Saturday, July 2, 2022

Trần Huy Bích: GÓP PHẦN TÌM HIỂU BÀI THƠ ĐIẾU PHAN THANH GIẢN BẰNG CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

  

 Phan Thanh Giản

Hai bài thơ Nguyễn Đình Chiểu làm để điếu Phan Thanh Giản có thể được sáng tác ngay sau khi Phan Thanh Giản quyên sinh (năm 1867) hay – ở trường hợp bài chữ Hán – một thời gian sau đó. Từ đó đến nay đã trên 150 năm. Qua nhiều thế hệ, hai bài thơ ấy vẫn được coi là những tác phẩm bộc lộ niềm cảm thông trước hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của Phan Thanh Giản và bày tỏ lòng thương tiếc đối với ông. Trong ít năm gần đây, một vài tác giả ở trong nước biện luận rằng Nguyễn Đình Chiểu đã không thực sự thương tiếc Phan Thanh Giản, mà chỉ làm ra vẻ thương tiếc để mỉa mai và lên án ông. Những hàng phía sau là một cố gắng đọc lại bài thơ điếu bằng chữ Hán một cách cẩn trọng, để tìm hiểu chủ ý đích thực của Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác bài ấy.

Khi Phan Thanh Giản quyên sinh năm 1867, Nguyễn Đình Chiểu bị mù đã được 18 năm (từ 1849). Các tác phẩm bằng quốc âm của vị thầy mất thị giác đã được các môn sinh của ông chép ra bằng chữ Nôm rồi về sau chuyển đổi sang chữ quốc ngữ. Các tác phẩm bằng chữ Hán hẳn cũng được ghi ra chữ Hán, nhưng sau một số lần sao đi chép lại, những chữ đồng âm nhưng khác nghĩa và những chữ có âm gần giống nhau đã rơi vào tình trạng “tam sao thất bổn,” khiến chúng ta thấy xuất hiện một số bản chữ Hán với cách viết và ý nghĩa khác nhau. Trước khi ông Lê Thọ Xuân liên lạc được với người con của Nguyễn Đình Chiểu là ông Nguyễn Đình Chiêm và cung cấp một bản thuộc loại “có thẩm quyền” cho bài thơ chữ Hán năm 1933 (bài “Danh nhơn Nam Kỳ,” Đồng Nai số 23 & 24, 15 Janvier – 2 Février 1933), chúng ta đã thấy có bản chữ Hán do ông Nguyễn Liên Phong đưa ra năm 1909 trong Nam Kỳ Phong Tục Nhơn Vật Diễn Ca (cuốn thứ 2, trang 71), và bản chữ Hán do ông Thái Hữu Võ đưa ra năm 1927 trong Phan Thanh Giảng Truyện (Sài Gòn : Xưa Nay, trang 46-47). Nhưng ông Lê Thọ Xuân chỉ cho biết là hai bài thơ do ông Thái Hữu Võ cung cấp có nhiều chỗ sai, và nêu ra những chỗ sai ấy bằng chữ quốc ngữ, chứ không cung cấp một bản viết đầy đủ và chính xác cho bài thơ chữ Hán. Những năm sau, bà Mai Huỳnh Hoa, cháu ngoại của bà Sương Nguyệt Anh (con gái của Nguyễn Đình Chiểu) và chồng bà là học giả Phan Văn Hùm, trong cuốn Nỗi Lòng Đồ Chiểu (bản in lần thứ hai, Sài Gòn : Tân Việt, 1957), cũng chỉ làm như thế, không cung cấp một bài thơ đầy đủ và chính xác ở dạng chữ Hán.

(Muốn biết hai bản chữ Hán với khá nhiều sai lầm của các ông Nguyễn Liên Phong và Thái Hữu Võ, xin vui lòng đọc trong cuốn Mối Thâm Tình Của Nguyễn Đình Chiểu Dành Cho “Quan Phan” Phan Thanh Giản của Winston Phan Đào Nguyên ([San Jose, Calif.] : Nhân Ảnh, 2022, các trang 55 và 61-62).

Tác giả đã đưa cuốn sách lên mạng tại địa chỉ sau đây:

https://app.box.com/s/p7e3mgfty0l1asrqkewxuck6bwqw7rny

Theo ông Lê Thọ Xuân, với bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, bản do ông Thái Hữu Võ đưa ra trong Phan Thanh Giảng Truyện sai 8 chữ, thêm sự kiện hai chữ “thần” với những nghĩa khác nhau (“thần linh” và “vị quan, người bày tôi”) bị đặt sai chỗ, khiến ý nghĩa khác đi rất nhiều. Coi lại bản chữ Hán của ông Nguyễn Liên Phong, đối chiếu với bài viết của ông Lê Thọ Xuân, chúng tôi thấy có 7 chữ sai. Hai chữ “thần” cũng bị chép không đúng chỗ như thế.

Khi phân tích bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, một vài tác giả ở trong nước trong ít năm gần đây đã dựa vào những bản bị chép sai ấy, đưa tới một số ngộ nhận rất đáng tiếc.

Mãi tới 15 năm trước đây, nhân được đọc một tài liệu Hán Nôm chép tay của gia đình Nguyễn Đình ở Bến Tre do bà Âu Dương Thị Yến cất giữ, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh mới cung cấp cho chúng ta một bài thơ chữ Hán thuộc loại có thẩm quyền trong Việt Nam Bách Gia Thi (Sài Gòn : NXB Văn Hóa, 2005). Đối chiếu bài này vói bài thơ chữ Hán chỉ có âm Hán Việt do học giả Phan Văn Hùm cung cấp sau khi tham khảo với ông Nguyễn Đình Chiêm, chúng tôi thấy hai bản gần như giống hệt nhau. Chỉ có hai chỗ khác trong câu 2, nhưng ý nghĩa không thay đổi nhiều:

Bản của ông Phan Văn Hùm: Vi quân nan bảo nhất phương dân

Bản của ông Cao Tự Thanh:   Vi công thùy bảo nhất phương dân.


Trước những tranh luận sôi nổi về ý nghĩa của bài thơ mới được đưa ra gần đây, chúng tôi xin đóng góp chút nhận thức thô thiển. Trước khi làm việc này, chúng tôi có hoàn cảnh trao đổi thêm với hai vị có căn bản Hán học vững chắc ở ngoài nước, là Tiến sĩ Nguyễn Duy Chính và cô Nguyễn Ngọc Dung.

 

Câu 1:

         歷仕三朝獨潔身

       Lịch sĩ tam triều độc khiết thân

 

Câu này ý nghĩa khá đơn giản: Làm quan trải ba triều vua (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.

 

Câu 2:

         微君難保一方民

         Vi quân nan bảo nhất phương dân

 

Nếu không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một phương. Câu này muốn nói tới dân chúng miền Nam. Phan Thanh Giản từng được cử làm Khâm sai, Kinh lược sứ Nam kỳ, rồi về sau, Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây.

Chúng tôi đưa ra câu trên theo bản in trong Nỗi Lòng Đồ Chiểu của Phan Văn Hùm. Trong Việt Nam Bách Gia Thi của Cao Tự Thanh, câu ấy là:

         微公谁保一方民   

         Vi công thùy bảo nhất phương dân.

 

Nếu không có ông, ai sẽ bảo vệ dân chúng một phương. Tuy ý nghĩa không khác nhau bao nhiêu, chữ “công” (ông, tướng công) trong bản của Cao Tự Thanh có vẻ thích hợp hơn. Phan Thanh Giản (sinh năm 1896) hơn Nguyễn Đình Chiểu (sinh năm 1922) 26 tuổi. Phan Thanh Giản là vị “Tiến sĩ khai khoa” cho miền Nam, một Hiệp biện Đại học sĩ, Khâm sai, Kinh lược đại thần, trong khi Nguyễn Đình Chiểu mới đậu Tú tài và chưa làm quan. Thêm vào đó, Nguyễn Đình Chiểu rất tôn trọng Phan Thanh Giản, vẫn thường nhắc đến ông qua các từ “Phan học sĩ, quan Phan.”

Câu 3:

龍湖寧負書生老

Long Hồ ninh phụ thư sinh lão

Long Hồ là tên cũ của tỉnh Vĩnh Long. Chữ “ninh” ở đây có nghĩa là “thà rằng, đành,” như trong câu “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (đành chết chứ không chịu nhục). Một số vị dịch thơ trước đây cho rằng chữ “phụ” trong câu này có nghĩa là “phụ lòng.” Chẳng hạn như trong bản dịch của nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị (1888-1966):

Long Hồ phụ lão thư sinh,

Ở nơi các Phụng không đành làm quan

Hay trong bộ Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập do các ông Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lân, Nguyễn Thạch Giang biên soạn năm 1997 (Hà Nội : Văn Học, tập 2, trang 51-52):

         Long Hồ thà phụ thư sanh lão

         Phụng các suông quy học sĩ thần.

 

Theo các tự điển, chữ “phụ” ấy cũng có nghĩa là “vác, mang, gánh,” dùng theo nghĩa bóng là “gánh vác.” Chúng tôi tin rằng đó là ý của Nguyễn Đình Chiểu trong câu này. “Ninh phụ” có nghĩa: “đành phải ra gánh vác.”      

 

Theo Đại Nam Thực Lục, sau khi ở Pháp về, Phan Thanh Giản được cử làm Lại bộ Thượng thư nhưng sau vua Tự Đức đổi ông làm Hộ bộ Thượng thư vì cho rằng ở Lại bộ công việc nhẹ. Ở Hộ bộ, phải lo ngân sách, tài chánh, kể cả khoản bồi thường chiến phí hàng năm phải nộp cho người Pháp, công việc nặng, cần người giỏi và tận tâm hơn. Sau đó, năm 1865, nhà vua cử ông làm Khâm sai, Kinh lược sứ, để lo giữ ba tỉnh miền Tây Nam phần. Cũng theo Đại Nam Thực Lục, Phan Thanh Giản đã xin về hưu (ông tới 70 tuổi theo cách tính của người Việt thời trước). Thực Lục chép, “Phan Thanh Giản vì tuổi già đã xin về hưu”. Vua Tự Đức tiếp riêng ông trong Nội các để trò chuyện. Phan Thanh Giản cho biết, “Thần … cảnh bóng dâu gần xế chiều, tự biết tinh thần, sức vóc không còn được như trước. Hồi tưởng lại người ta đến 70 tuổi như cỏ bồ cây liễu đã trải mùa thu, dẫu có lòng quyến luyến thiết tha nhưng sức ngựa đã hết, rất lo ứng phó không chu để lầm lỡ công việc, nên không dám không lấy tình thực trình bày.” Vua Tự Đức ủy lạo và nói, “Khanh nên cố gắng để khích lệ những người hậu tiến,” rồi lại nói, “Ngươi nên mạnh bạo mưu toan cho trót, quyết không nên thôi,” và không cho ông lui về. (Đại Nam Thực Lục. Hà Nội : NXB Giáo Dục, 2007. Tập 7, trang 944). Vì những lẽ ấy, theo chỗ chúng tôi hiểu, câu này có thể được viết với dấu ngắt câu:

Long Hồ ninh phụ, thư sinh lão.

Chủ từ của động từ “phụ” (mang, gánh vác) không phải là đất Long Hồ mà là người thư sinh già:

Người học trò già đành phải gánh vác việc [giữ đất] Long Hồ (tên cũ của tỉnh Vĩnh Long).

Có thể Nguyễn Đình Chiểu cũng muốn nói:

         Long Hồ đành gánh vác, người thư sinh đã già.

 

Câu 4:

鳳閣空歸學士神

Phượng Các không quy học sĩ thần

 

Hồn người học sĩ (chỉ Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản) không đành, không lòng nào  trở về Phượng Các (chỗ các quan làm việc). Không giữ nổi Vĩnh Long, ông đã bị truy đoạt hết chức tước, tên bị đục khỏi bia Tiến sĩ, linh hồn ông còn danh nghĩa nào để bay về Phượng Các là chỗ làm việc của các đại thần? Hai tiếng “không quy” không mang ý nghĩa “không về” (Nếu “không về,” người xưa viết là “bất quy”). Ở đây là “về,” nhưng không thực sự về, về một cách không trọn vẹn, “về cũng như không.” Những cách dịch “về suông” hay “khôn về” (khó lòng về) đều có vẻ thích hợp.

                 

Hai câu 5-6:

秉節曾勞生富弼

盡忠何恨死張巡

Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật

Tận trung hà hận, tử Trương Tuần

 

Cầm cây cờ tiết của người đi sứ (cũng có thể hiểu là giữ tiết tháo), từng chịu gian lao, sống như ông Phú Bật (đời Tống).

Hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như ông Trương Tuần (đời Đường).

 

Trong một bài Đường luật bát cú, đây là hai câu “luận,” có nhiệm vụ bàn về nhân vật được nhắc đến trong bài thơ (Phan Thanh Giản).  

 

Câu trên nhắc đến việc Phan Thanh Giản từng vất vả sang Pháp (cùng Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản), cố chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Câu dưới nhắc đến việc Phan Thanh Giản quyên sinh sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.

 

Việc thi hành nhiệm vụ của hai ông Phú Bật và Trương Tuần thực ra không hoàn hảo. Tuy Phú Bật thuyết phục được người Khiết Đan rút quân, nhưng triều Tống phải tăng thêm số bạc và lụa nộp cho họ hàng năm. Tuy Trương Tuần giữ thành Tuy Dương được thêm một thời gian, nhưng những việc phải giết người thiếp yêu, rồi một số người già và trẻ con làm lương thực cho binh sĩ, chung quy thành vẫn mất và Trương Tuần vẫn chết, khiến thành tích  không tốt đẹp một cách trọn vẹn. Nhưng nhiều phần Nguyễn Đình Chiểu không chú trọng đến những chi tiết ấy. Ông chỉ có ý nói: Phan Thanh Giản có thể so sánh với Phú Bật từng vất vả khi đi sứ, và với Trương Tuần chết theo thành.

 

Hai câu 7-8:

有天六省存亡事

安得從容就義臣

Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự

An đắc thung dung tựu nghĩa thần.

 

Nghĩa đen của câu 7: Có Trời trong việc còn mất của 6 tỉnh. Câu này cũng có thể hiểu là: Chuyện còn mất của 6 tỉnh đã có Trời biết, để đưa tới câu 8: Mong có được người bề tôi biết thung dung tựu nghĩa (thung dung chết vì nghĩa).

 

“An đắc” có nghĩa “mong sao có được” như trong một bài ca của Hán Cao tổ Lưu Bang,

“An đắc mãnh sĩ hề, thủ tứ phương” (Mong sao có được những kẻ sĩ dũng mãnh để giữ bốn phương). Những chữ “thung dung tựu nghĩa”được lấy từ một cặp câu đối tương truyền là để điếu Lý Trần Quán, làm quan ở cuối đời Lê, sau khi ông tự tử (yêu cầu được chôn sống) vì Nguyễn Trang, người mà ông nhờ hộ vệ chúa Trịnh Khải đã nộp chúa cho quân Tây Sơn:

         Khảng khái cần vương dị

         Thung dung tựu nghĩa nan

(Khảng khái giúp vua là chuyện dễ, thung dung chết vì nghĩa mới khó).

Bốn chữ “thung dung tựu nghĩa” nói đến việc Phan Thanh Giản ung dung chọn cái chết sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.

 

Xin được chép lại toàn thể bài thơ với lời giảng ra văn xuôi và một bản dịch thơ phía sau. Người viết xin chân thành cảm tạ chị Mỹ Ngọc, một cựu đồng môn, đã tiếp tay trong bản dịch thơ này:

 

                                             歷仕三朝獨潔身

                                    微君難保一方民    

                  龍湖寧負書生老

                                    鳳閣空歸學士神

                                    秉節曾勞生富弼

                                    盡忠何恨死張巡

                                    有天六省存亡事

                                    安得從容就義臣

 

                                    Lịch sĩ tam triều độc khiết thân

                                    Vi quân nan bảo nhất phương dân

                                    Long Hồ ninh phụ thư sinh lão

                                    Phượng Các không quy học sĩ thần.

                                    Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật

                                    Tận trung hà hận, tử Trương Tuần

                                    Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự

                                    An đắc thung dung tựu nghĩa thần.

 

         Làm quan trải ba triều vua, riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.

         Không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một miền.

         Người học trò già đành ra gánh vác [việc giữ] Long Hồ

         Hồn người học sĩ khó trở về Phượng Các.

         Giữ tiết, từng gian lao, sống như Phú Bật đời Tống

         Dốc hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như Trương Tuần đời Đường.

         Chuyện còn mất của sáu tỉnh có trời ở trong.


Cốt sao có được người bày tôi thung dung chết vì nghĩa.

 

Dịch thơ (Nguyễn Mỹ Ngọc và Trần Từ Mai):

 

                  Thanh khiết ba triều vẹn tấm thân,

Một phương nguy khó gắng che dân.

Long Hồ đành chĩu vai nguyên lão,

Phượng Các khôn mong vía học thần.

Sống đã gian lao theo Phú Bật,

Chết đâu tiếc hận với Trương Tuần.

Mất còn sáu tỉnh, trời cao biết,

Sao được thung dung trọn nghĩa nhân.

                                                                               

PHỤ LỤC: BA BẢN DỊCH THƠ KHÁC

 

Bản dịch của Thượng Tân Thị

 

Mình trong sạch trải thờ ba chúa,
Không ông ai che chở dân lành.
Long Hồ phụ lão thư sinh,
Ở nơi các Phụng không đành làm quan.
Cầm tiết nhọc sống chàng Phú Bật,
Chết ngay sao giận uất Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh trời phân,

Thung dung tựu nghĩa làm thần khó thay.

 

Bản dịch trong Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập

của CV Thỉnh, NS Lân, NT Giang (1997)

 

Thờ trải ba triều trọn sạch thân,

Không ông ai đỡ một phương dân.

Long Hồ thà phụ thơ sanh lão,

Phụng Các suông quy học sĩ thần.

Giữ tiết nhọc nhằn còn Phú Bật,

Hết trung nào giận mất Trương Tuần.

Mất còn sáu tỉnh trời kia biết,

Sao đặng thung dung tựu nghĩa thần?

 

Bản dịch của Cao Tự Thanh (2005)

 

                  Ba triều rõ mặt bậc tôi lành,

                  Che chở cho dân buổi lửa binh.

                  Phượng các khôn về hồn học sĩ,

                  Long Hồ thà chịu tiếng thư sinh.

                  Sống từng nhọc bấy thân đi sứ,

                  Chết lại hờn chi phận giữ thành.

                  Sáu tỉnh mất còn, trời đã định,

                  Nhưng tìm đâu được kẻ trung trinh.

                (Việt Nam Bách Gia Thi)

Nhận xét:

1)   Có lẽ đã dựa theo bản chép sai của ông Nguyễn Liên Phong hay ông Thái Hữu Võ, nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị đã hiểu chữ “thần” trong câu 4 là viên quan, và chữ “thần” trong câu 8 là ông thần.

2)   Nhà thơ Thượng Tân Thị và nhóm ông Ca Văn Thỉnh đã hiểu chữ “phụ” trong câu 3 là “phụ bạc,” và cho rằng chủ từ của động từ “phụ” là tỉnh Long Hồ.

                                                   Trần Huy Bích

Friday, July 1, 2022

Trần Huy Bích: Một Lá Thư Riêng Gửi Tác Giả Phan Đào Nguyên

 Ngày 28 tháng 5, 2022

Kính gửi Luật sư Phan Đào Nguyên.

 Cám ơn anh Nguyên đã có nhã ý cho tôi đọc trước bản nghiên cứu công phu của Anh về mối thâm tình xuất phát từ sự cảm thông và lòng ngưỡng mộ mà nhà nho ái quốc Nguyễn Đình Chiểu đã dành cho vị lão thần Phan Thanh Giản, người được ông gọi một cách kính cẩn là “quan Phan.” Xin thú thật từ là khi đất nước chia đôi năm 1954, ngoại trừ với phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm những năm 1955-57, và một số biên khảo, sáng tác trong giai đoạn dây trói tương đối được nới lỏng những năm cuối thập niên 1980, tôi không theo dõi kỹ những bài được gọi là “biên khảo văn học” của những cây bút phải sống dưới một chế độ không còn quyền tự do, thường phải uốn cong ngòi bút để có thể sống còn. Trong một khung cảnh đã khiến một nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Tuân, tới gần cuối cuộc đời, phải bật lên khóc và nói, “Tao sợ,” thì số lượng những người cầm bút dám mạnh dạn nói ra những nhận thức của mình đúng như mình nhìn thấy khó có thể cao. “Ăn cơm chúa” thì phải “múa tối ngày.” Khi nhà văn, nhà biên khảo đã trở thành công cụ lèo lái tư tưởng trong một xã hội toàn trị, thì những điều các vị ấy viết ra, khó được nhiều người thực sự quan tâm. Tôi tin rằng, “Cát bay vàng lại ra vàng.” Với thời gian, những chuyện xuyên tạc, bẻ cong ngòi bút trong một giai đoạn lịch sử đáng buồn của dân tộc dần dần sẽ được phát hiện, và sự thật sẽ được phục hồi.

Nhưng người xưa cũng từng nêu lên sự lo ngại, “Mưa lâu, ….. trâu hóa bùn.” Từ năm 1963, khi Trần Huy Liệu, ông trùm của ngành tuyên truyền ở miền Bắc, phán quyết một cách chắc nịch trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, cơ quan báo chí chính thức của Viện Sử Học nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rằng “Phan Lâm” đích thị đã “bán nước,” đến nay cũng đã 60 năm. Trong 60 năm ấy, như Anh cho biết, ít nhất ba nhân vật có chút tên tuổi trong ngành Hán Nôm ở trong nước đã hùa theo, chỉ hươu nói ngựa, đổi trắng thành đen, đem những câu cảm thông, ca ngợi Phan Thanh Giản ra giải thích một cách xuyên tạc thành những câu lên án và nguyền rủa Phan Thanh Giản một cách độc địa, thì quả cũng đáng sợ. Những thế hệ trẻ, kiến thức về lịch sử và văn học sử chưa đầy đủ, căn bản về Hán Nôm chưa vững, sẽ chịu ảnh hưởng ra sao? Cũng theo Anh cho biết, từ đó đến nay chưa một ai lên tiếng để phản bác. Rất cám ơn Anh đã bỏ nhiều công sức và thời giờ để soi sáng những xuyên tạc trắng trợn ấy, giúp lịch sử và văn học giữ được sự đứng đắn, chính xác, và minh oan cho tiền nhân. 

Khi ông Trần Nghĩa hùa theo trong việc kết tội Phan Thanh Giản năm 1972, ông Trần Khuê nương một thắc mắc được nêu ra từ nửa thế kỷ trước (1944) về số chữ trên lá minh tinh, để biện luận một cách lệch lạc nhằm mục đích hạ nhục Phan Thanh Giản năm 1994, và bà Phạm Thị Hảo nhai lại ý hai ông đó năm 2017, không khí trong nước vẫn là không khí “Phan Thanh Giản phải được coi là tội nhân của lịch sử.” Việc làm của các vị không rõ do tự ý (để có thêm công lao với chế độ) hay do được chỉ định? Nhưng hậu quả khá rõ là rìu búa đã được chất thêm lên nỗi oan của tiền nhân. Được biết học giả khả kính Nguyễn Đổng Chi, sau đã rất ân hận vì trong giai đoạn Nhân Văn – Giai Phẩm oan nghiệt, phải vâng theo chỉ thị để nặng lời nhục mạ học giả Phan Khôi. Rất mong các vị nêu trên (ít nhất hai người đã ở cảnh giới khác, không còn chịu sự chi phối của những áp lực chốn nhân gian, tâm thức phục hồi sự sáng suốt), đã có hoàn cảnh đọc lại kỹ hơn những bài thơ Nguyễn Đình Chiểu viết về Phan Thanh Giản, để những nhận thức đúng với sự thật và lương tâm có cơ hội hồi sinh. Với những điều các vị đã lỡ viết ra, trước công luận và với thế hệ sau, bản biên khảo công phu của Anh sẽ hữu ích và cần thiết. Nhân danh rất nhiều bạn trẻ tuổi hơn, tôi chân thành cám ơn Anh. Cám ơn Anh đã vì lương tâm, công đạo, và tinh thần trách nhiệm với thế hệ sau, ghé vai gánh một nhiệm vụ cần thiết và khá nặng, mà cho tới nay, chưa ai có đủ thời giờ, tâm huyết, và tài liệu để có thể làm.

 

Về một vấn đề đã làm tốn khá nhiều giấy mực và đã khiến ông Trần Khuê tuyên bố một cách lầm lạc rằng Nguyễn Đình Chiểu mắng nhiếc Phan Thanh Giản “chết đi sẽ thành quỷ” (câu thơ “Minh tinh chín chữ”), tôi xin đóng góp chút nhận xét sau:

Cho tới nay, đối với câu 7 của bài thơ quốc âm:

Minh sanh (tinh) chín chữ lòng son tạc 

 đa số người đọc đã hiểu một cách đơn giản rằng lá minh tinh ấy có 9 chữ. 

Nhưng nếu lưu ý hơn đến cách ngắt nhịp của câu thơ, chúng ta sẽ thấy rằng câu ấy cũng có thể hiểu theo nghĩa khác: “Trên lá minh tinh, có 9 chữ cho thấy (người quá cố) có tấm lòng son.”

 Bốn câu đầu của bài thơ được ngắt nhịp một cách chậm chạp theo thể cách “cổ điển.”Câu thơ được tách thành 2 nhịp: 4 và 3, thích hợp với loại thơ trầm buồn:  


Non nước tan tành - hệ bởi đâu

Dàu dàu mây bạc - cõi Ngao-châu

Ba triều công-cán - vài hàng sớ

Sáu tỉnh cương-thường - một gánh thâu.

 Nhưng từ câu 5 trở đi, bài thơ được đổi nhịp. Để cực tả một thảm cảnh não lòng, câu thơ được ngắt thành 3 nhịp ngắn: 2, 2, 3:

 Trạm bắc - ngày chiều - tin điệp vắng

Thành nam - đêm quạnh - tiếng quyên sầu

Minh sanh - chín chữ - lòng son tạc 

Trời đất - từ đây - mặc gió thu.

 Câu 7 có thể viết ra văn xuôi như sau:

 “Trên lá minh tinh, có chín chữ [cho thấy] lòng son tạc.”

 Nguyễn Đình Chiểu không nói lá minh tinh ấy gồm tất cả bao nhiêu chữ. Điều ấy không quan trọng lắm đối với ông. Nhưng trong những chữ ấy, có 9 chữ giúp ông thấy rằng Phan Thanh Giản có tấm lòng son. Ý tưởng ấy rõ hơn nếu chúng ta đọc câu thơ theo cách ngắt thành 2 nhịp: 2, 5, cũng hợp với ý thơ:

 Trạm bắc - ngày chiều tin điệp vắng

Thành nam - đêm quạnh tiếng quyên sầu

Minh sanh - chín chữ lòng son tạc 

Trời đất - từ đây mặc gió thu.

 Vậy 9 chữ ấy là những chữ nào?

 Chúng ta đã biết rằng trước khi uống độc dược để chấm dứt sinh mạng, Phan Thanh Giản có viết trên một tờ hoa tiên ý kiến ông về việc nên hay không nên làm lá minh tinh (tức lá triệu hay lá phướn dùng trong đám ma). Theo đó, ông viết rằng: “Minh tinh thỉnh tỉnh. Nhược vô, ưng thư: Đại Nam hải nhai lão thư sinh tánh Phan chi cữu. Diệc dĩ thử chi mộ.” Có nghĩa là, “Minh tinh xin bỏ. Nếu không thì viết: Đại Nam hải nhai lão thư sinh tánh Phan chi cữu. Mộ chôn cũng vậy.” Vậy lá minh tinh ấy có 11 chữ theo ước lệ thông thường để khi đọc 4 chữ “Quỷ, Khốc, Linh, Thính,” chữ thứ 11 ứng với chữ “Linh”:

Quỷ, Khốc, Linh, Thính, Quỷ, Khốc, Linh, Thính, Quỷ, Khốc, Linh.

 Theo Anh cho biết, trên tạp chí Tri Tân số 99 (ngày 10 tháng 6 năm 1943), học giả Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố đã viết, “Sở dĩ gọi là chín chữ là tính từ chữ “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan.” Theo cụ Ứng Hòe, những chữ “chi cữu” trên minh tinh, cũng như những chữ “chi mộ” trên bia mộ, không phải là những chữ quan trọng. Có lẽ Nguyễn Đình Chiểu cũng nghĩ như thế. Ông quan niệm rằng khi đề nghị các chữ viết trên minh tinh, Phan Thanh Giản chỉ tự nhận là “người thư sinh lớn tuổi họ Phan ở ven biển nước Đại Nam” (không hề nhắc đến chuyện đỗ đạt, quan chức), là đã bộc lộ “một tấm lòng son.”

Chúng ta cùng thấy rằng câu 7 của bài thơ không phù hợp chút nào với những lời của ông Trần Khuê khi ông gán cho Nguyễn Đình Chiểu cái ý mắng nhiếc Phan Thanh Giản “chết đi sẽ thành quỷ.”

 Về những lời do Trần Huy Liệu bịa đặt, gán cho lá cờ của nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo, anh đã viết rất rõ. Về những bài của các chuyên viên Hán Nôm Trần Nghĩa, Trần Khuê, Phạm Thị Hảo, tôi còn vài nhận xét nho nhỏ nữa, nhưng chúng ta có thể đưa ra trong một trường hợp khác. Xin nhắc lại lời thành thật cảm ơn Anh, và cũng mong Anh nhiều sức mạnh, tiếp tục bền giữ tinh thần của cụ Nguyễn Đình Chiểu:

 Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

 Thân quý,

 Trần Huy Bích

 

Tuesday, June 28, 2022

Ra Mắt Sách WINSTON PHAN ĐÀO NGUYÊN: MỐI THÂM TÌNH Của NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Dành Cho "QUAN PHAN" PHAN THANH GIẢN / Vương Huê





- Ngày RMS 26/6/2022 - 2-5 chiều tại phòng hội Viện Việt-Học.
- Ban Điều Hợp Hội Thảo: Cựu Gs Nguyễn Trung Quân, cũng là MC tổng quát - Ls Winston Phan Đào Nguyên, tác giả - Nhà báo Phạm Phú Minh - Tiến sĩ Trần Huy Bích.
- Chương trình: - Giới thiệu tác giả - Giới thiệu tác phẩm - Thuyết trình của ba diễn giả: TS Trần Huy Bích - Nhà báo Phạm Phú Minh - Ls/TG Winston Phan Đào Nguyên.
Hội luận: Tham luận viên tại chỗ và ở xa - Hỏi đáp
- Kết luận và cảm tạ: cựu Gs Nguyễn Trung Quân và Ls Winston Phan Đào nguyên. 
- Hẹn tái ngộ vào tháng 9 tới.

Hoàng Thuỵ Văn

 

Luật sư Winston Phan Đào Nguyên vừa ra mắt cuốn sách mới Mối Thâm Tình Của Nguyễn Đình Chiểu Dành Cho "Phan Quan" Phan Thanh Giản do Nhân Ảnh ấn hành năm 2022.





- Xin nhắc lại Luật sư Winston Phan Đào Nguyên, người đi tiên phong, tác giả nhiều tài liệu vài năm trước đây "nói rõ và nói sự thật" và đồng thời viết sách "Phan Thanh Giản Và Vụ Án Phan-Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân." Nội dung tài liệu cũng như sách chỉ muốn gửi ra một tiếng nói trung thực từ hải ngoại cho những người quan tâm trong nước. Đặc biệt đối với các vị có trách nhiệm đang làm trái lại sự trung thực và vạch ra sự không trung thực ấy trước mọi người đang lo lắng đến tiền đồ của dân tộc và lịch sử của đất nước hoa gấm này. Không những "hoa gấm" mà còn "tiền rừng bạc biển"...

- Trong đó Ban Tuyên Giáo Trung Ương, qua ông Trần Huy Liệu, người được biết là anh cả của ngành sử của cả nước (XHCN) mà sau này đã nhìn nhận với người đồng viện (ông Phan Huy Lê) rằng mình làm công tác "dựng chuyện" do nhu cầu tuyên truyền của Đảng... Ban Tuyên Giáo đã có nhiều cố gắng trong công việc cải sửa sử liệu cũng như văn học sử theo khuynh hướng có lợi cho mục tiêu chính trị của Đảng, cho dù trái với sự thật, nhưng lại hữu dụng cho đường lối Cách mạng... và chẳng cần biết vương đạo hay bá đạo vì đó là Đạo đức kinh, sản phẩm của giai cấp bóc lột...(?)

- Mục đích lần ra mắt sách này tác giả Winston Phan Đào Nguyên muốn trình bày với tất cả tâm huyết của mình (xin đọc đoạn giới thiệu trong phần mở đầu của sách LÝ DO CHO SỰ RA ĐỜI CỦA CUỐN SÁCH NÀY như sau: "Cuốn sách này khởi đầu là một bài tham luận cho cuộc Hội Thảo về Nguyễn Đình Chiểu với chủ đề "Giá trị văn hoá và nhân văn của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu trong thời đại ngày nay" vào cuối tháng  6, đầu tháng 7/2022 tại Bến Tre, Việt Nam. Cuộc hội thảo về Nguyễn Đình Chiểu nói trên đã được chính phủ Việt Nam giao cho tỉnh Bến Tre tổ chức, sau khi UNESCO đồng ý cho việc dùng kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Đình Chiểu."

 

- Nếu không vì một sự e dẻ nào đó ngoài ý muốn và người Việt Nam trong hay ngoài vòng cương toả đều đã hiểu sách lược của đảng Cộng sản là lái văn ngữ của thơ văn qua một hướng có lợi cho mục đích tuyên truyền của đảng "Hồng hơn Chuyên" mà Ban Tuyên Giáo chủ động, không phải mới bây giờ mà sẽ mãi mãi nếu còn Đảng (mà Đảng theo chủ trương như "Bác Trọng", có thể giải thích Cộng sản Bắc Việt "ưu việt" hơn... vì đều là đồ đệ của "Bác Mao" mà "Bác Mao" với "Bác Xít" cũng như học trò với thầy... Ở đây không phải chỗ kể ra tội ác của đảng Cộng sản, nhưng không cần phải liên quan đến lãnh vực chính trị, ý thức hệ mới thấy có sự chống đối. Kinh nghiệm từ Ls Nguyễn Hữu Thọ, Ls Trương Như Tảng (Mémoire d'un Vietcong, 1985) và đặc biệt là những cán binh đi tập kết, Cộng sản trong Nam và những người có thói a dua trót theo cộng sản đều nhận lãnh cái hậu quả bi thảm bởi Cộng sản Bắc Việt (CSBV). Sự lên tiếng của họ có muộn màng còn hơn không lên tiếng!! CSBV cho đến nay vẫn là thành phần đa số và có thực quyền cai trị trên cả quyền và lợi.

 

Lời diễn giải của tác giả Winston Phan Đào Nguyên trên một số chi tiết nói rõ nói thật, không thiếu trong cuốn sách đang ra mắt - Cũng cần nói thêm trong suốt cuộc ra mắt sách có hội luận này không hề có bất cứ lời thuận hay chống nào kích thích hay hỗ trợ cho ý tưởng cực đoan. Con đường dài của những người trí thức không đợi chờ mà phải có trách nhiệm dẫn đường. Rất may mắn là họ đang thực hiện! Con đường kinh tế để sửa đổi đất nước phải tốn hàng nghìn tỷ USD, ông Poutine phải có 200 tỷ USD tài sản để thế chấp chiếc ghế của ông, các lãnh tụ đảng Cộng sản ngày nay đều như thế cả... Mặt trận văn hoá đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, chúng ta tranh đấu để lấy lại và gìn giữ những giá trị đó cho thật tốt, không một ông lãnh tụ nào giành công việc đó của người dân chúng ta!

Photos - Ra mắt sách Winston Phan Đào Nguyên ngày 26-6-2022:

https://photos.app.goo.gl/YaUsahG9J1u6BGbdA >


Videos - Ra mắt sách Winston Phan Đào Nguyên ngày 26-6-2022:

Clip 1/13 - Cô Kim Ngân, Giám đốc Điều Hành Viện Việt-Học giới thiệu vị Trưởng BTC buổi Ra mắt sách cựu Giáo sư Nguyễn Trung Quân - và lời mở đầu của ông tiếp theo.

https://www.youtube.com/watch?v=V3uRsdiIMJQ >

 

Clip 2/13 (2634) - Lời phát biểu của tác giả Winston Phan Đào Nguyên - Diễn giải một số chi tiết nói rõ nói thật, không thiếu trong cuốn sách đang ra mắt - Cũng cần nói thêm trong suốt cuộc ra mắt sách có hội luận không hề có bất cứ lời thuận hay chống nào chuyển thành ý tưởng cực đoan.

https://www.youtube.com/watch?v=rgYfSE67znQ >

 

Clip 3/13  Cựu giáo sư Trần Huy Bích thuyết trình về hai bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu, một bài thơ chữ Nôm và bài kia chữ Hán để chỉ cho thấy mối thâm tình của Nguyễn Đình Chiểu dành cho "Quan Phan" Phan Thanh Giản.

https://www.youtube.com/watch?v=9-W5BX-FfcA >

 

Clip 4/13 - Cựu giáo sư Trần Huy Bích thuyết trình về hai bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu, một bài thơ chữ Nôm và bài kia chữ Hán để chỉ cho thấy mối thâm tình của Nguyễn Đình Chiểu dành cho "Quan Phan" Phan Thanh Giản. (tiếp theo)

https://www.youtube.com/watch?v=5Wxz2YCY5Vc >

 

Clip 5/13 - Cựu giáo sư Nguyễn Trung Quân, BTC đưa ra nhận xét sau khi diễn giả GS Trần Huy Bích trình bày - Với giọng cương quyết như giọng miền Nam bộc trực của Cụ Trần Văn Hương, Tổng thống hợp pháp những ngày sau cùng của VNCH - Các Tham luận viên phát biểu: Cựu GS Nguyễn Đình Cường, Nhà báo Phan Thanh Tâm, Ls Nguyễn Hoàng Dũng - Ls Phan Đào Nguyên trả lời - Phần cuối ông Linh Võ, nối tiếp clip 6/13.

https://www.youtube.com/watch?v=JUsxalJC5T8 >

 

 

Clip 6/13 - 2638 - Tham luận viên phát biểu gồm quý ông Linh Võ (tiếp) , Ls Đỗ Hiếu Liêm, Bs Phan Thượng Hải - Những lời phát biểu đáng ghi nhận.

https://www.youtube.com/watch?v=qNIbMiiTIk4 >

 

Clip 7/13 - 2639 - Phát biểu của các tham luận viên: Bs Phan Thanh Hải, ông Linh Võ - Nhà báo Phạm Phú Minh đọc tham luận của những TLV ở xa - Cựu Gs Nguyễn Trung Quân phát biểu - Ý tưởng có khi trái chiều nhưng đều được lắng nghe để dễ thông cảm trong sinh hoạt dân chủ.

https://www.youtube.com/watch?v=1IhG_mtLL-o >

 

Clip 8/13 - 7609 - Tham luận viên phát biểu: Nhà báo Phạm Quốc Bảo - Ban Điều Hợp trả lời: Nhà báo Phạm Phú Minh, TS Trần Huy Bích - Tiếp tục đọc bài tham luận của TLV ở xa: Nhà báo Phạm Phú Minh.

https://www.youtube.com/watch?v=uFC30cfj3SY >

 

Clip 9/13 - Tham luận viên phát biểu: Bs Kiều Quang Chẩn, Ls Nguyễn Hoàng Dũng - Ls Phan Đào Nguyên trả lời và giải thích.

https://www.youtube.com/watch?v=LVeBhS_xH9I >

 

Clip 10/13 - Nhà báo Phạm Phú Minh tiếp tục đọc bài tham luận của TLV ở xa gửi về - Một TLV nữ phát biểu.

https://www.youtube.com/watch?v=9qVzwUwRrqQ>

 

Clip 11/13 - Ban Điều Hợp trả lời và giải thích cho các TLV: Ts Trần Huy Bích - PV Văn Lan báo Người Việt đặt câu hỏi - BĐH lắng nghe và trả lời thoả đáng.

https://www.youtube.com/watch?v=ykBswULR1fY >

 

Clip 12/13 - Nhà báo Phan Thanh Tâm - Cựu Gs Nguyễn Trung Quân phát biểu - Những thắc mắc và giải đáp xoay quanh ý tưởng trong hai bài thơ của cụ Đề Chiểu, nhất là bài thơ chữ Hán.

https://www.youtube.com/watch?v=j8vKV-w-i4g >

 

Clip 13/13 - Kết luận quanh đề tài: Cựu GS Nguyễn Trung Quân phát biểu chánh, lấy làm mừng rỡ trong sự khen ngợi người trẻ Phan Đào Nguyên đã thực sự nhập cuộc mà chúng ta đã phải đợi 30 năm lo lắng cho giới trẻ, nay mới thấy được người trẻ này. Ls Winston Phan Đào Nguyên làm cho người cộng sản trong nước thấy được Giới tinh hoa của khối người Việt hải ngoại. Chính những người trẻ này đã làm cho những người cầm cán ở ngành tuyên giáo phải biết suy nghĩ thế nào là người yêu nước mà không cần yêu đảng và yêu Trung quốc vĩ đại! - Kết thúc chương trình: Ls Winston Phan Đào Nguyên cám ơn sự đóng góp của mọi người và mong rằng nội dung của cuốn sách nên được phổ biến thật rộng rãi (Được biết Ls Phan Đào Nguyễn đã xuất tiền túi đài thọ các chi phí kể cả in ấn tốn kém cũng chỉ vì tấm lòng đối với tiền đồ của dân tộc và đất nước. Đúng là trên 30 năm mới có một người đầu tiên.

https://www.youtube.com/watch?v=TXcCAQeaekw >

 

Hoàng Thy Văn

Tập tin <hoangthuyv.blogspot> - Liên lạc: <hvuong311@gmail.com>

 

Wednesday, June 15, 2022

Tư Mẫu / Dư Cung. (Nhớ Mẹ) * Mỹ Ngọc * Từ Mai * Lâm Kiều

 


Sương đẫm hoa lau áo lệ rơi,

Bạc đầu tựa cửa ngóng đâu rồi.

Tháng năm, năm trước mưa đầu hạ,

Gạo đổi cà sa phụng dưỡng người.

    Mỹ Ngọc

 

Sương đẫm rặng hoa lau,

Sòng nâu ướt lệ sầu.

Cửa sài xưa tựa đó,

Tóc bạc nay còn đâu.

Năm trước mùa mơ chín,

Tháng hè mưa trận đầu.

Cà sa đem đổi gạo,

Nuôi Mẹ gửi về mau.

     Mỹ Ngọc

 

Sương đẫm hoa lau, áo lệ đầm

Còn đâu bên cửa tóc phơi bông.

Tháng năm năm trước mưa vào hạ

Gạo tự cà sa lúc kính thăm.

       Từ Mai

 

Sương rơi hoa sậy sao bằng

Lệ con lã chã ướt dầm áo khăn

Mẹ còn đâu nữa mà mong

Cà sa đổi gạo như lần năm xưa

      Lâm Kiều

 

Lặng nhìn hoa sậy trong mưa

Lệ tuôn lã chã thấm vừa áo con

Mẹ xa rồi cõi thế gian

Cửa sài tóc bạc bàng hoàng về đâu?

Mơ vàng năm trước hè đầu

Cà sa đổi gạo con hầu kính dâng

Nay còn đâu nữa mà mong

Lòng con thương nhớ vô ngần mẹ ơi!

     Lâm Kiều

  

Giọt sương hoen hoa sậy

Áo lam lệ đầm đìa

Mẹ hiền không còn nữa

Cửa sài cũng bơ vơ

Cà sa dầu lại đổi

Cơm nóng dâng hầu ai?

Mai vàng mưa hè trước

Vóc hạc dường đâu đây

     Lâm Kiều

 

 

Tư Mẫu

Sương vẫn lô hoa lệ thấp y

Bạch đầu vô phục ỷ sài phi

Khứ niên ngũ nguyệt hoàng mai vũ

Tằng điển cà sa địch mễ quy.

Dư Cung 

 

思母  

霜隕蘆花淚濕

白頭無復倚柴扉 

去年五月黄梅

曾典袈裟糴米

 輿恭


Monday, June 13, 2022

Lãng đào sa kỳ 1 / Lý Dục


Ngoài mành mưa rả rích,

Ý xuân suy tàn

Áo xiêm gượng chống năm canh lạnh

Trong mộng đâu biết mình là khách

Một thoáng truy hoan

Cô đơn đừng dựa lan can

Núi sông vô vàn

Biệt ly dễ tương phùng nào dễ

Nước chảy hoa rơi xuân biệt tích

Cõi trời chốn nhân gian.


Liêm ngoại vũ sàn sàn,

Xuân ý lan san,

La thường bất nại ngũ canh hàn.

Mộng lý bất tri thân thị khách,

Nhất hướng tham hoan.

Độc tự mạc bằng lan,

Vô hạn giang san,

Biệt thời dung dị kiến thời nan.

Lưu thuỷ lạc hoa xuân khứ dã,

Thiên thượng nhân gian.

 

  











。