trang
bị thật thô sơ, bỗng
trở thành một
bệnh
viện tiền tuyến.
Nguyễn
Văn Quý từ một bác sĩ giải phẫu trở thành một Y Sĩ Tiền Tuyến đúng
theo nghĩa
trọn vẹn
và khắc nghiệt nhất của danh xưng ấy.
Đó
cũng là điểm khiến Nhật Ký An Lộc có một vị trí riêng.
Đã
có nhiều sách viết về An Lộc từ góc nhìn của các đơn vị tác chiến, của những cấp
chỉ huy,
của
các phóng viên chiến trường. Nhưng Nguyễn Văn Quý nhìn trận đánh từ một nơi
khác:
bàn
mổ.
Ở
đó, bản đồ hành quân được thay bằng những thân thể đầy thương tích.
Ở
đó, một cuộc tấn công không được đo bằng số chiến xa xuất hiện ngoài phòng tuyến,
mà
bằng
số thường dân và thương binh được khiêng vào bệnh viện.
Và
ở đó, mỗi phút đều có thể là khoảng cách giữa sống và chết.
NHẬT
KÝ ĐƯỢC VIẾT KHI CHƯA BIẾT NGÀY MAI
Có
một khác biệt căn bản giữa nhật ký và hồi ký.
Người
viết hồi ký đã biết kết thúc của câu chuyện. Người viết nhật ký thì không.
Nguyễn
Văn Quý ghi lại những ngày An Lộc khi anh đang sống trong biến
cố ấy. Anh không
biết
trận đánh sẽ kéo dài bao lâu. Không biết thành phố có đứng vững hay không. Và
cũng
không
biết chính mình có còn sống để đọc lại những dòng đang viết.
Theo
lời tác giả, lúc đầu anh còn có thể ghi chép
khá đều. Nhưng khi chiến trận ngày càng
khốc
liệt, thương binh tràn vào bệnh viện, công việc giải phẫu liên tục, có những
khoảng thời
gian anh
không còn thì giờ cầm bút.
Những
khoảng trống ấy không phải là khuyết điểm của cuốn nhật ký.
Ngược
lại, chúng là dấu vết trung thực của chiến tranh.
Có
những ngày không thể viết được, bởi vì người bác sĩ phải dành từng giờ, từng
phút cho
những
người đang chờ được cứu sống.
Ba
mươi năm sau, tập nhật ký mới được xuất bản thành sách tại California năm
2002.
Khoảng cách
ba thập niên ấy cho phép tác giả bổ sung và sắp xếp một số dữ kiện, nhưng
phần
cốt lõi vẫn mang sức nóng của những ghi chép tại chỗ.
Và
điều đáng chú ý hơn nữa: Nguyễn Văn Quý ban đầu không viết với ý nghĩ mình đang
để
lại
một tài liệu lịch sử.
Anh
viết cho gia đình.
Anh
nghĩ rằng nếu mình chết ở An Lộc, mẹ và các em sau này ít nhất sẽ biết anh đã
sống
những
ngày cuối cùng như thế nào.
Từ
một động cơ rất riêng tư ấy, lịch sử đã giữ lại được một chứng từ.
254
CUỘC GIẢI PHẪU LỚN
Trong
những con số của Nhật Ký An Lộc, có một con số khiến tôi dừng lại rất
lâu:
254
cuộc giải phẫu lớn.
Nguyễn
Văn Quý ghi nhận trong thời gian trận An Lộc, Anh đã thực hiện 254 trường hợp
giải
phẫu lớn,
với sáu trường hợp tử vong tại chỗ; còn những thương binh sau mổ được di tản
đi
nơi
khác thì anh
không thể theo dõi được kết quả.
Với
một bác sĩ, con số 254 không đơn thuần là một thống kê.
Mỗi
ca là một con người.
Một
vết thương bụng.
Một
lồng ngực bị xuyên thủng.
Một
cánh tay hay một cẳng chân không còn có thể giữ lại.
Một
người lính mất quá nhiều máu.
Một
người dân vừa được khiêng ra từ một căn nhà trúng pháo.
Và
trước mỗi bệnh nhân là một chuỗi quyết định mà người bác sĩ phải đưa ra trong
vài phút,
đôi
khi vài giây, với phương tiện hết sức giới hạn.
Ở
một bệnh viện dân sự thời bình, bác sĩ giải phẫu có phòng mổ, ánh sáng, dụng cụ,
ngân
hàng
máu, thuốc men, ê-kíp gây mê và các chuyên khoa hỗ trợ.
Ở
An Lộc, tất cả những điều ấy có thể thiếu.
Chỉ
có thương binh thì không thiếu.
Đọc
những trang ấy, một người đã học và hành nghề y sẽ hiểu thêm sức nặng của hai
chữ giải
phẫu trong
hoàn cảnh chiến trường.
Không
còn là một ca mổ lý tưởng như trong sách giáo khoa.
Đó
là y khoa của lựa thương.
Ai
phải mổ ngay?
Ai
có thể chờ?
Phần chân tay nào
còn cứu được?
Khi
nào một phần của thân thể phải cắt đi để
cứu mạng?
Lượng
huyết thanh ít ỏi còn lại dành cho ai?
Đó
là những câu hỏi không một sinh viên y khoa nào muốn gặp, nhưng người Y Sĩ Tiền
Tuyến có
thể phải trả lời hàng ngày.
TRUYỀN
THỐNG Y SĨ TIỀN TUYẾN
Nguyễn
Văn Quý không phải một trường hợp đơn độc.
Anh
thuộc về một thế hệ bác sĩ miền Nam mà chiến tranh đã đưa từ giảng đường vào
quân
đội.
Sau
khi tốt nghiệp, nhiều bác sĩ trẻ gia nhập các khóa Y Sĩ Trưng Tập, rồi được đưa
về các
quân
y viện, bệnh viện tiểu khu, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn hay những đơn vị tác
chiến
tổng trừ bị.
Họ
có mặt từ Đồng Bằng Cửu
Long tới Cao nguyên, từ miền Đông Nam phần tới vùng giới
tuyến.
Có
người làm việc trong những quân y viện lớn.
Có
người sống với một đơn vị ngoài mặt trận, mang theo một túi y cụ nhỏ hơn rất
nhiều so
với nhu
cầu của những thương tích mà họ sắp phải đối diện.
Họ
là một thành phần của Quân Y Việt Nam Cộng Hòa, nhưng trước hết họ vẫn là những
người
thầy thuốc.
Đó
là một nét cần được nhắc lại khi nói về truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến.
Người
bác sĩ mặc quân phục, có cấp bậc và đơn vị. Nhưng khi một thương binh được đặt
trước mặt
mình, bổn phận y khoa vượt lên trên những phân chia khác.
Trong Nhật
Ký An Lộc, bệnh nhân không chỉ có quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Còn có
thường
dân, người già, phụ nữ, trẻ em, và cả những người lính phía bên
kia khi họ trở thành
thương
binh.
Một
người đang chảy máu trên bàn mổ không còn là một khẩu hiệu chính trị.
Đó
là một bệnh nhân.
Tôi
nghĩ đây chính là phần đẹp nhất của truyền thống Quân Y: giữa một cuộc chiến
mà
nhiệm
vụ của người lính là chiến đấu, nhiệm vụ của người thầy thuốc vẫn là cứu người.
Hai
bổn phận ấy cùng tồn tại trong một bộ quân phục.
LÒNG
CAN ĐẢM KHÔNG CẦN ĐƯỢC NÓI RA
Điều
tôi quý ở Nguyễn Văn Quý là anh không viết để dựng
cho mình một tượng đài.
Trong
sách có sợ hãi.
Có
mệt mỏi.
Có
lo âu.
Có
những giây phút con người rất bình thường trước cái chết.
Và
chính điều ấy làm cuốn sách đáng tin hơn.
Can
đảm không phải là không biết sợ.
Người
bác sĩ nghe tiếng pháo vẫn biết sợ như bất cứ ai. Nhưng khi thương binh được
khiêng
vào,
anh vẫn trở lại bàn mổ.
Không
cần một câu tuyên bố nào khác.
Có
lẽ hình ảnh tiêu biểu nhất về Nguyễn Văn Quý ở An Lộc không phải hình ảnh một
người
cầm
súng, mà là một bác sĩ cúi xuống một bệnh nhân trong khi bên ngoài pháo vẫn
rơi.
Ở
đó, lòng can đảm không mang hình thức của một cuộc xung phong.
Nó
là sự ở lại.
Ở
lại với bệnh viện.
Ở
lại với thương binh.
Ở
lại với trách nhiệm của một người thầy thuốc khi chính mạng sống của mình cũng
không
được
bảo đảm.
MỘT
CHỨNG TỪ Y KHOA VÀ MỘT CHỨNG TỪ NHÂN BẢN
Đọc Nhật
Ký An Lộc hơn nửa thế kỷ sau, chúng ta có thể đọc cuốn sách trên nhiều
tầng.
Đó
là một tài liệu về trận An Lộc.
Đó
là một chứng từ về đời sống của một thành phố bị vây hãm.
Đó
là một tài liệu hiếm về hoạt động y tế và giải phẫu trong điều kiện chiến
tranh.
Nhưng
đối với tôi, giá trị lâu dài hơn cả vẫn là tính cách nhân bản.
Chiến
tranh thường biến con người thành những con số.
Bao
nhiêu chết.
Bao
nhiêu bị thương.
Bao
nhiêu mất tích.
Bao
nhiêu tù binh.
Nhưng
người bác sĩ không được phép nhìn bệnh nhân như một con số.
Trước
mắt anh là một khuôn mặt.
Một
cái tên.
Một
mạch đập đang yếu dần.
Một
huyết áp đang tụt xuống.
Một
sinh mạng mà mình phải tìm cách giữ lại.
Vì
vậy, nếu người lính ngoài chiến hào phải chiến đấu để giữ An Lộc, thì những người
trong
bệnh
viện cũng có một mặt trận khác.
Mỗi
sinh mạng cứu được là một phần đất của sự sống được giành lại từ chiến tranh.
ĐÃ HƠN
NỬA THẾ KỶ SAU
Thế
hệ chúng tôi nay đã đi rất xa khỏi tuổi hai mươi, ba mươi của những năm chiến
tranh.
Nhiều
bạn đồng môn đã mất.
Nhiều
đồng đội không còn.
Những
người từng sống sót qua An Lộc năm 1972 nay cũng ngày một ít đi.
Bởi
vậy, việc tái bản Nhật Ký An Lộc không chỉ là đưa trở lại lưu
hành một cuốn sách đã xuất
bản
từ năm 2002.
Đó
còn là một hành động gìn giữ ký ức.
Ký
ức ấy không cần được tô đậm thêm bằng những mỹ từ.
Những
gì Nguyễn Văn Quý đã ghi lại đủ sức tự nói.
Và
cũng không nên đọc cuốn sách này chỉ để tìm thêm những lý lẽ cho những tranh luận
thắng thua
kéo dài từ một cuộc chiến đã kết thúc hơn nửa thế kỷ.
Hãy
đọc nó để hiểu một thế hệ.
Một
thế hệ sinh viên y khoa vừa rời giảng đường đã mặc quân phục.
Một
thế hệ bác sĩ chưa kịp có một phòng mạch riêng đã có một đơn vị.
Một
thế hệ học cách cứu người trong khi chung quanh là chiến tranh.
Trong
thế hệ ấy có Nguyễn Văn Quý.
Và
trong 86 ngày đêm ở An Lộc, anh đã sống trọn vẹn căn
cước của một Y Sĩ Tiền Tuyến.
Khi
gấp lại những trang cuối của Nhật Ký An Lộc, điều còn lại trong tôi
không phải tiếng đại
bác,
cũng không phải những bản đồ hành quân.
Tôi
nghĩ tới một căn phòng mổ nhỏ giữa thành phố bị vây khổn.
Ngoài
kia, chiến tranh vẫn đang tìm cách lấy đi mạng sống.
Bên
trong, một người bác sĩ vẫn đang tìm cách giữ lại từng mạng người.
Hai
sức mạnh đối nghịch ấy gặp nhau trên một bàn mổ.
Và
có lẽ không có hình ảnh nào nói rõ hơn ý nghĩa của nghề y giữa chiến tranh.
Người
lính có thể được lệnh rời một vị trí.
Nhưng người thầy thuốc không thể rời một thương binh đang cần mình
Đó là Nguyễn Văn Quý ở An Lộc năm 1972.
Đó
cũng là một nét đẹp cần được ghi nhớ trong truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến,
Quân Y Việt
Nam
Cộng Hòa.
Và
đó là lý do, hơn nửa thế kỷ sau, Nhật Ký An Lộc vẫn cần được
tái bản, lưu giữ và trao lại
cho
những thế hệ mai sau.
Hướng
tới một ấn bản Anh ngữ học thuật
Lần
tái bản 2026 này đồng thời mở ra một hướng đi kế tiếp: chuẩn bị ấn bản Anh
ngữ của
Nhật
Ký An Lộc,
nhằm đưa một chứng từ Việt Nam từ chiến trường An Lộc vào không
gian
nghiên cứu quốc tế. Trong tiến trình ấy, sự trao đổi và đóng góp của các học
giả về
Chiến
tranh Việt Nam, lịch sử Đông Nam Á và quân y sẽ được trân trọng đón nhận.
Với
dẫn nhập lịch sử, niên biểu, bản đồ, tư liệu, chú giải và thư mục chọn lọc, ấn
bản tương
lai
hy vọng góp thêm một nguồn tư liệu trực tiếp của người Việt cho
nghiên cứu về chiến
tranh,
y học và trải nghiệm con người.
BS
Ngô Thế Vinh
Long
Beach, tháng 9/ 2026