Sunday, July 12, 2020

Campuchia, một phiên thuộc của Trung Quốc

Trịnh Khải Nguyên-Chương


Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.
    Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
    Campuchia ngày nay sống nhờ Trung Quốc; chế độ thối nát, tham nhũng, cực quyền do Thủ tướng Hun Sen cai trị với những thủ đoạn bất lương của một băng đảng, hoàn toàn khống chế, bằng những biện pháp đàn áp thô bạo nhất, mọi tiếng nói đối lập, phản biện từ quần chúng. Hiến pháp Campuchia, cũng như Hiệp định Paris 1991, thỏa thuận chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài nhiều năm, và trên nguyên tắc, không cho phép bất cứ một thế lực ngoại bang nào thiết lập lực lượng quân sự trên đất nhà, thế nhưng những gì thực sự đã và đang xảy ra ngày nay phơi bày cho thế giới thấy một thực trạng hoàn toàn khác biệt.
    Bắc Kinh từ nhiều năm là nguồn tài trợ to lớn đổ vào Campuchia, chính quyền Hun Sen tùy thuộc phần nhiều vào sự trợ giúp đó để tồn tại. Nhưng theo các phân tích viên quốc tế thì Hun Sen sẽ giẫm qua “lằn ranh đỏ,” ít nhất là trên mặt nổi, đối nội cũng như đối ngoại, nếu ông ta cho phép Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trú phòng. Lẽ đương nhiên, quan chức Campuchia và chính bản thân Hun Sen cực lực bác bỏ lời cáo buộc của tình báo Hoa Kỳ, họ gọi đó là “fake-news.” Nhưng theo nhiều tài liệu và văn kiện do truyền thông thế giới phanh phui được thì Trung Quốc và Campuchia đã ký kết một điều ước mật cho phép Trung Quốc đặt căn cứ hải quân tại Ream, một văn kiện khác tiết lộ một toán chuyên gia Trung Quốc đã xuống khảo sát hình thế, thi hành các công tác trắc địa tại đây.
    Để trả lời câu hỏi của báo chí về các biến chuyển này, chính quyền Bắc Kinh và Phnom Penh lặp đi lặp lại luận điệu cố hữu: những dự án ấy nằm trong chương trình đầu tư và xây dựng hạ tầng cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thời bình. Với tham vọng bành trướng bá quyền càng ngày càng lộ rõ, không ai tin Trung Quốc bỏ cả tỉ bạc giúp Campuchia xây khu du lịch, đường sá, trường học cho trẻ em nghèo, v.v… Bằng chứng sáng tỏ như ban ngày là Trung Quốc đang xây căn cứ quân sự chứ không phải nhà nghỉ mát. Phi đạo và hải cảng nước sâu ở tỉnh Koh Kong là bằng chứng hiển nhiên, rồi mô hình thiết kế khu du lịch nằm trên đảo Koh Rong cho thấy đây là một căn cứ quân sự chứ không phải khách sạn và sân chơi cho khách du lịch.
    Đi ngược thời gian ít năm, chính xác là năm 2013, Chủ tịch Nhà nước Tập Cận Bình công bố một dự án khổng lồ lấy tên là Nhất Đới Nhất Lộ (Tây phương gọi là Belt and Road Initiative) – một dự án lên đến cả ngàn tỉ Mỹ kim. Sáng kiến Nhất Đới Nhất Lộ của Trung Quốc – một vành đai, một con đường – là dự án lấy danh nghĩa phát triển kinh tế đa quốc gia thông qua hai kế hoạch Con Đường Tơ Lụa và Đường Hàng Hải. Tuy nhiên, học viện Brookings của Hoa Kỳ, trong một bản tường trình hôm tháng 9 năm 2019 ghi nhận là, “Những dự án hạ tầng cơ sở này được xây dựng mau chóng và hoạt động dễ dàng hơn là các căn cứ quân sự. Để thiết lập và bảo trì ít tốn kém kinh phí hơn, và trên thực tế, chúng thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc.”
    Hơn nữa, hiệp thương kinh tế bao giờ cũng đi đôi với hiệp ước hỗ tương quân sự, mà cán cân thường ngả về phía quân sự nhiều hơn, như có lần bị Trung tâm Nghiên cứu Quốc phòng Cấp cao của Hoa Kỳ phanh phui năm 2017.
    Đòn phép che mắt thế giới của Tập Cận Bình là tạo sự nhập nhằng giữa quân sự và dân sự. Bằng nghị quyết trung ương, Tập dần dà xóa bỏ lằn ranh giữa dân chính và quân chính. Đây là âm mưu thâm độc nhằm biến tiềm năng cả nước thành một lực lượng vũ trang kinh khiếp khi cần thiết. Điển hình là với những nghị quyết trung ương trong hai năm 2015 và 2016, thương thuyền của Trung Quốc từ nay trở đi phải đạt tiêu chuẩn quân sự. Có nghĩa là một chiếc thương thuyền chở hàng hóa có thể biến ngay thành một chiến thuyền trong trường hợp chiến tranh hay xung đột xảy ra. Tại biển Nam Hoa, ngư thuyền Việt Nam và Philippines thường là những miếng mồi ngon cho khinh hạm bọc sắt ngụy trang tàu đánh cá của Trung Quốc.
    Xuyên qua dự án Nhất Đới Nhất Lộ, nhất là tại các hải cảng và vùng duyên hải, chính quyền Trung Quốc hiện đang xây dựng cơ sở và căn cứ vững chãi tại các địa điểm chiến lược. Tay làm nhưng miệng vẫn chối bai bải: Chúng tôi nào có tham vọng quân sự, chúng tôi làm vì nhân đạo và hòa bình thế giới!
    Quyền lợi kinh tế của Trung Quốc hiện nay nằm rải rác khắp nơi trên thế giới, và để bảo vệ, Trung Quốc sẽ phải đổ tiền vào xây dựng căn cứ quân sự. Các căn cứ này, từ khả năng phòng ngự lúc ban đầu sẽ nhanh chóng biến thành cứ điểm mạnh mẽ dùng cho tiềm lực tấn công chiến lược một khi chiến tranh xảy ra. Đây là chính sách Trung Quốc đã và đang áp dụng trên toàn vùng Đông Á.
    Ở biển Nam Hoa, Trung Quốc từ năm 1974 đã “thái dồi” xong quần đảo Hoàng Sa trong tay Việt Nam và ngang nhiên kéo những giàn khoan dầu nổi có cả hạm đội tàu chiến yểm trợ vào vùng biển mà Hà Nội vẫn xem là thuộc Việt Nam. Cùng một nước cờ, Trung Quốc cưỡng chiếm bãi đá ngầm Macclesfield Bank (Trung Quốc gọi là Trung Sa) và bãi cạn Scarborough Shoal (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham Đảo) của Philippines. Trung Quốc cũng tiến chiếm một số các hòn đảo ám tiêu san hô thuộc quần đảo Trường Sa từ Việt Nam và các quốc gia khác trong vùng. Từ năm 2013, tại đây, Trung Quốc bất chấp công pháp quốc tế, thực hiện các công trình quy mô vét cát dưới lòng biển, đổ bê-tông, biến rạn san hô thành đảo nhân tạo rồi xây phi đạo, đặt giàn tên lửa, v.v… Sau khi Tòa án Trọng tài Thường trực đưa ra phán quyết bác bỏ tính hợp pháp của tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò chín đoạn” của Trung Quốcđòi chủ quyền 90% lãnh hải biển Nam Hoa, một vùng biển rộng cả triệu dặm vuông, hải sản và tài nguyên phong phú, và cũng là một hải tuyến giao thương quan yếu năm nghìn tỉ Mỹ kim hàng hóa qua lại mỗi năm – Trung Quốc vẫn tiếp tục xem thường công luận quốc tế, duy trì thái độ hung hăng cố hữu, không ngừng tập diễn quân sự tại các hòn đảo nhân tạo này, đồng thời tích cực vận động ngoại giao để lôi kéo đồng minh về phe mình.
    Thoạt đầu họ tuyên bố mục đích chỉ để bảo vệ san hô đang bị môi trường hủy diệt, và trợ giúp tàu bè lâm nạn trên biển, nhưng khi hành vi trở nên quá lộ liễu thì họ thú nhận là có quân sự hóa nhưng chỉ nhằm vào mục tiêu thuần túy phòng ngự. Ngay cả khi đặt giàn hỏa tiễn tuần kích1 và chuyển đến một lực lượng chiến đấu cơ khá hùng hậu trên các hòn đảo ấy, Bắc Kinh vẫn trơ trẽn tuyên bố với thế giới rằng họ không hề có bất cứ một tham vọng quân sự nào!
    Cùng một luận điệu, Bắc Kinh cũng đang biến Djibouti thành một căn cứ quân sự trọng yếu. Djibouti tọa lạc tại vùng đất thường được mệnh danh là Sừng Châu Phi. Nó canh gác hệ thống các hải cảng bên bờ biển Châu Phi, từ vịnh Ba Tư, góp phần hình thành nên hải tuyến thương mại quan trọng từ thời cổ đại trải dọc Ấn Độ Dương. Trung Quốc đã đầu tư vào đây từ năm 2000, họ lấy lòng chính quyền địa phương bằng cách cho vay nợ mà không cần trả. Năm 2016 chính quyền Djibouti tuyên bố thiết lập đặc khu và ký kết một điều ước 10 năm với Trung Quốc. Dĩ nhiên, Trung Quốc trấn an thế giới bảo đây chỉ là một căn cứ hậu cần sử dụng trong những công tác trợ giúp nhân đạo và chống hải tặc. Nhưng sự thật thì khác hẳn, không ảnh vệ tinh gần đây cho thấy những công trình xây dựng hiện rõ là một căn cứ hải quân khổng lồ có khả năng đón nhận tàu chiến và tàu ngầm nguyên tử.
   Cùng một sách lược ấy, Trung Quốc đang dần dà biến Campuchia thành một phiên thuộc. Với nguồn tài trợ khổng lồ từ Bắc Kinh đổ vào, chính quyền Phnom Penh càng lúc càng trở nên độc tài, vi phạm nhân quyền một cách thô bạo để thỏa mãn những yêu sách của Bắc Kinh. Thủ tướng Hun Sen chỉ là kẻ thừa hành những chương trình do Trung Quốc đặt ra. Trận đại dịch Covid-19 cho thế giới thấy rõ Hun Sen là người như thế nào. Ngay sau khi Trung Quốc tuyên bố mở cửa, Hun Sen là nguyên thủ quốc gia đầu tiên bay lên Bắc Kinh chúc mừng Tập Cận Bình. Và, trong khi đại dịch vẫn đang hoành hành dữ dội, nhà nước Campuchia vẫn không ra lệnh đình chỉ các chuyến bay giữa hai quốc gia. Điều này chứng tỏ ông ta coi trọng đồng tiền của Bắc Kinh hơn sinh mạng người dân. Hun Sen còn giúp Trung Quốc tránh thuế thương chính của Hoa Kỳ trong trận thương chiến giữa hai quốc gia bằng cách cho phép Trung Quốc sử dụng đặc khu kinh tế do Trung Quốc làm chủ ở Sihanoukville để vận chuyển hàng hóa.
    Có lẽ Hun Sen không có chọn lựa nào khác. Ngày nay Campuchia gần như bị cô lập trên chính trường quốc tế; dân chúng trong nước, nhất là giới trẻ, hoàn toàn mất tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của con người nhiều thủ đoạn và hèn kém ấy. Nhưng với sự hỗ trợ tích cực từ Trung Quốc, chính quyền Phnom Penh không từ bỏ bất cứ một biện pháp thô bạo nào nhằm bóp nghẹt tiếng nói của phe đối lập và báo chí. Tình trạng tham nhũng trong chính quyền và các thiết chế xã hội tràn lan khủng khiếp; sắc luật “Chống Tham nhũng” ban hành năm 2010 chỉ là một văn kiện khôi hài, thí dụ, kẻ thổi còi báo động tham nhũng (whistle-blower), nếu không trưng ra được bằng chứng cụ thể, sẽ bị sáu tháng tù! Không cần nói nhiều, những vi phạm nhân quyền như giết chóc, tra tấn những kẻ bị xem là nguy hiểm cho chế độ, kể cả trí thức và báo chí đối lập, xảy ra thường xuyên, đến nỗi năm 2018 Liên Hiệp Quốc đã phải lên tiếng cảnh báo. Đáng buồn nhất là ở Campuchia ngày nay tình trạng nô lệ vẫn còn tồn tại. Theo Chỉ số Nô lệ Toàn cầu (văn phòng chính ở Paris) công bố năm 2016 thì Campuchia có 256.800 người (tức 1,65% dân số) là nô lệ!


Vị trí tỉnh Koh Kong (Ảnh Google Map)

    Trung Quốc đổ nguồn đầu tư vào Campuchia với danh nghĩa phát triển kinh tế, nhưng sự thật là những lợi ích chỉ dồn vào Hun Sen và tập đoàn thống trị của ông ta. Tại tỉnh Koh Kong (xem bản đồ) phía tây nam Campuchia, phi trường và hải cảng nước sâu không phải để giúp ngành du lịch quốc gia có thêm lợi nhuận, dân chúng có công ăn việc làm, mà được sử dụng như một căn cứ vĩ đại của hải quân Trung Quốc. Nhà nước Campuchia đã dâng cho Tập đoàn Liên hợp Phát triển Thiên Tân ít nhất 20% chiều dài toàn thể bờ biển quốc gia, gấp ba lần con số luật đất đai cho phép, để xây dựng căn cứ này. Theo điều ước 99-năm-nhượng-địa với cái giá rẻ hơn bèo 30 Mỹ kim một héc-ta, Trung Quốc sẽ làm chủ dải đất chiến lược này trong một thời gian rất dài. Không người Campuchia nào được phép làm bất cứ điều gì trên dải đất đó. Cả ngàn gia đình bị cướp đất, không một đồng xu bồi thường, và khi dân oan lên Phnom Penh khiếu kiện nhà nước thì bị cảnh sát bắt giam vào nhà tù.
    Nắm giữ hải cảng nước sâu Koh Kong, Trung Quốc kiểm soát cửa ngõ biển Nam Hoa ra Ấn Độ Dương, đi luồn qua eo biển Malacca nhỏ hẹp và trắc trở. Từ lâu các chiến lược gia thế giới đều đồng ý rằng ai kiểm soát eo biển đó sẽ kiểm soát luôn Đông Nam Á, và có lẽ cả Đông Á, bởi đa phần dầu khí dùng thắp đèn và chế tạo xăng nhớt cho ô-tô chạy ở Nhật Bản và Nam Hàn đều phải đi qua vùng biển này.
    Đặt căn cứ quân sự tại Koh Kong, cùng với Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc tạo thành thế tam giác bao vây các quốc gia Đông Nam Á vào giữa, trong đó Việt Nam là cái đích dễ ngắm bắn nhất. Nếu chiến tranh toàn diện giữa hai quốc gia xảy ra (một điều không ai mong muốn, kể cả Trung Quốc), với hỏa tiễn tuần kích và một lực lượng phóng pháo / chiến đấu cơ tàng hình thế-hệ-thứ-năm J-20 tiên tiến, trong vòng 72 giờ, cả nước Việt Nam sẽ biến thành biển lửa, và “bài học” năm 1979 chỉ là cái “búng tai” thật nhẹ.
    Chiến tranh có thể không xảy ra, nhưng trong lúc ngồi đàm phán, bạn chẳng thể nào ở thế thượng phong nếu khẩu súng to đùng của phe địch lúc nào cũng lăm lăm chĩa vào đầu bạn.
    Ngoài Campuchia, các quốc gia khác trong vùng cho tới giờ phút này vẫn chưa bị Trung Quốc áp đặt một chế độ cho phép họ đem quân đội và vũ khí vào. Nhưng nếu cộng đồng thế giới làm ngơ vì quyền lợi nhỏ trước mắt để Trung Quốc tiếp tục sách lược “nói một đàng, làm một nẻo” thì sớm muộn Campuchia sẽ biến thành trạm gác của Trung Quốc. Sách lược ấy, họ không cần tìm kiếm đâu xa, mà chỉ cần giở lại thiên Kế sách trong binh pháp Tôn Tử. Cách đây hai nghìn năm trăm năm, Tôn Tử nói: “Binh giả, ngụy đạo dã.” Có nghĩa là: Dụng binh tác chiến là một hành vi ngụy tạo, giả trá, tấn công trong lúc đối phương không đề phòng, hành động ở chỗ đối phương không ngờ tới, mà mục đích cuối cùng vẫn luôn luôn là đánh thắng quân thù. Kỳ thực, xảo trá là tư tưởng chiến lược rất quan trọng xuyên suốt binh pháp Tôn Tử mà Tập Cận Bình cùng ban tham mưu của ông ta ngày nay áp dụng một cách triệt để trên chính trường thế giới.
    Các nhà nắm chính sách của Hoa Kỳ chắc chắn biết như thế, và Hoa Kỳ vừa ngấm ngầm vừa công khai giúp các quốc gia nhỏ trong vùng như Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, và Việt Nam những phương tiện kỹ thuật để rà soát mạng lưới an ninh hàng hải, bao gồm cả công tác dò thám hành động quân sự mật của Trung Quốc, và chia sẻ những thông tin này với Washington. Điều này trở nên cấp bách hơn bao giờ, và cần triển khai cho rộng lớn hơn. Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh nếu không kịp thời ngăn chặn Trung Quốc biến Campuchia thành một pháo đài tiền tuyến thì đó sẽ là gót chân của Achilles trong sách lược ngăn chặn hiểm họa làn sóng bá quyền của Trung Quốc đang ồ ạt bành trướng phủ trùm lên toàn cõi Đông Á. Thêm nữa, dân tộc Campuchia cần được hỗ trợ để họ giữ vững chủ quyền đất đai, đòi hỏi có bầu cử tự do và lương thiện, hầu phục hồi lại thể chế độc lập và trung lập trên xứ sở vốn trải qua không biết bao nhiêu tai ương khốc hại suốt gần thế kỷ qua.
    Biết như vậy, Tổng thống Obama của Hoa Kỳ đã sớm “xoay trục” chính sách đối ngoại với chủ đích nhắm vào Á Châu nhiều hơn. Tuy nhiên, theo ông Pat Mulloy, cựu thành viên của Ủy ban Xét duyệt Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung, thì sách lược “xoay trục” xem-quân-sự-là-chính của Tòa Bạch Ốc đã để lộ ra sự thiếu hiểu biết cơ bản của Hoa Kỳ về yêu cầu cấp thiết tái dựng sức mạnh quốc gia tổng hợp. Ông đưa ra nhận định sau: “Tổng thống bảo chúng ta phải xoay trục sang Á Châu vì Trung Quốc đang vươn lên. Nhưng Trung Quốc vươn lên chính vì chúng ta đã để cán cân mậu dịch nghiêng hẳn về phía Trung Quốc. Do đó, phải chăng sẽ hợp lý hơn nhiều nếu chúng ta quân bằng cán cân ấy bằng cách chấm dứt ngay tình trạng giới tiêu thụ Mỹ tiếp tục nuôi cho Trung Quốc đi lên? Đấy mới là phương cách xoay trục sang Á Châu thật sự thông minh.”
    Câu nói của ông Mulloy nghe càng chua xót trong trận đại dịch Covid-19 khi người dân biết là 90% thuốc men của Hoa Kỳ là do Trung Quốc sản xuất và cung cấp!
    Giáo sư Tiến sĩ Peter Navarro, hiện đang là cố vấn kinh tế cho Tổng thống Trump, thì đưa ra suy nghĩ sau về khó khăn này của Hoa Kỳ: “Để chống đỡ những thách đố khó khăn và các vấn đề kinh tế, an ninh nghiêm trọng gây nên bởi sự tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc, trước hết chúng ta phải có đồng thuận chính trị. Tuy vậy, rất khó đạt được sự đồng thuận như thế trong một thể chế dân chủ mở nơi những phe nhóm lợi ích tranh giành ảnh hưởng kinh tế chia nhau đặc quyền trong việc buôn bán với Trung Quốc, những nhóm “chính trị hành lang” sẽ tranh giành lẫn nhau chứ không chịu ngồi chung bàn để cùng hướng về một mục đích chung. Thêm nữa, trong khi chính quyền Cộng sản độc tài Trung Quốc có toàn quyền dùng báo chí, truyền thanh, truyền hình làm cái loa cho luận điểm của mình thì giới truyền thông Tây phương và các trường đại học Hoa Kỳ đều tự áp đặt một chế độ kiểm duyệt. Sự thật là “căn nhà chia rẽ” này đã từ lâu giải thích tại sao các nền dân chủ Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ, đã tỏ ra vô cùng chậm chạp khi phản ứng lại một Trung Quốc hận thù ấp ủ nhất quyết tiến lên chiếm lĩnh vai trò độc bá thế giới. Tuy nhiên, nếu tình trạng vùi-đầu-xuống-cát này tiếp diễn mãi thì kết cuộc của câu chuyện, tôi e là rất tệ.”
    Lời lẽ của giáo sư Navarro rất đáng cho chúng ta suy ngẫm.


Chú thích:

1  Cruise missile, còn được dịch là tên lửa hành trình (dịch theo tiếng Anh), tên lửa có cánh (dịch theo tiếng Nga), hỏa tiễn tuần la… Trung Quốc gọi là “tuần hàng đạo đạn.”



Saturday, May 16, 2020

TRỊNH Y THƯ / GẶP GỠ VỚI ĐỊNH MỆNH, Tuyển văn dịch

Văn Học Press
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press

PR 05/20/2020
SÁCH MỚI

Trân trọng giới thiệu:




Gặp gỡ với định mệnh
Tuyển văn dịch

FRANZ KAFKA
GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ
PHILIP ROTH
MILAN KUNDERA
SALMAN RUSHDIE
ORHAN PAMUK
KURT VONNEGUT
IRIS MURDOCH
WOLE SOYINKA
HERTA MÜLLER
ROBERTO BOLAÑO
BANANA YOSHIMOTO

Người dịch: Trịnh Y Thư
Thiết kế bìa: Đinh Trường Chinh
222 trang, giá bán: $18.00

Tìm mua trên:
BARNES & NOBLE
https://www.barnesandnoble.com
Search Keywords: Gap go voi dinh menh
Hoặc bấm vào đường dẫn sau:
https://www.barnesandnoble.com/w/books/1137030755?ean=9781078799065 

Thay lời tựa
Cuốn sách bạn đọc đang cầm trên tay là một tuyển tập văn dịch – gồm 12 tác giả thuộc nhiều quốc tịch khác nhau – và có lẽ chỉ được xem là một cố gắng khiêm tốn, mang tính cách tìm tòi học hỏi của một kẻ đam mê chữ nghĩa nhiều hơn là một công trình nghiên cứu hàn lâm nghiêm túc.
Có hai vấn đề khi thực hiện một tuyển tập như vậy.

Thứ nhất, những tác giả tôi chọn dịch trong sách là hoàn toàn theo thiên kiến chủ quan; đó là những tác giả tôi yêu thích xưa nay. Dĩ nhiên, thích mới dịch. Nhưng không phải ai cũng đồng quan điểm và sở thích với tôi, không phải ai cũng ưa thích những tác giả tôi chọn dịch.

Thứ hai, trong phạm vi hạn hẹp của một cuốn sách mỏng, bạn chỉ có thể tiếp cận một phần trăm, thậm chí đôi khi một phần ngàn tổng thể trước tác văn chương của tác giả được giới thiệu. Như vậy có công bằng với tác giả không? Câu trả lời dĩ nhiên là không. Một bản dịch sơ sài vài ngàn chữ một truyện ngắn, một trích đoạn tiểu thuyết, một bài tiểu luận… trong khi toàn bộ tác phẩm của họ là một kho tàng văn học quý giá cả mấy chục đầu sách, cuốn nào cũng có thể xem là một kiệt tác văn chương (như trường hợp Gabriel García Márquez, Milan Kundera, Philip Roth… ) thì làm sao có thể gọi là công bằng được. Giống như giới thiệu văn hóa ẩm thực Việt Nam mà tôi dọn ra cỗ bàn duy nhất món nem rán! Món nem rán của tôi dù ăn ngon miệng cách mấy cũng không thể nói lên trọn vẹn cái siêu tuyệt của thức ăn Việt Nam nói chung. Bởi thế, xin bạn, nhất là các bạn trẻ đang muốn tìm hiểu văn học nước ngoài, hãy xem cuốn sách này là món nem rán ăn khai vị để từ đó cất công tìm hiểu sâu thêm và biết đâu sẽ có lúc chúng ta gặp lại nhau trên những nẻo đường văn chương, vốn muôn đời là con đường vô hạn định, xuyên vũ trụ, không bao giờ đến đích.

Hầu hết các tác giả tôi tuyển dịch trong tuyển tập là đồng thời với chúng ta, mặc dù ít ai còn trẻ. Họ là những nhà văn sống và viết vào nửa sau thế kỷ XX, có người sống sang thế kỷ XXI và vẫn đang tiếp tục viết, có người đã qua đời.
Đây lại là một chọn lựa chủ quan khác.
Chủ quan bởi tôi muốn tìm hiểu các nhà văn này tư duy gì trên trang viết của họ, những nhà văn sinh sống cùng thời với tôi, cùng bối cảnh lịch sử, cùng môi trường, cùng chia sẻ những vấn đề nhân sinh, và đôi khi cùng khí hậu văn hóa.
Thêm một lý do khác, quan hệ không kém đối với tôi, đó là phong cách văn học của các nhà văn, mà phần nhiều nghiêng về xu hướng phi thực. Điểm chung khiến tôi đặc biệt chú ý là, tuy văn chương họ không hẳn miêu thuật đời sống thực tại, nhưng nó không tách rời thực tại. Họ không phải người viết truyện huyễn tưởng hay viễn tưởng. Họ làm văn, mà đã làm văn thì phải bám sát đời sống con người, xem bản ngã và đời sống con người là những đối tượng chính yếu của văn chương.

Phi thực nhưng không tách rời đời sống, điều này không dễ viết cho hay, nhưng ở những ngòi bút bậc thầy, cái phi thực lại có sức thuyết phục hơn cái hiện thực tả chân, vốn chỉ miêu thuật hay minh họa đời sống theo những giác quan cố định, không cho phép thần trí tưởng tượng bay bổng lên cao. Văn chương chỉ có thể gọi là nghệ thuật nếu nó đưa người đọc vào một chiều kích nơi óc tưởng tượng có cơ hội bung nở, mở ra những suy tưởng phi giới hạn. Nếu không nó chỉ là mớ chữ tuyên truyền cho một chủ thuyết, một quan điểm, một luận đề. Vô hồn, chán ngắt. Trích đoạn tiểu thuyết Tôi là cái thây ma của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, hoặc truyện ngắn william burns của nhà văn Chile Roberto Bolaño đều có thể xem là những thí dụ điển hình.
Tôi cũng đặc biệt yêu thích nhà văn Colombia Gabriel García Márquez. Vì thế, mặc dù đã có khá nhiều bản dịch tác phẩm ông sang tiếng Việt, tôi vẫn tìm cách đưa vào sách một truyện ngắn tiêu biểu cho văn phong của ông. Ông chính là đại diện cho xu hướng Hiện thực Huyền ảo, vốn làm mưa làm gió trên văn đàn thế giới cả mấy chục năm qua. Những nhà văn khác như Salman Rushdie, Philip Roth, Kurt Vonnegut, Milan Kundera… đều ít nhiều sáng tác dưới luồng sáng của xu hướng văn học này.
Và gần như tất cả đều chịu ảnh hưởng của Franz Kafka.
Đó là lý do vì sao tôi không thể bỏ quên Kafka, mặc dù ông là một tác giả không đồng thời với chúng ta. Sinh sống và sáng tác cách đây cả trăm năm, số lượng trước tác không nhiều, phải nói là cực kỳ ít ỏi, nhưng Kafka đã là bảng chỉ đường cho rất nhiều nhà văn quốc tế suốt thế kỷ XX. Cuốn sách Márquez đọc khi mới trưởng thành, dọn đường cho một văn nghiệp lừng lẫy, chính là cuốn Hóa thân của Kafka. Nhà văn Mỹ Philip Roth thì viết một cuốn tiểu thuyết nhan đề The Breast (Cái vú) nhái theo cuốn Hóa thân. Một nhà văn khác, Milan Kundera, cũng có mặt trong tuyển tập, không bao giờ tiếc lời ca ngợi Kafka, xem ông như một nhà văn khai phóng đặt nền tảng cho tiểu thuyết hiện đại.

Riêng với Kundera, tôi có một ngoại lệ. Những nhà văn khác, tôi dịch truyện – truyện ngắn hoặc trích đoạn tiểu thuyết – nhưng với Kundera, tôi chọn những trích đoạn mà tôi tâm đắc từ cuốn tiểu luận Bức màn của ông. Điều này dễ hiểu. Kundera là nhà viết tiểu luận xuất sắc bên cạnh cương vị một tiểu thuyết gia hàng đầu. Tiểu thuyết Kundera đã được dịch sang tiếng Việt khá nhiều trong suốt thời gian hơn hai mươi năm qua. Tiểu thuyết ông không dễ đọc và hay bị hiểu sai dưới lăng kính chính trị, do đó, ước mong của tôi khi dịch những tiểu luận văn học này là giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn hơn về một tác giả quan trọng của văn chương thế giới đương đại. Tiểu luận của Kundera không nặng tính hàn lâm, không bám dựa mông lung quá nhiều vào lý thuyết văn học; nó là những điều tâm huyết về văn chương, nghệ thuật, lịch sử và nhân sinh ông nói thẳng từ lòng mình, lại có nhiều chi tiết lịch sử, văn học thú vị, nên dễ lĩnh hội và hữu ích.

Bên cạnh các tác giả vừa kể trên, tôi cũng đưa vào tuyển tập đôi ba tác giả ít được nhắc đến trong văn chương Việt, như Iris Murdoch, Woly Soyinka, Herta Müller. Họ đều là những tác giả không tầm thường, rất xứng đáng để tìm hiểu thêm. Và sau cùng, hai tác giả với hai đoản văn “nhẹ nhàng,” “dễ thương,” Kurt Vonnegut và Banana Yoshimoto, mà tôi thấy rất thú vị khi dịch.

Câu hỏi thường được đặt ra cho một tác phẩm dịch thuật văn học là: người dịch nên tuyệt đối trung thành với văn bản nguyên tác, hay nên đặt trọng tâm vào yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch? Ở cuốn sách này, cũng như các tác phẩm dịch khác đã xuất bản của tôi, tôi đều cố gắng đến mức tối đa có thể kết hợp chặt chẽ cả hai xu hướng. Tôi không phủ nhận giá trị những dịch phẩm nghiêm chỉnh tuân thủ từng câu, từng chữ, từng dấu chấm, dấu phết trong nguyên tác, nhưng tính Dionysian trong nghệ thuật bao giờ cũng hấp dẫn hơn, quyến rũ hơn và tôi sẵn sàng hy sinh cái chân lý tuyệt đối (đôi khi rất vô tích sự) để đổi lấy dăm ba nét linh diệu phù ảo của cái bất toàn. Tôn chỉ ấy tôi luôn luôn tuân thủ, và đã áp dụng vào cuốn sách rất mực đề huề.

– Trịnh Y Thư
5/2020


Wednesday, May 13, 2020

TRỊNH Y THƯ / Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào?





Có người bạn văn email hỏi tôi: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào. Câu hỏi khá bất ngờ và, kỳ thực, tôi không biết rõ lắm, bèn tìm kế hoãn binh, bảo chị đợi tôi trả lời trong một bài viết, thay vì vài câu email sơ sài cho qua. Nhận lời xong, tôi mới biết mình dại, vì không dễ dàng trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này chút nào. Thôi thì, đành cố tới đâu hay tới đó, có chi bất cập, sai trái, mong các bạn góp ý và chỉnh sửa lại cho đúng.

Giữa ba thể loại, có lẽ Ký dễ phân biệt nhất. Ký cũng là một thể loại văn học phổ biến trong văn học Tây phương, nên tôi có nhiều phương tiện tra cứu hơn. Vì thế, xin nói trước về Ký.

Ký là tên gọi chung cho một nhóm thể tài chữ nghĩa văn xuôi nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, như báo chí, chính luận, ghi chép… Chủ yếu của Ký là ghi chép theo dạng tự sự, miêu tả nhiều hơn là phân tích nội tâm. Ký có nhiều thể loại: Hồi ký, Bút ký, Du ký, Ký sự, Phóng sự, Nhật ký, v.v…

Ký nói chung khác với Truyện ở chỗ Ký không đưa ra một xung động nội tại. Phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ đề Ký trình bày cũng khác, so với Truyện. Trong khi Truyện khai triển tính cách cá nhân con người (bằng cách xây dựng nhân vật) trong tương quan với hoàn cảnh và bối cảnh, thì Ký chỉ chú trọng đến chính bản thân môi trường, mà xem nhẹ tính cách của nhân vật (nếu có) trong đó.

Bởi thế, Ký chủ ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc, nghiêng nhiều về mặt báo chí, chính luận, biểu thị bởi sự quan tâm mang tính thời sự, chính trị. Đặc điểm của Ký là tính tư liệu, tái hiện tính chính xác của sự kiện, của hiện tượng có thực; (Hồi ký chiến tranh Tháng ba gãy súng của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy là một thí dụ.) Nội dung của Ký ở đây không hẳn chỉ có những miêu thuật khách quan, mà còn bao gồm những lý giải, đánh giá chủ quan, thậm chí tâm tình riêng của tác giả. Ở đây, Ký giao thoa với Truyện, và bởi thế, có thể xem những tác phẩm như vậy là Ký Văn học.

Bây giờ hãy thử nói đến Tùy bút.

Định nghĩa cơ bản của Tùy bút là một thể tài văn xuôi không đề tài nhất định, theo dòng cảm hứng mà viết, tùy hứng mà phóng bút. Theo Từ điển Nguyễn Quốc Hùng, Tùy Bút 隨筆 là “Theo bút mà viết. Lối văn không gò bó ý tứ.” Nói chung là gặp gì viết nấy, nghĩ sao nói vậy, tự do tuyệt đối. Tiền tố “tùy,” tiếng Hán, có nghĩa là “theo,” “thuận theo,” như trong các chữ “tùy nghi,” “tùy cơ ứng biến,” “tùy thế,” v.v… Với định nghĩa này, nếu bạn ra đường đi bộ thấy một hòn đá tầm thường, về nhà viết một bài dài năm nghìn chữ về hòn đá, thì đó là một Tùy bút. (Kỳ thực, viết về một hòn đá mà thú vị, thu hút người đọc thì bạn là thiên tài văn chương chứ chẳng chơi đâu.) Ngoài ra, bạn có thể viết về tiếng ếch nhái, mùi hoa dạ lý, cái ngon của bát phở, mái tóc cô thiếu nữ thanh xuân, cặp đùi thon dài trắng muốt của cô hàng xóm người Mỹ nằm tắm nắng một ngày đầu Xuân, tật hay nhậu nhẹt của ông bạn họa sĩ dở hơi, thậm chí, tật nói nhiều của bà vợ trong nhà, v.v… Nó tựa như nghị luận mà không phải nghị luận, bởi nó tùy hứng và đầy cảm xúc chủ quan chứ không có tính cách biện biệt, phải trái hơn thua. Lô-gích của nó là một lô-gích phi-biện-luận, không cao kỳ, mà hấp dẫn, thân mật như câu chuyện tâm tình giữa hai người tri kỷ.

Suốt thời kỳ Trung đại, văn học Việt Nam chỉ có duy nhất một tập Tùy bút đáng ghi nhận là cuốn Vũ Trung Tùy Bút (Tùy bút trong mưa) của danh sĩ Phạm Đình Hổ [1768-1839].

Vì đề tài phóng túng, tùy cảm hứng mà viết nên Tùy bút rất thích hợp với những tâm hồn văn chương yêu chuộng tự do, không thích cái cương tỏa của hàn lâm, cái chiết tỏa của giáo điều. Ví dụ như Nguyễn Tuân trước Cách mạng Tháng Tám. Cái “ngông” của Nguyễn Tuân đã khiến ông trở thành người viết Tùy bút hay nhất Việt Nam trước 1945.

Nhưng phải đợi đến sau 1954 Tùy bút mới có cơ hội bung nở thành một nghệ thuật dưới ngòi bút tuyệt luân của nhà văn Võ Phiến. Theo tôi, chính ông Võ đã đẩy thể tài Tùy bút đến một cương vực nghệ thuật mới với tài nhận xét tinh tế, miêu thuật sắc bén, dùng chữ tài tình, đúng chỗ, hợp tình. Ngoài ra, giọng văn dí dỏm, nhẹ nhàng cũng khiến Tùy bút Võ Phiến chinh phục  biết bao triệu con tim người đọc Việt Nam.

Viết Tùy bút tưởng dễ mà không dễ, bởi nó không phải nơi cho bạn khoe kiến thức. Nó là mối giao cảm tuyệt hảo giữa bạn với sự vật; chỉ khi nào bạn đi vào linh hồn của sự vật thì lúc đó bạn mới có thể thành công trải lòng mình trên trang viết Tùy bút. Võ Phiến viết tùy bút sở dĩ thành công là vì ông đã đi vào linh hồn của sự vật, từ “Ăn uống sự thường,” “Của mắm và người”  cho đến “Đô thị hoang sơ,” “Giã biệt mùa nắng,” quy tụ trong hai tập, tập nào cũng trên 300 trang, và bài nào cũng thấm đẫm cái phong vị thấm thía của chữ nghĩa và sự vật ông miêu thuật. Đọc Tùy bút Võ Phiến, bạn chỉ có thể thốt lên một câu rất ư bình dân: Trời, đọc “đã” quá!

Thế còn Tản văn?

Ý nghĩa nguyên thủy của Tản văn là “văn xuôi không có vần,” dịch từ la prose của Pháp hay prose của Anh. Cuốn Từ điển Việt Nam của cụ Lê Ngọc Trụ ghi, “Tản văn (danh từ): Văn xuôi, văn viết không cần ăn vần, cân đối, hay theo một khuôn khổ nào cả.” Từ điển Nguyễn Quốc Hùng thì ghi Tản Văn 散文 là: “Văn xuôi không có vần điệu gì.” “Tản” còn là cách gọi thơ không vần, tự do, gần giống văn xuôi, không theo quy tắc thi pháp chặt chẽ nào. Cụm từ Prose Poem thường được dịch là thơ xuôi, hay “tản thi.” Thời cổ ở Trung quốc có một thể loại thơ gọi là “tản hành” với tính cách không hạn vần và niêm luật, tương tự thơ Tự do hay thơ Tân Hình thức ngày nay.

Nhà thơ Nguyễn-Hòa Trước có một tập thơ xuôi – prose poems – tuyệt vời, nhan đề (gửi) em, mùa xuân sơ sinh, do NXB Văn Học Press xuất bản năm 2018.

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh cũng có một tập thơ tuyệt vời không kém, nhan đề Tản Văn Thi – có thể dịch là prose poems, cũng do NXB Văn Học Press xuất bản năm 2019.

Văn hào Alexander Solzhenitsyn, bên cạnh những tác phẩm tiểu thuyết nghìn trang nặng ký, cũng có một tập Prose Poems, xuất bản đầu thập niên 70.

Xem thế, cái gì không phải thơ nhưng cũng không phải văn thì người ta gọi là Tản văn? Người xưa, cả Đông lẫn Tây, xem trọng văn vần, xem thường văn xuôi, nên chữ “tản” / prose hàm ngụ một ý nghĩa tiêu cực.

Tuy vậy, tôi nghĩ Tản văn, theo thời gian, ý nghĩa có biến đổi phần nào. Ngày nay người ta hiểu Tản văn như một thể tài văn xuôi nghiêng về Tùy bút nhưng phóng túng hơn, có quyền vung bút “lạc đề” thoải mái, và có tính thơ. Yếu tính sau cùng có lẽ quan trọng hơn cả. Nói thế bởi tôi nghĩ đến hai cuốn tản văn Bóng bay gió ơiLang thang nghìn dặm của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.

Trong bài “điểm sách” cuốn Bóng bay gió ơi, tôi viết như sau:

“Đọc cuốn tản văn Bóng bay gió ơi của Nguyễn Thị Khánh Minh, chúng ta nên đọc thật chậm. Như đọc thơ. Bởi đấy là thơ. Bởi chị viết văn như làm thơ, chữ nghĩa nuột nà tung tỏa, lôi cuốn như có bùa phép – hay bùa hương, chữ của chị – làm mê hoặc người đọc. Đọc chậm để có thể thẩm thấu tầng chữ nghĩa của văn chương và qua đó họa may chúng ta hòa nhập lên tầng cảm xúc và phần nào nhận ra tâm hồn của tác giả…”

Đó là câu chữ viết về một tập thơ chứ không phải văn xuôi.

Phân biệt giữa Tùy bút, Tản văn, và Ký, điều đó có lẽ không cần thiết lắm đâu, bạn ạ. Cái cần thiết cho chúng ta ngày nay là đôi lúc nên tạm quên cuộc sống bình nhật để tâm hồn lắng đọng, thả lỏng thần trí để thưởng thức nghe một khúc nhạc, ngắm nhìn một bức tranh, hay đọc một áng văn chương, bất kỳ thể tài nào, Truyện, Thơ, Ký, Tùy bút, hay Tản văn. Đó là ý nghĩa muôn đời của cuộc sống, xưa cũng như nay, đơn giản vô cùng mà sao chúng ta gần như quên lãng.

(Cảm ơn chị ND đã giúp tra cứu vài từ tiếng Hán. – TYT)


Monday, May 4, 2020

TRÙNG DƯƠNG / Nhìn lại hành trình dựng nước trong thời chiến: Việt Nam Cộng Hòa, 1955-1975


Sau ngày 30 tháng 4, 1975, khi còn ở trong trại tị nạn Camp Pendleton ở Nam Cali, tôi có dịp ở chung lều với gia đình một ông bác sĩ thuộc lứa tuổi trung niên. Như nhiều người Miền Nam, ông tỏ ra cay đắng cho rằng Hoa Kỳ đã bỏ rơi Miền Nam. Ông cho biết sẽ xin tị nạn tại Pháp hay Canada, vì cảm thấy không thể sống tại đất nước đã phụ rẫy mình. Chúng tôi đứt liên lạc từ sau khi rời trại, và tôi không rõ gia đình ông gồm bà vợ, vợ chồng cô con gái và ba đứa cháu ngoại còn nhỏ đã phiêu bạt nơi nào.

Ai làm mất Nam Việt Nam là câu hỏi thời thượng dạo ấy. Như hồi quân của Mao Trạch Đông tiến chiếm Hoa Lục năm 1949 người ta đã hỏi nhau, đúng ra là đổ lỗi cho nhau, là ai đã làm mất Trung Hoa. Trở lại chuyện Việt Nam: Giới bảo thủ thì đổ cho là giới báo chí khuynh tả làm mất Miền Nam. Họ quên là số phận Miền Nam đã được định đoạt từ khi Tổng thống Cộng hòa Richard Nixon bắt tay với Trung Quốc ba năm trước đó, ngoài lý do chia rẽ khối cộng sản còn là nhắm vào thị trường béo bở với hàng tỉ người tiêu thụ tương lai. Mặc dù chính chúng ta dạo ấy không muốn tin như thế.
Ai làm mất Miền Nam thì là chuyện đã rồi đối với tôi vào buổi sáng ngày 1 tháng 5 cách đây 45 năm thức dậy trong căn lều nhà binh mới dựng hôm trước, cỏ còn cao quá đầu gối, tối om, chỉ mới có tôi và hai đứa con nhỏ, 9 và 2 tuổi, được lùa vào đây nửa đêm hôm trước từ chiếc xe buýt đón chúng tôi đến từ Guam tại phi trường Los Angeles. Tôi nhìn ra những ngọn đồi thoai thoải phủ thảm hoa vàng giữa cái lạnh rơi rớt từ mùa đông vừa qua, nghe trong đầu câu hát Lòng thật bình yên mà sao buồn thế / Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ… (Trịnh Công Sơn, “Bên đời quạnh hiu.”) Có điều tôi không đang khóc. Mắt tôi ráo hoảnh.

Tôi lớn lên tiêm nhiễm lời răn dậy “tiên trách kỷ, hậu trách nhân,” tự trách mình trước rồi hẵng trách người. Và từ buổi sáng trên đồi hoa vàng nơi xứ người, tôi nhìn vào chính tôi, vào hồn của mảnh đất Miền Nam thân yêu nơi tôi lớn lên từ năm 1954 sau khi cha mẹ tôi mang chúng tôi 11 anh chị em chạy nạn cộng sản vào lập nghiệp.
Đây cũng là nơi ra đời của một quốc gia mới mẻ, mang tên Việt Nam Cộng Hòa, được sự hỗ trợ tận tình của một Hoa Kỳ thời hậu đệ nhị Thế chiến đã trở nên hùng mạnh nhất thế giới, và của các bạn đồng minh trong khối tự do, những quốc gia đã chịu ơn nước Mỹ giúp tái thiết thời hậu chiến. Không thể phủ nhận, đã hẳn, Hoa Kỳ thoạt kỳ thủy đã có chủ ý coi VNCH là “tiền đồn cuối cùng” để ngăn chặn làn sóng đỏ tưởng bách chiến bách thắng hồi ấy. Song người Việt Miền Nam chúng ta coi đây là cơ hội ngàn năm một thuở để xây dựng một xã hội tự do dân chủ thực sự đầu tiên trong lịch sử của hàng ngàn năm nếu không là sống trong chế độ quân chủ chuyên chế thì là bị đô hộ bởi ngoại nhân. Người Miền Nam không coi nhẹ nền cộng hòa còn rất non trẻ này. Trong khói lửa mịt mù và một bối cảnh chính trị nhiều biến động, họ vẫn kiên trì xây dựng và vun sới cho mảnh đất tự do nhỏ bé này.

Vậy mà, bằng cách này cách khác, chúng ta đã phí phạm cơ hội quí báu này. Tôi sẽ không dài dòng kể lể ở đây hàng núi lý do tại sao, cả nội lẫn ngoại. Chỉ vắn tắt là sau 20 năm dựng nước trong một bối cảnh chính trị bất ổn và một cuộc chiến đẫm máu đã lấy đi hàng triệu sinh mạng cả dân lẫn quân, kết cuộc là cuộc đại di tản lần thứ hai cho những người may mắn chạy thoát gọng kìm cộng sản ngày một siết chặt tự do sau cái ngày oan nghiệt 30 tháng 4.
Hàng vạn ngàn người không may mắn đã liều mạng vượt biên và bỏ mình trong rừng sâu hay ngoài biển cả. Hàng ngàn vạn người khác của chế độ cộng hòa đã bị lùa vô các trại tập trung cưỡng bách lao động mọc lên nhan nhản khắp vùng đất nước. Nhiều người đã bỏ mạng. Họ là những quân dân cán chính, trí thức, khoa học gia, kỹ sư, bác sĩ, chuyên gia, văn nghệ sĩ – phần lớn tình nguyện đi trình diện hy vọng sau khi được “cải tạo học tập” họ sẽ được phép mang khả năng giúp xây dựng đất nước. Điều đó đã không xẩy ra trong một chế độ đòi hỏi “hồng hơn chuyên.”

Tổng thống Kennedy có lần đã nói: “Chiến thắng có cả trăm ông cha và thất bại trở thành mồ côi” (Victory has a hundred fathers and defeat is an orphan). Người Việt Miền Nam, dù lưu vong hay còn ở quê nhà, thẩy đều đã trở thành “mồ côi.”

Nhiều thập niên qua, chúng ta đã sống trong thầm lặng, chịu đựng bị hiểu lầm và nhục nhã, cố gắng dồn mọi nghị lực vào việc xây dựng lại đời sống trên mảnh đất quê hương thứ hai, nuôi dậy con cái, vun sới gia đình, và có một dạo còn cung cấp cho người thân, bằng hữu còn kẹt lại sống thiếu thốn mọi sự. Vào giờ rảnh rỗi và dịp cuối tuần, chúng ta tập hợp nhau, người bàn chuyện quang phục quê hương; kẻ nói chuyện bảo tồn lịch sử và văn hóa đã và đang bị cộng sản tàn phá, hủy hoại ở quê nhà - cũng là một hình thức quang phục quê hương khi các giá trị dân tộc và nhân bản đang trên đà thoái hóa nơi quê nhà. Những hoạt động này đã giúp nối kết người Việt hải ngoại không chỉ ở Mỹ mà còn ở khắp thế giới lại với nhau.
Các nỗ lực bảo tồn văn hóa và lịch sử của người Việt hải ngoại thường nhỏ giọt, riêng lẻ, phần lớn do cá nhân bỏ tiền túi ra thực hiện. Thảng hoặc, có những trường hợp nhận được tài trợ như nhà văn Võ Phiến được một tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội tài trợ đi sưu tầm tài liệu và thực hiện bộ “Văn Học Miền Nam Tổng Quan” vào đầu thập niên 1980. Dù vậy, kết quả của những nỗ lực này phải nói là phong phú, xuất hiện dưới hình thức sách báo, băng đĩa nhựa, hình ảnh, bầy bán khắp nơi. Những tác phẩm bị cộng sản cấm đoán, tịch thu, đốt hủy cũng đã được chụp và tái bản ở hải ngoại, ngay cả những bộ sách của thời tiền chiến được tái bản ở Miền Nam trước 1975 cũng theo chân chúng ta ra hải ngoại. Và hồi ký đủ loại đề tài phong phú của nhiều người viết thuộc mọi thành phần trong và ngoài nước, đặc biệt là các hồi ký của nhiều người đã từng là đảng viên cộng sản nay tỉnh ra. Từ ngày kỹ thuật Internet ra đời cách đây 25 năm, sinh hoạt văn hóa này càng nở rộ. Dù vậy, các ấn phẩm vẫn chỉ thu hẹp phần lớn trong phạm vi tiếng Việt, hạn chế đối với các thế hệ trưởng thành hoặc sinh ra và lớn lên ở hải ngoại.
Gần ngày kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 đánh dấu ngày Miền Nam bị bức tử, tôi nhận được tập sách từ lâu trông đợi và cuối cùng đã tới tay. Đó là tuyển tập “The Republic of Vietnam, 1955-1975 – Vietnamese Perspectives on Nation Building,” bàn về công cuộc kiến quốc của Việt Nam Cộng Hòa, do Vũ Tường, giáo sư ngành chính trị học tại Đại học Oregon, và Sean Fear thuộc Đại học Leeds, Anh Quốc, biên soạn và nhà xuất bản Cornell University Press ấn hành. Đây là một tập hợp các bài thuyết trình tại cuộc hội thảo hai ngày Symposium Nation-Building in War: The Experience of Republican Vietnam, 1955-1975, diễn ra tại Đại học Tiểu bang California ở Berkely cách đây vài năm, do một nhóm giáo sư trẻ gốc Việt tổ chức.(*) Trong bài này, người viết sẽ dùng chữ “Kinh nghiệm kiến quốc” để chỉ tên của tuyển tập này.


Bìa trước của tuyển tập ‘Kinh nghiệm kiến quốc’

Các tác giả trong tập “Kinh nghiệm kiến quốc” gồm các cựu viên chức, giáo sư, chiến binh, ký giả, và văn nghệ sĩ của một thời Miền Nam, nay đã trên dưới 80. Họ chia sẻ kinh nghiệm của một thời trẻ trung đầy lý tưởng trong công cuộc xây dựng tân quốc gia Việt Nam Cộng Hòa “như một quốc gia họ kỳ vọng trong trí tưởng với tất cả thiết tha, chứ không phải là một công cụ chính trị của chính phủ Mỹ,” theo các chủ biên trong bài giới thiệu tuyển tập. Đó là các lời chứng về chiến tranh, chính trị, kinh tế và đời thường của người dân thuộc mọi tầng lớp trong thời Đệ nhị Cộng hòa giữa bầu không khí sôi sục của trận chiến mà người Mỹ quen gọi là Chiến tranh Việt Nam. Khác với quan niệm phổ biến tại Mỹ do ảnh hưởng tuyên truyền của cộng sản, là chính phủ VNCH là bù nhìn của Mỹ, tập sách “cho thấy cuộc xung đột tại Việt Nam là một phân chia ý thức hệ giữa cộng sản bắc phương và phe không cộng sản Miền Nam, chứ không chỉ là cuộc chiến ủy quyền trong thời Chiến tranh Lạnh,” như các tài liệu đã giải mật cho thấy việc cộng quân đã được cộng sản quốc tế hỗ trợ như thế nào bên cạnh quyết tâm của người cộng sản đưa VN vào quỹ đạo ngoại bang này.

Tôi phải nhìn nhận là cho tới gần đây, ký ức cề công cuộc xây dựng đất nước thời cộng h của tôi chỉ thu gọn vào môi trường tôi có thể tạm cho là mình biết nhiều nhất, đó là văn học nghệ thuật. Tập sách “Kinh nghiệm kiến quốc” đã cho tôi một cái nhìn toàn diện về các công cuộc phát triển và tiến bộ khác trong công trình xây dựng đất nước trên bình diện qui mô. Khó mà có thể tưởng tượng tất cả chỉ diễn ra trong vòng 20 năm, và trong một bối cảnh chiến tranh khói lửa đầy chết chóc tang thương.

Qua năm phần chính – phát triển kinh tế, chính trị và an ninh, giáo dục, báo chí và truyền thông, và văn hóa và nghệ thuật – chia thành 17 chương, người đọc có dịp tham dự hàm thụ công cuộc dựng nước gian nan song đầy hào hứng, phấn khởi. Trong phần thứ nhất về phát triển kinh tế (Chương 1-4), các ông Vũ Quốc Thúc (giáo sư luật học), Nguyễn Đức Cường (cựu bộ trưởng thương mại kỹ nghệ), Phạm Kim Ngọc (cựu bộ trưởng kinh tế), và Cao Văn Thân (cựu bộ trưởng nông nghiệp và cải cách ruộng đất) thay phiên nhau trình bầy kinh nghiệm xây dựng hệ thống ngân hàng, tiền tệ còn phôi thai chịu ảnh hưởng nặng nề của thời Pháp thuộc, cùng công cuộc phát triển kinh tế quốc gia, và đặc biệt là chương trình cải cách ruộng đất khá thành công thời đệ nhị Cộng hòa, qua chương trình Người Cầy Có Ruộng áp dụng vào năm 1970 nhằm mua lại đất ruộng của các đại điền chủ, phân phát và sang tên cho nông dân.

Chương 5-7 bàn về chính trị và an ninh, qua đó, cựu phát ngôn viên chính phủ Hoàng Đức Nhã chia sẻ kinh nghiệm tham dự các cuộc điều đình đã dẫn tới Hiệp định Paris 1973; ông Trần Minh Công, cựu đại tá giám đốc tổng nha cảnh sát, bàn về những thách thức trong việc gìn giữ an ninh trong bối cảnh cuộc chiến tranh du kích; và ông Bùi Quyền, cựu trung tá quân lực VNCH, tâm sự về những suy nghiệm trong vai trò người lính tiền tuyến, và chia sẻ phẩm định của ông về quân đội cộng hòa, và kinh nghiệm làm việc với các cố vấn quân sự Mỹ.

Lãnh vực nào cũng đầy thông tin quan trọng và hữu ích cho một công cuộc tái xây dựng một Việt Nam nhân bản, khai phóng và tiến bộ trong tương lai, song một trong các lãnh vực lôi cuốn tôi nhất là giáo dục vì đó chính là nền tảng cho sự phát triển vững bền và lâu dài. Trong hai chương 8 và 9, hai nhà giáo dục Nguyễn Hữu Phước và Võ Kim Sơn thay phiên nhau trình bầy về nền giáo dục của VNCH dựa trên nền tảng nhân bản, dân tộc và khai phóng – tôi không khỏi hình dung tới chiếc kiềng ba chân vững vàng trong bếp của người Việt xưa. Miền Nam đã nhận được sự tiếp tay của nhiều trường đại học tại Mỹ, trong đó có Đại học Tiểu bang Michigan giúp tái tổ chức và điều hành các hệ thống công lập; Đại học Nam Tiểu bang Illinois giúp huấn luyện các giáo viên tiểu học; Đại học Ohio trong việc thiết lập hệ thống Trung học Tổng hợp; và Đại học Wisconsin/Stevens Points tiếp tay khai triển hệ thống giáo dục cao cấp.

Kết quả là sau 20 năm xây dựng đất nước, VNCH đã thiết lập và phát triển được nhiều cơ sở giáo dục như các trường trung học tổng hợp, hệ thống đại học cộng đồng, hệ thống trắc nghiệm và thẩm định, và các đại học huấn luyện giáo chức. Trừ vô số các trường do tư nhân đứng ra thiết lập khắp nơi ở Miền Nam, còn tất cả các trường công, từ tiểu học tới đại học, hoàn toàn miễn phí. Gần đây trên Internet, tôi thấy xuất hiện những bài viết rất cảm động nói lên niềm tiếc nuối đối với hệ thống giáo dục của Miền Nam. Điển hình là bài khá dài và chi tiết, tựa là “Nhìn lại nền Giáo dục VNCH: Sự tiếc nuối vô bờ bến,” về hệ thống giáo dục của Miền Nam.(**) Nhiều người trẻ trong nước cũng đã bầy tỏ niềm nuối tiếc đã không được lớn lên trong môi trường đó.

 

Một cuốn sách dậy địa lý cho học sinh lớp ba, do Bộ Văn hóa và Giáo dục ấn hành khoảng thời Đệ nhất Cộng hòa. Trái, bìa trước của sách; giữa, hai trang trong của sách; và trái, bìa sau của sách, với hàng chữ: “Dân chúng Hoa Kỳ hợp tác với Bộ Văn hóa và Giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa thân tặng các Trường Sở tại Việt Nam,” và bên dưới: “Sách này tặng, không bán.”



Nhờ nền giáo dục phổ biến và phần lớn miễn phí, số học sinh, sinh viên gia tăng, nhu cầu sách vở cũng nhờ vậy mà tăng trưởng, tiếp tay đẩy mạnh các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có các ngành thuộc văn học nghệ thuật và báo chí.

Trong các Chương 10-13, ba nhà báo Phạm Trần, Vũ Thanh Thủy cá nhân tôi, Trùng Dương, chia sẻ kinh nghiệm của mình. Trong khi ông Phạm Trần thảo luận tổng quát về nền tảng pháp lý của ngành truyền thông và sinh họat báo chí trong đó điểm nổi bật là đại đa số báo do tư nhân làm chủ và tự tài trợ, khác với trong chế độ cộng sản; t Trùng Dương kể về cuộc đấu tranh cho đệ tứ quyền, đó là quyền tự do báo chí và quyền kiểm điểm việc làm của chính quyền - điều không thể xẩy ra trong một xã hội cộng sản. Đặc biệt là cựu phóng viên chiến trường Vũ Thanh Thủy chia sẻ kinh nghiệm tường thuật từ tuyến đầu độc đáo của mình, đồng thời phơi bầy sự thiếu sót và không chuyên nghiệp của các ký giả ngoại quốc mà chị gặp trong khi hành sự, song chính họ lại là những người có ảnh hưởng lớn tới dư luận của quần chúng Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam.

Trong Chương 14, nhà văn Nhã Ca, tác giả “Giải khăn sô cho Huế” và nhiều cuốn tiểu thuyết khác, mô tả linh động cảnh trăm hoa đua nở rực rỡ chưa từng có trong lịch s văn học Việt Nam – sự rực rỡ đã bị cộng sản bóp chết khi họ chiếm được Miền Nam, như họ đã làm với phong trào Nhân Văn Giai Phẩm vào giữa thập niên 1950. Nữ diễn viên Kiều Chinh, một khuôn mặt quen thuộc của ngành điện ảnh không chỉ ở Miền Nam mà còn tại thủ đô điện ảnh Hollywood, đưa người đọc duyệt qua sự phát triển đầy hứng khởi của ngành điện ảnh của Miền Nam ở Chương 15.

Và cuối cùng, kết thúc tập “Kinh nghiệm kiến quốc,” trong Chương 16 và 17, là cái nhìn của hai người trẻ,  Nu-Anh Tran thuộc Đại học Connecticut và Tuan Hoang thuộc Đại học Pepperdine, về sự cần thiết lên tiếng của các vị lớn tuổi trong cộng đồng Việt đã sống qua thời cộng hòa để đóng góp vào kho ký ức lịch sử Hoa Kỳ.

Cuộc chiến tại Việt Nam hiển nhiên “không chỉ là cuộc chiến ủy nhiệm,” các chủ biên tuyển tập kết luận. Cuộc tranh chấp cộng sản/cộng hòa tại Việt Nam không thể hóa giải này đã tồn tại ngay cả trước khi quân đội Mỹ vào tham chiến, và nó tồn tại tới ngay cả bây giờ trong cộng đồng Việt trên khắp thế giới. […] Với nguồn gốc lịch sử và ý thức hệ sâu xa của cuộc nội chiến tại Việt Nam, bên cạnh vai trò quan trọng của Miền Nam trong việc khuôn đúc nên kết quả, ta không thể tiếp tục tảng lờ mà không kể tới ảnh hưởng của di sản cộng hòa trên nguồn gốc và hậu quả của cuộc chiến.”

Khi tôi điểm tập sách này trong cảnh cấm phòng tại gia vì đại dịch Covid-19,con vi trùng vô hình song tàn độc đang tàn phá khắp thế giới, biến nước Mỹ từ một quốc gia giầu mạnh nhất thế giới - nơi mọi quốc gia lớn bé vốn vẫn trông vào để tìm sự lãnh đạo đưa nhân loại qua các cơn khủng hoảng trong quá khứ - đã và đang trở thành trung tâm dịch bệnh, không cả có đủ những vật liệu tầm thường như khẩu trang, đồ bảo hộ giúp giữ các bác sĩ, y tá và các nhân viên liên hệ an toàn trong công tác cứu giúp bệnh nhân. Con số ca nhiễm bệnh và tử vong tại Mỹ đã vượt qua mọi quốc gia khác trên thế giới trong vòng có vài tuần lễ. Không ai còn dám trông chờ vào nước Mỹ nữa. Hiện tượng này lại càng khiến tôi thấy thiết tha nhớ về một dĩ vãng không còn. Dù vậy, tôi vẫn tin tưởng nếu ta sống sót qua cơn khủng hoảng, di sản của quá khứ chắc chắn phải sẽ giúp ta xây dựng một tương lai bn vững hơn, nếu ta biết học hỏi từ kinh nghiệm.

Tuyển tập “Kinh nghiệm kiến quốc” hiện chỉ mới có bản Anh ngữ, có bán tại Amazon.com và tại Web site của Cornell University Press tại  cornellpress.cornell.edu, giá $24.95. Được biết ấn bản Việt ngữ sẽ ra mắt vào mùa thu năm nay.  
[TD2020/04]


Chú thích:

(*) Xem bài tường thuật “UC Berkeley Nhìn Lại 20 Năm VNCH Xây Dựng Quốc Gia Trong Thời Chiến, ” kỳ 1 tại https://damau.org/44777/uc-berkeley-nhin-lai-20-nam-vnch-xay-dung-quoc-gia-trong-thoi-chien-ky-12, và kỳ 2 tại https://damau.org/44805/uc-berkeley-nhin-lai-20-nam-vnch-xay-dung-quoc-gia-trong-thoi-chien-ky-22
(**) Huỳnh Minh Tú, “Nhìn lại nền Giáo dục VNCH: Sự tiếc nuối vô bờ bến,” https://tuxtini.com/2013/12/01/nhin-lai-nen-giao-duc-vnch-su-tiec-nuoi-vo-bo-ben/ [TD2020/04]