Thursday, November 28, 2024

Nguyễn Duy Chính: HƯƠNG PHI (1734-1788)

 

 

HƯƠNG PHI

1734-1788

香妃

 




LỜI MỞ ĐẦU

Năm Dân Quốc thứ 3 (1914), trong một cuộc triển lãm cổ vật tại khu vực phía nam của Tử Cấm Thành, Bắc Kinh có trưng bày một bức tranh sơn dầu của hoạ sĩ Lang Thế Ninh (郎世寧) tức Giuseppe Castiglione (1688-1766).[1] Bức tranh của Castiglione vẽ một người đàn bà mặc nhung phục, áo giáp, đeo kiếm, đội mũ sắt có tua đỏ trông có vẻ cân quắc nữ nhi. Bên cạnh bức tranh là một bảng phụ đề giải thích về lai lịch của nó như sau:

Hương Phi là vương phi người bộ tộc Hồi. Xinh đẹp, trời sinh thân thể có dị hương, không cần dùng hương hoa để tắm gội mà vẫn thơm, người trong nước gọi là Hương Phi, cũng còn coi là người đẹp của Trung Thổ. Vua Cao Tông nghe tiếng, khi mở chiến dịch chinh tây, có dặn Triệu Huệ (兆惠) tướng quân cố tìm cho mình người lạ này.

Sau khi Hồi Cương đã bình định, Triệu Huệ bắt được Hương Phi đem về kinh sư. Nhà vua cho xây Bảo Nguyệt Lâu trong cung cho nàng ở. Bên ngoài lâu xây Hồi cung, chung quanh vây màn bằng da mềm, giống như của người Tây Vực. Bên cạnh Võ Anh Ðiện nhà vua lại cho xây Dục Ðức Ðường, phỏng theo kiến trúc của Thổ Nhĩ Kỳ, tương truyền là nơi để cho Hương Phi tắm. Vua hết sức chiều chuộng, muốn gì được nấy, cốt để nàng khỏi nhớ nhà.

Tuy được sủng ái như thế nhưng lòng nàng vẫn canh cánh không vui, lúc nào cũng mang theo dao sắc trong tay áo, nhắn với mọi người rằng:

-          Quốc phá gia vong, đã quyết đem cái chết để đền bù, nhưng không phải chỉ chết một người con gái mà phải làm cái gì để báo thù cho chủ cũ.

Ai nấy nghe đều kinh hãi, nhà vua biết rằng không thể khuất phục được nhưng cũng không chịu tha nàng về, cứ giam giữ như thế mấy năm liền. Hoàng thái hậu nghe chuyện này, nhiều lần can vua không nên lui tới nhưng vua không nghe. Một lần khi vua ra khỏi cung, thái hậu cho gọi phi vào thắt cổ chết.

Bức hình trên đây là Hương Phi mặc nhung trang, đeo kiếm đứng, có vẻ hiên ngang, chỉ thoáng nhìn cũng biết là gái tiết liệt. Bức tranh này vốn treo trong Dục Ðức Ðường, do Lang Thế Ninh thủ bút.

CHẾ ĐỘ NỘI CUNG NHÀ THANH

Theo qui chế của nhà Thanh, nội cung chia làm tám đẳng cấp. Vợ chính của vua là Hoàng Hậu (một người) có địa vị cao nhất. Dưới hoàng hậu là Hoàng Quí Phi (một người), dưới nữa là Quí Phi (một người), dưới nữa là Phi (bốn người) rồi tới Tần (sáu người), Quí Nhân (không hạn định), Thường Tại (không hạn định). Sau chót là cung nữ thường được xếp vào hàng Ðáp Ứng (không hạn định). [2] Vua Càn Long có tới hơn 40 phi tần, số cung nữ thì nhiều hơn thường được chọn trong số con cái các gia đình thuộc Bát Kỳ (Mãn, Hán và Mông) nhưng cũng có cả một số cung nhân người Triều Tiên.

Khi vua Càn Long lên ngôi (1735) ông đã có một gia đình tương đối vững vàng. Mẹ ông còn sống, nhiều phi tần của vua Khang Hi (ông nội ông) cũng còn. Lúc đó, tuy mới 24 tuổi, ông đã có 8 vợ và bốn con, ba trai, một gái. Sau khi lên ngôi, ông lại có thêm nhiều phi tần nhưng cũng chỉ từ 40 đến 50 người (không kể số cung nữ, thị tì chừng hai ba trăm người nữa) cùng khoảng 2000 thái giám hầu hạ. Sinh hoạt trong cung cấm do Nội Vụ Phủ trông coi mọi việc từ lớn đến nhỏ. Những người đàn bà đó sống trong những khu biệt lập trong Tử Cấm Thành, có tường bao quanh, chia ra thành hai khu vực, một khu cho những cung nữ và phi tần của tiên đế, một khu cho đương kim hoàng đế.

Ba năm một lần, các gia đình thuộc Bát Kỳ có con gái đến tuổi thành niên phải đem tiến cung để tuyển làm cung nữ. Mỗi năm một lần họ cũng phải đưa con đến để tuyển làm tì nữ. Tuy nhiên dù cung nữ hay thị tì, nếu may mắn được vua để ý tới vẫn có thể được thăng lên làm cung phi. Những ai không được ngó ngàng đến sẽ được cho về năm 25 tuổi. Nhiều người được lên hàng cung phi nhưng rồi sẽ chết già trong cung cấm, chẳng bao giờ được hưởng ơn mưa móc và cũng không bao giờ còn thấy được thân nhân. Chỉ có công chúa đã xuất giá mới thỉnh thoảng được vào cung hay cung nhân nào may mắn có thai mới có người thân vào săn sóc.



  



        

ÐI TÌM CHÂN TƯỚNG HƯƠNG PHI

Sau khi nhà Thanh bị lật đổ, một phong trào tấn công triều đại phong kiến sau cùng của Trung Hoa, trong đó không hiếm những chuyện giả xen lẫn với thật như bất cứ một chế độ nào vừa cáo chung. Thâm cung bí sử là những chuyện người ta thích nghe nhất nhưng cũng được bịa đặt nhiều nhất. Ðời Càn Long là một thời kỳ dài nên có nhiều đặc biệt, từ việc ông là một đứa bé người Hán được đánh tráo vào cung khi còn là một hài nhi, đến những chuyến du hành tưởng tượng mà ông là một hiệp sĩ cứu khổn phò nguy trong “Càn Long du Giang Nam” hay những âm mưu tiêu diệt các tổ chức “hưng Hán diệt Mãn”. Người con gái gốc Hồi có mùi hương thiên phú cũng là một trong những huyền thoại được nảy sinh sau cách mạng Tân Hợi 1911.

Những dật sự ấy ngày càng ly kỳ đến nỗi những học giả cũng đâm ra hoang mang nghi ngờ cả chính sử nhà Thanh và không ít người tìm cách đào sâu vào văn khố để cố tìm cho ra sự thật. Dường như bất cứ hình ảnh người phụ nữ nào có mặt trong những tranh vẽ đời Càn Long cũng đều được đặt thành giả thuyết phải chăng đây là hình ảnh của Hương Phi. Ít nhất có năm bức tranh được nhắc đến:

1/ Người đàn bà mặc nhung trang theo kiểu Âu Châu do Giuseppe Castiglione vẽ đã nhắc tới ở trên (hình 1)

2/ Cũng người đàn bà đó tay vịn vào đốc kiếm, cưỡi ngựa đốm hoa theo sau vua Càn Long, hai người đều mặc nhung phục, nhà vua cưỡi ngựa trắng, đeo cung tên. (hình 2)

3/ Người đàn bà mặc trang phục Âu Châu thời Trung Cổ ngồi bên cạnh một lẵng hoa (hình 3)

4/ Vua Càn Long cưỡi ngựa bắn một con hươu, bên cạnh là một người đàn bà mặc y phục Hồi cũng đang phi trên một con ngựa đốm hoa giơ tay đưa cho ông một mũi tên. Bức tranh này vốn không cho công chúng coi, theo lời dặn của vua Càn Long thì đây là một trong những sưu tập riêng của hoàng gia. Vì thế nhiều người cho rằng đây chính là Dung Phi, hình ảnh hai người thân cận như thế là một cấm kỵ của thời đại nên vua Càn Long mới không cho người khác trông thấy (hình 4)

5/ Một phụ nữ mặc quần áo Hán tộc, tranh sơn dầu, không rõ xuất xứ chỉ biết vào khoảng cuối thế kỷ 18. Bức hình này được đặt trên nhiều web-sites về Hương Phi nhưng không có gì đích xác (hình 5)

Ngoài ra một số hình cung nhân khác cũng được các nhà nghiên cứu giả định là Hương Phi (hình 6) Tuy nhiên quan điểm cũng không đồng nhất nên vẫn còn là những câu hỏi không có trả lời dứt khoát.

HƯƠNG PHI THEO DÃ SỬ

Theo truyện kể, cha Hương Phi là Hoà Trát Lãi Ðài Cát (和札賚台吉). Hoà Trát Lãi (Khoja) hay Hoà Trác Mộc (和卓木) có nghĩa là dòng dõi tiên tri Mohammed, còn Ðài Cát là tên của bộ tộc. Nàng xuất thân từ một gia đình nghèo khó, được Hoắc Tập Chiêm (霍集占) là một tù trưởng có thế lực nạp làm tiểu thiếp. Hoắc Tập Chiêm cũng dòng Mohammed thuộc giống người Ả Rập còn nàng thuộc giống dân Ô Tư Biệt Khắc (烏玆別克) nên không cùng họ với nhau. Vua Càn Long nghe tiếng của người đẹp và đặc tính toả hương thơm của nàng nên sai tướng quân Triệu Huệ đem đại quân Mông Cổ, Hán Bát Kỳ binh tấn công vào phía nam Tân Cương, ngầm dặn cố tìm cách bắt sống nàng. Quả nhiên Triệu Huệ đánh tan quân Hồi vào năm 1759, hai anh em Hoắc Tập Chiêm bị giết, quân Thanh bắt được Hương Phi đem về dâng lên vua Càn Long.

Khi nàng bị bắt về Bắc Kinh, người con gái yêu kiều của vùng Tây Vực ngày đêm chỉ nghĩ đến cố hương mặc dù vua Càn Long hết sức sủng ái. Vua Càn Long cho xây một cung điện theo kiểu người Hồi cho nàng ở, một lầu để nàng ngắm trăng và một hồ theo kiểu Thổ Nhĩ Kỳ để nàng tắm. Cây cối vùng Tân Cương cũng được đem từ xa về để trồng trong ngự uyển.

Tuy được chiều đãi, người đẹp Hồi Cương vẫn nhất định thủ tiết. Quí tướng “bất đái lan chi nhi tự hương”[3] đã khiến nàng từ một người con gái ở vùng Tây Vực hoang vu thành đệ nhất sủng phi của vua Cao Tông nhưng cũng lại cho nàng một tâm tình bất khuất nhất định không chung chăn gối với hoàng đế để bảo toàn danh tiết cùng chồng cũ. Nàng luôn luôn mang theo một con dao sắc nên nhiều lần vua Cao Tông muốn gần gũi cũng không được.

Cái chết của nàng cũng là một huyền thoại mà người chủ mưu chính là hoàng hậu Ula Nara (Ô Lạt Na Lạp - 烏喇那拉). Việc này khiến cho vua Càn Long nổi giận và hoàng hậu đã cắt tóc gây ra một đại án cung đình. Hai năm sau hoàng hậu từ trần và vua Càn Long không lập hoàng hậu nữa. Cũng có chỗ thì lại bảo là trong khi vua nam tuần, Sùng Khánh (崇慶) thái hậu (1692-1777), mẹ ruột vua Cao Tông đã triệu Hương Phi vào và ban cho giải lụa để nàng tự tử.

Linh cữu của nàng được đem về Tân Cương để chôn trong một thánh địa của gia đình họ Hòa Trác, đời sau gọi là Hương Phi miếu, Hương Phi phần hay Hương Phi mộ. Ðến năm 1780, vua Càn Long ra lệnh cho tu bổ nghĩa trang này thành một khu lăng mộ khang trang, hiện nay vẫn còn. Truyền kỳ về Hương Phi được viết thành sách, nhiều chi tiết hoang đường được ghi trong Thanh Bại Loại Sao (清稗類鈔), Thanh Triều Dã Sử Ðại Quan (清朝野史大觀) và Mãn Thanh Thập Tam Triều Cung Vi Bí Sử (滿清十三朝宮闈秘史) ...

HƯƠNG PHI THEO CHÍNH SỬ

Cứ theo sử sách, Hương Phi thuộc gia đình Kiramet ở phía đông Hồi Cương (Turkestan) sinh năm Ung Chính thứ 12 (1734), không phải do Triệu Huệ bắt được đem hiến vua Càn Long như người ta thường truyền mà do chính người Hồi đem dâng từ trước khi có cuộc chiến. Ðàn bà người Hồi không có tên nên dùng họ để gọi, đến khi xuất giá thì dùng tên thánh.

Ngày rằm tháng giêng năm Càn Long thứ 25 (1760), vua Cao Tông cũng toàn gia ăn yến tại điện Chính Ðại Quang Minh vườn Ðồng Lạc, trong số khách mời có cả một số thủ lãnh bộ tộc Hồi Cương như Ngạch Sắc Doãn (額色尹), Ðồ Nhĩ Ðô[4] (圖爾都) và gia tộc. Ngày mồng 4 tháng 2, em gái của Ðồ Nhĩ Ðô phụng chỉ nhập cung, năm đó nàng đã 27 tuổi. Ðích thân vua Càn Long tiếp đón người đàn bà nổi tiếng là có mùi hương tự nhiên này, và thăng nàng lên hàng quí nhân ngay không qua những giai đoạn khác, gọi là Hoà quí nhân. Vua Càn Long đặc biệt sủng ái cô gái gốc Hồi, ban thưởng cho nàng nhiều món quí giá, như kim loa ti phượng quan, san hô triều châu ...

Hoà quí nhân nhập cung mang lại nhiều điềm tốt. Cùng năm đó, mấy cây vải đem từ phương nam lên trồng trong ngự uyển bỗng nhiên sai trái. Riêng cây trong cung của nàng ở có đến hơn 200 trái. Ðình thần ai nấy chúc mừng hoàng thượng chinh phục được dị vực, vừa có mỹ nhân lại cả cây trái vùng nhiệt đới, coi nàng như là một phúc tinh cho cả triều đình.

Ngày 16 tháng năm năm Càn Long thứ 27 (1762), hoàng thái hậu giáng chỉ phong Hoà quí nhân là Dung Tần (容嬪), khi đó nàng đã 29 tuổi. Anh nàng là Ðồ Nhĩ Ðô được thăng lên Phụ Quốc Công.

Mùa xuân năm Càn Long thứ 30 (1765), vua Cao Tông tuần du phương Nam lần thứ tư, mang theo hoàng thái hậu, hoàng hậu, Lệnh quí phi, Khánh quí phi, Dung Tần, Vĩnh thường tại, Ninh thường tại cùng rất nhiều thân nhân, vệ sĩ tổng cộng lên đến hơn 1000 người. Phái đoàn đi qua Tô Châu, Hàng Châu, Giang Ninh, Dương Châu ... các nơi ở Giang Nam. Trên đường đi, nhà vua đặc biệt chăm sóc Dung Tần, nhất là tôn trọng thói tục của Hồi giáo trong việc ăn uống và lễ nghi.

Khi Ðông tuần, vua Cao Tông cũng cho Dung Tần theo, tới Thái Sơn, Khúc Phụ, bái yết các lăng miếu tổ tiên người Mãn Châu ở Thịnh Kinh. Ngày 20 tới 24 tháng 8 năm Càn Long thứ 46 (1781), hai lần vua ban thưởng đồ ngự thiện cho phi tần, những người khác được ban thưởng thịt heo rừng, vì biết người Hồi giáo kiêng thịt heo nên riêng Dung Tần được ban thưởng thịt nai và thịt báo.

Tháng 6 năm Càn Long thứ 33 (1768), hoàng thái hậu lại hạ chỉ phong Dung Tần lên làm Dung Phi. Tuân theo ý của hoàng đế, Thưởng Cấp Xứ trong Thanh cung vội vàng sửa soạn nào là triều phục, cát phục, hạng quyển, nhĩ đội, sổ châu ... để nàng mặc.[5] Ngày mồng 6 tháng 10, vua Càn Long sai đại học sĩ Doãn Kế Thiện, nội các học sĩ Mại Vị Tốn làm chánh phó sứ, chính thức sách phong nàng làm Dung Phi, trong sắc viết:

Dung Tần Hoắc Trác thị, đoan trang, cung kính, nghi biểu nhu thuận, luôn luôn tuân lệnh từ vi (thái hậu), không phạm lỗi trong cung cấm, nay vâng theo từ dụ của thái hậu, phong ngươi làm Dung Phi ...

Năm đó Dung Phi đã 35 tuổi. Dung Phi tính thích ăn trái vải, dưa gang, các loại nho tươi, nho khô và những món ăn của cố hương nên vua Cao Tông tuyển đầu bếp người Hồi nấu ăn cho nàng. Cũng có khi chính nàng nấu ăn rồi mời nhà vua đến ăn thử. Ngày mồng năm năm Càn Long thứ 46 (1781), Dung Phi sai trù sư nấu hai món đặc biệt của người Hồi là “cốc luân kỷ” và “trích phi nhã tắc” đem dâng lên vua. Hai món này có lẽ phiên âm tiếng Hồi, chỉ thấy sách vở giải thích đây là món “cơm tay cầm” (ăn bốc theo kiểu người Ấn Ðộ) và rau xào hành tây, vì lạ miệng nên vua Càn Long khen nức nở.

Theo qui chế cung đình nhà Thanh, hàng quí nhân mỗi năm được thưởng 150 lượng bạc, sau khi lên hàng tần, tiền thưởng lên gấp đôi 300 lượng bạc. Kỳ sinh nhật Dung Phi năm 40 tuổi, vua Càn Long ban cho như ý bằng bạch ngọc (1 hộp 9 cái), tượng ông Thọ bằng ngọc xanh (1), vô lượng thọ Phật (1), chén linh chi bằng mã não, bình bằng bạc ... Gia đình Dung Phi cũng được hậu đãi. Tháng 4 năm Càn Long 25, vua Cao Tông gả cho Ðồ Nhĩ Ðô một cung nữ tên là Ba Lãng. Năm Càn Long 43, khi Ðồ Nhĩ Ðô qua đời, không có con, cháu là Thác Khắc Thác (托克托) được tập ấm Phụ Quốc Công. Ðể cho nàng đỡ nhớ nhà, vua Càn Long cho thành lập một khu phố cho người Hồi đến ở, được mặc y phục Hồi, sinh hoạt như khi còn ở Hồi Cương và cả một thánh đường Hồi giáo ngay tại Bắc Kinh. Tuy nhiên việc này nhiều sử gia giải thích rằng đây là một thủ thuật tâm lý lấy lòng các dân tộc thiểu số chứ chưa hẳn chỉ vì Dung Phi.

Sau khi hoàng hậu thứ hai là Ula Nara (Nhiệm hoàng hậu) qua đời (1766), vua Càn Long không lập hoàng hậu khác. Năm Càn Long thứ 40 (1775), hoàng quí phi bị tội phải xử tử, Dung Phi trở nên người thân cận nhất của hoàng đế. Ngày rằm tháng giêng năm Càn Long 46 (1781), trong buổi yến tiệc ở Viên Minh Viên, Dung Phi được ngồi ngay thủ vị đầu bàn phía tây. Cũng năm đó, tháng 12 tại đại yến ở Càn Thanh Cung, Dung Phi lên ngồi ở bàn phía đông. Ở tuổi 48, Dung Phi được coi như đã lên đến cao điểm của cuộc đời và trở thành người số một trong cung đình nhà Thanh. Năm nàng 50 tuổi, tuy đã lớn tuổi nhưng vua Càn Long vẫn sủng ái như thường, lại thưởng như ý và chín món đồ cổ, chín tấm gấm đoạn và chín đồng tiền bằng bạc, ý chúc nàng sống lâu đến 99 tuổi. Tuy nhiên từ năm Càn Long thứ 50 (1785) trở về sau, Dung Phi sức khoẻ suy giảm và ít thấy xuất hiện công khai nữa.

Ngày 14 tháng 4 năm Càn Long thứ 53 (1788), vua Càn Long ban cho Dung Phi 10 quả quít. Ðây là lần sau cùng nàng được vua ban thưởng. Năm ngày sau, 19 tháng 4, Dung Phi từ trần, hưởng thọ 55 tuổi. Trước khi lìa đời, Dung Phi đem hết quần áo, dụng cụ, các món trân ngoạn nàng có được trong những năm qua phân phát hết cho các cung tần, phi tử, cung nữ, thị tì ...

Vua Càn Long hết sức đau lòng về cái chết của Dung Phi nên tổ chức tang lễ thật trọng thể, bản thân ông không thiết triều ba ngày đã đành, các hoàng tử và đại thần cũng phải mặc tang phục trong ba ngày đó.

Năm 1979, khi Dụ Lăng Phi Viên ở Ðông Lăng gần Bắc Kinh bị kẻ trộm đào xới và nước mưa xoi mòn, các nhà nghiên cứu tìm ra một ngôi mộ mà trên đầu quan tài có viết mấy hàng chữ Hồi thếp vàng, chính là đoạn đầu trong kinh Coran. Nắp quan tài cũng có mấy hàng chữ Hồi, bên trong quan tài có long bào, mũ miện, bảo thạch... Người ta cũng còn tìm thấy một bộ xương người, bím tóc, mũ cát tường, ngọc như ý, hà bao, trân châu, ngọc mắt mèo ... đều là vật dụng ban thưởng cho hàng phi. Những chuyên gia sau khi xem xét đều xác quyết đây chính là mộ của Dung Phi, người mà dân chúng thường gọi là Hương Phi. Người ta cũng thấy bím tóc đã có nhiều sợi bạc chứng tỏ khi từ trần Dung Phi đã lớn tuổi và tài liệu ghi chép trong cung nhà Thanh không sai.

Từ những khám phá đó, nhiều nhà nghiên cứu đã lục lại sử sách để tìm hiểu thêm về sự ưu đãi của vua Cao Tông với vị phi người Hồi và đi đến kết luận rằng những đồn đại và truyền thuyết về nàng phần lớn không đúng với sự thật. Việc sủng ái người phi tần này phần lớn do chính sách thu phục người thiểu số mà nhà Thanh theo đuổi hơn là tình cảm cá nhân. Dung Phi chết năm 1788 (Càn Long thứ 53), còn Hoàng Thái Hậu Sùng Khánh đã qua đời từ năm 1777 (Càn Long thứ 42), trước Dung Phi 11 năm. Việc bà sai người thắt cổ Dung Phi không thể có được. Còn ngôi mộ ở Tân Cương thực ra chỉ là một nghĩa trang gia tộc của người Hồi nhưng vì muốn thu hút khách du lịch và kẻ tò mò nên người ta đã cố tình nói mập mờ là mộ Hương Phi nhưng đúng ra phải là khu mộ của gia tộc Dung Phi mới phải.

Việc vua Cao Tông cho xây Bảo Nguyệt Lâu năm Càn Long thứ 23 (1758) để chuẩn bị cho mỹ nhân cũng không đúng. Cứ theo Ngự Chế Bảo Nguyệt Lâu Ký thì nguyên nhân trực tiếp của công trình này là vì bờ phái nam của Thái Dịch Trì (太液池) quá sát với hoàng cung, mỗi lần vua ngự giá thấy không khoảng khoát nên cho xây để có thể ngắm trăng. Tòa lâu đài này cũng xây trước khi Hương Phi nhập cung hai năm.

Những sử gia Trung Hoa cũng đặt vấn đề về sự chân xác về bức hình của Giuseppe Castiglione có thực là Dung Phi hay chỉ là một người đàn bà nào khác. Người con gái mặc áo kiểu Hồi Cương đưa mũi tên cho vua Càn Long có người cho rằng đây là công chúa Hoà Hiếu, cô con gái thứ mười được vua Càn Long rất yêu quí thường cho đi theo mỗi khi săn bắn. Tuy nhiên giả thuyết này không vững vàng vì công chúa Hòa Hiếu sinh ra khi vua Càn Long đã 65 tuổi, tuy có theo vua cha đi săn nhưng khi đó cô còn rất nhỏ, năm 14 tuổi xuất giá lấy Phong Thân Ân Ðức (con trai Hòa Khôn), trong khi trong hình vua Cao Tông trông còn tráng kiện lắm, không phải là một ông già sấp xỉ 80. Những bức hình mỹ nữ khác có thể là bất cứ cung nhân hay phụ nữ quí tộc nào, không chắc gì đã là Dung Phi.

Những truyền kỳ về nàng càng lúc càng nhiều đến nỗi trong dân gian có đến hai người hoàn toàn khác nhau, một nàng Hương Phi thần kỳ, lãng đãng và một Dung Phi là sủng thiếp của vua Càn Long.

Dung Phi có thực sự mang những huyền thoại của Hương Phi hay không cũng là một câu hỏi. Cứ theo tính cách của vua Càn Long, dường như vị hoàng đế này có thói “yêu ai yêu cả đường đi” mà thái độ đối xử của ông lắm khi thiên lệch, khó có thể giải thích theo lối bình thường. Khi Lê Duy Kỳ còn là “con cờ” của ông, ông phong vương cho Mẫn Ðế từ khi còn chưa tìm ra tung tích, sai Tôn Sĩ Nghị đem cả sắc thư, ấn tín để khi vừa chiếm được Thăng Long là cử hành đại lễ ngay. Ðến khi ông này thất bại phải chạy qua nương náu bên Tàu thì ông lại cay nghiệt quá đỗi, chỉ thị tỉnh thần chỉ cho “vừa đủ ăn”, lại ngầm ra lệnh bạc đãi thầy trò nhà Lê đến “sống dở chết dở”. Ðối với Tôn Sĩ Nghị, tội “ngộ thất quân cơ” nặng là thế, ông cũng tha cho, lại còn phủ dụ, triệu về kinh làm việc trong Quân Cơ Xứ. Nhiều tướng lãnh khác phạm những tội nhỏ bằng con kiến ông cũng đem ra “chính pháp”, có khi gia hình đến cả tông tộc, thân nhân.

Việc ông về già sủng ái một gã “bất học vô thuật” là Hoà Khôn đến nay còn là một câu hỏi lớn mà sử gia giải thích mỗi người một cách, kể cả cho rằng ông có máu đồng tính luyến ái trong một mức độ nào đó. Riêng với người đẹp gốc Hồi Hương Phi cũng tốn nhiều giấy mực. Khuôn mặt của nàng theo nét vẽ rất chân thực của Giuseppe Castiglione thì dường như không phải là bậc quốc sắc thiên hương (xem hình đính kèm). Có thể ngoài khuôn mặt, nàng còn những dị thuật nào khác của người vùng Trung và Nam Á chăng?

Người Ba Tư, Ấn Ðộ ... cho tới ngày nay vẫn nổi tiếng về nghệ thuật phòng the. Khi nhập cung nàng đã 27 tuổi – ... hơi già so với những phi tần khác tiến cung từ khi mới 13, 14. Rất có thể nàng không còn là trinh nữ vì ở thời đó tuổi ngoài 20 chưa lấy chồng đã là một chuyện không bình thường. Lý do chính yếu vua Cao Tông nạp cung là để thu phục những dân tộc ở phía tây trước nay vẫn là một mối đe dọa lớn cho triều đình hơn là vì sắc đẹp hay dị tướng của người con gái đã luống tuổi. Tuy nhiên cũng có thể bản tính phóng khoáng của một người sống trên thảo nguyên là một món lạ nên nàng càng ngày càng được hoàng đế sủng ái. Những cung tần khác được huấn luyện để chiều chuộng đấng chí tôn, không được biểu lộ xúc cảm và thường rất thụ động khi được ban phát ơn mưa móc nên dễ trở thành nhàm chán.

Ðiều Hương Phi thân thể có dị hương cũng đáng để chúng ta bàn cãi. Có sách cho rằng nàng tên thật là Giả Mẫu Tư Mộc (賈姆孜木), tên thánh là Hi Phách Nhĩ Hãn (希帕爾汗) có nghĩa là “rất thơm”. Chính từ cái tên này mà nàng được gọi là Hương Phi chứ không phải như người đời thêu dệt là có mùi thơm thiên phú.

Tuy nhiên cũng có thể trời sinh nàng có một hương vị đặc biệt. Những dân tộc vùng Trung Ðông và Trung Á vẫn nổi tiếng là thân thể nặng mùi hơn các sắc dân khác. Việc toả ra một mùi hương khác thường không phải là chuyện hiếm trong y khoa, có điều phần lớn những mùi hương đó không được ưa thích và bị coi là một trạng thái bệnh tật. Chủng tộc, cách sinh sống, tình trạng vệ sinh và thực phẩm dùng hàng ngày đều là những yếu tố góp phần vào việc tạo một mùi vị riêng mà những người tinh tế có thể nhận ra được bằng mũi. Lịch sử còn ghi nhận “hơi thở của Alexander the Great có mùi hoa tử la lan (violet) và quần áo lót của ông có hương thơm tự nhiên này”.[6] Cũng có người khi cảm xúc lại tiết ra một mùi đặc biệt giống như xạ hương (odor of musk) mà người Trung Hoa thường cho rằng có tính chất gợi dục (aphrodisiac effect of odors).

Thời Trung Cổ những mệnh phụ thường ban thưởng cho các hiệp sĩ những vật dụng nho nhỏ của mình cũng là một dạng kích thích để họ gắng sức khi chiến đấu. Không hiếm những người đàn ông mê say một người đàn bà chỉ vì mùi hương đặc biệt của họ có khi không chỉ ở thân thể mà còn ở giày, khăn tay, đồ lót, quần áo ... mà danh từ chuyên môn gọi là fetichism. Trong một bữa tiệc do hoàng đế xứ Navare thết đãi, vua Henry đệ Tam đã vô tình chùi mặt bằng một chiếc khăn tay của Maria of Cleves và lập tức bị mùi mồ hôi còn vương trên đó quyến rũ khiến ông không thể kháng cự đến nỗi thành sàm sỡ với nàng mặc dù cô gái đã là vị hôn thê của hoàng tử xứ Condé.[7] Nhiều nơi, kể cả một số vùng quê ở miền Bắc nước ta, trai gái cũng có tục trao đổi vật tuỳ thân để làm kỷ niệm, cũng là một dụng ý dùng mùi hương để thêm gắn bó. Chính thế mà một nhà thơ đã “xếp tàn y lại để dành hơi” khi người vợ thân yêu của mình khuất bóng. Ca dao Việt Nam cũng có câu:

Chim khôn ăn trái nhãn lồng,

Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

Những quan điểm về sắc đẹp lại rất tương đối – cái đẹp của con cóc đực là con cóc cái – thơm đối với người này chắc gì đã vừa mũi người khác. Sầu riêng là một loại trái cây quí ở nước ta trong khi có quốc gia cấm bán ở nơi công cộng, đừng nói gì đem lên máy bay hay xe khách.

Trong thế giới loài vật, một mùi đặc biệt để quyến rũ phái tính khác trong mùa động tình lại càng thông thường. Chó đực có thể ngửi thấy mùi của chó cái cách vài dặm. Con bò xạ (musk-ox), hải ly (beaver) ... có những hạch ở bộ phận sinh dục toả mùi rất nặng. Nhiều giống bướm đêm cũng dùng mùi hương để gọi đàn.

Ðiểm thứ hai là sự tương hợp giữa bản tính của vua Càn Long và Hương Phi. Vua Càn Long là một người hiếu võ. Trong những tranh vẽ về ông không ít những cảnh ông muốn chứng tỏ mình là một vị hoàng đế thích sức mạnh, từ cảnh ông sử dụng súng điểu thương bắn một con hươu, đến cảnh ông cầm cung bắn một con hươu khác, khi thì đánh hổ, lúc cưỡi ngựa mặc nhung y ... Biệt hiệu ông chọn lúc cuối đời là Thập Toàn Lão Nhân chủ yếu để dương danh về mười chiến công oanh liệt cũng là một dấu hiệu. Thành thử việc ông sủng ái Hương Phi cũng có thể vì nàng gốc Hồi, bản chất du mục có phần nào tương đồng với cá tính của ông, không ẻo lả, thụ động như những phi tần khác. Trong hơn chục bức tranh vẽ phi tần của vua Cao Tông, dường như ai ai cũng có nét đẹp truyền thống rất mảnh mai, riêng Hương Phi lại mặc nhung phục ra vẻ ngang tàng, giáp trụ theo kiểu Ý Ðại Lợi càng làm nổi bật cá tính mạnh mẽ.

Cũng như Nguyễn Huệ sau khi chiến thắng quân Thanh được vua Càn Long hết sức ưu đãi (xem thêm Bão Kiến hay Bão Tất, biên khảo của Nguyễn Duy Chính), việc Hương Phi được sủng ái có thể cũng là một ẩn ức tâm lý của vị vua thích chinh phục. Nhiều người trong chúng ta cũng thích những nét đẹp hơi ngổ ngáo. Việc Nguyễn Huệ chấp nhận làm phiên thần hay việc Hương Phi bằng lòng nhập cung đã khiến cho tự ái của ông được thoả mãn, tưởng như mình đã vượt qua được một ngọn núi cao.

KẾT LUẬN

Sau khi nhà Thanh bị lật đổ, phong trào tranh đấu của các dân tộc thiểu số, nhất là những quốc gia trước đây đã bị Thanh triều xâm chiếm và sáp nhập đã khiến cho nhiều truyền kỳ lịch sử bị bóp méo và phóng đại. Câu chuyện về người phi tần có mùi thơm kia cũng là một. Chính Kim Dung cũng đưa nàng vào một thiên tình sử dưới cái tên Hương Hương công chúa trong truyện Thư Kiếm Giang Sơn (Thư Kiếm Ân Cừu Lục).

Cuộc đời Hương Phi được vẽ vời thành tiểu thuyết, văn thơ, ca kịch và tuồng hát và đã có thời rất phổ biến trên văn đàn, trở thành một biểu tượng của thành phần bị trị chống lại nhà cầm quyền. Người ta nhấn mạnh đến sự mâu thuẫn giữa dân tộc với dân tộc, giữa triều đình phong kiến với thành phần bị áp bức nên không khỏi nguỵ tạo một số chi tiết, nhất là những chi tiết đó lại ly kỳ, khó kiểm chứng.

Thứ nữa, những dật sự thường tách rời con người ra khỏi hoàn cảnh, tạo cho vua Càn Long những suy nghĩ và phản ứng của một người bình thường, một tình yêu say mê một chiều, có đi mà không có lại. Những kiến trúc Hồi giáo, thánh đường, thị tứ của người dân vùng Tây Vực ngay tại Bắc Kinh càng khiến cho câu chuyện trở nên có vẻ thật hơn. Tuy nhiên, đời sống của một vị hoàng đế, nhất là hoàng đế ở một giai đoạn thịnh trị của nhà Thanh không sống bình thường như chúng ta, bị câu thúc bởi những luật lệ hết sức nghiêm khắc, và cũng hết sức bận rộn, mọi chuyện ăn ngủ đều phải theo một thời khoá biểu chặt chẽ.

Gần đây, khi những sôi nổi nhuốm màu sắc chính trị đã qua đi, một số nhà nghiên cứu đã cất công đào sâu trong văn khố và đến tận Tân Cương để truy lùng nguồn gốc hầu tìm hiểu sự thực. Những khám phá mới đã trả lại vai trò của Dung Phi trong lịch sử nhưng câu chuyện về Hương Phi vẫn được truyền tụng trong dân chúng theo cái người ta muốn nghe về một người con gái hương sắc vẹn toàn.

Nguyễn Duy Chính

Tháng 9 năm 2004

[1] Lang Thế Ninh là tu sĩ dòng Jesuit, người Ý Ðại Lợi tới Trung Hoa theo phái bộ truyền giáo năm Khang Hi thứ 54 (1715) rồi được triệu vào cung làm hoạ sĩ cho triều đình. Ông còn dạy các hoạ sĩ người Trung Hoa phương pháp của Âu Châu nên đời Thanh các hoạ phẩm mang màu sắc Ðông Tây phối hợp. Ông tạ thế tại Bắc Kinh năm Càn Long thứ 31 (1766) thọ 78 tuổi, được vua phong hàm Thị Lang, lại xuất kho 300 lượng bạc để lo tang sự, an táng trong nghĩa địa giáo sĩ ngoài thành Bắc Kinh.

[2] Chuimei Ho và Bennet Bronson: Splendors of China’s Forbidden City – The Glorious Reign of Emperor Qianlong (London-New York: Merrell Publishers Limited, 2004) tr. 172-3

[3] 不帶蘭枝而自香 không mang cành lan trong người mà vẫn thơm

[4] Turdi

[5] Nội đình thưởng tứ lệ (內庭賞賜例) Ðường Văn Cơ, La Khánh Tứ, Càn Long Truyện (Bắc Kinh: Nhân dân xb xã, 2001) tr. 460

[6] George M. Gould, M.D. và Walter L. Pyle, M.D. : Anomalies and Curiosities of Medicine (NY: Bell Publishing Co. 1896) tr. 398

[7] Gould, sđd tr. 402

Nguyễn Duy Chính: XỨ NGƯỜI MÙ

 

 

XỨ NGƯỜI MÙ

Nguyễn Duy Chính

 

 

Phỏng dịch từ The Valley of the Blind trong Carlos G Valles, S.J.: Courage to be Myself, Living the Fullness of the Present with Acceptance and Knowledge of Who We Are (New York London Toronto Sydney Auckland: Doubleday, 1989) tr. 45-49

 H. G. Wells (1866-1946), một văn sĩ nổi tiếng chuyên về truyện giả tưởng, có viết một truyện rút từ cổ tích xứ Peru nhan đề là The Country of the Blind (Xứ Người Mù). Câu chuyện kể rằng có một nhóm người cách đây 14 thế hệ, lạc vào trong một thung lũng của vùng núi cao trong dẫy Andes Alps và từ đó cách ly hẳn thế giới loài người. Vì cao độ của khu vực, và thêm một bệnh truyền nhiễm mắt họ mờ dần và sau cùng mọi người đều hóa mù. Ðời nọ kế tiếp đời kia, đám dân này phát triển những giác quan của họ và linh mẫn đặc biệt. Họ có thể nhận biết người khác bằng bước chân, và có thể biết được trạng thái người khác bằng tiếng nói, bằng nhịp tim. Họ có thể hái trái, gặt lúa chỉ nhờ vào khứu giác. Và cuộc đời của họ tràn trề hạnh phúc.

 Một ngày kia, một biến cố xảy đến đe dọa đời sống thái bình của họ. Một thanh niên thích phiêu lưu vô tình lạc vào Thung Lũng Của Người Mù. Chàng trai thấy mình là người duy nhất có đôi mắt sáng nên động lòng trắc ẩn nguyện sẽ ở lại để giúp đỡ đám người khốn khổ. Thế nhưng anh ta không cách nào có thể làm cho những người mù hiểu rằng họ là những người bất hạnh, và ở trên đời có những người với đôi mắt sáng. Anh ta tìm đủ mọi cách để chứng minh đôi mắt hữu ích và là một ân sủng của trời đất, nhưng vô hiệu. Từ chạy đua, hái quả, săn thú, bắt chim, những người mù không những chẳng kém mà còn trội hơn anh ta là khác. Thành ra, những thử thách anh ta đưa ra lại có hậu quả trái ngược. Chàng trai bị toàn thể dân mù coi là một kẻ tàn phế, đôi mắt là một khuyết tật làm mất khả năng phát triển các giác quan khác.

Ít lâu sau, anh ta đem lòng yêu thương một cô gái. Dĩ nhiên cô ta cũng mù nhưng anh ta hi vọng sau khi lấy nhau sẽ đem cô trở về thế giới văn minh và cứu chữa. Nhưng sự việc lại xảy ra ngoài ý muốn. Khi hỏi cô gái có bằng lòng không cô ta trả lời:

-        Em cũng yêu anh và muốn thành vợ thành chồng. Chỉ ngặt một điều, nếu anh không buồn thì em phải nói thật, mắt anh có tật như thế cha mẹ em không chịu sợ rằng sau này bệnh anh lây ra mọi người khác thì khổ. Nếu quả thực anh yêu em thì em đã có cách. Em sẽ mời một thầy lang đến giải phẫu mắt cho anh để anh hết bệnh, khi ấy hai đứa mình sẽ chung sống với nhau. Mổ không đau đâu, kết quả bảo đảm. Nếu anh bằng lòng sáng mai em sẽ mời ông ta đến.

Suốt đêm, chàng thanh niên trằn trọc. Anh ta hiểu những gì cô gái nói. Họ muốn anh cũng mù và giải phẫu chẳng qua chỉ là móc cặp mắt của anh ta thôi. Họ muốn anh ta bình thường, mà bình thường có nghĩa là mù. Những người mà cảm giác của họ bị giới hạn như thế, họ chỉ suy nghĩ trong cái giới hạn ấy thôi.

Trong đêm tối, khi ánh sáng và bóng đen không khác biệt, nghĩ đến người yêu, anh sẵn sàng chấp nhận tất cả để dâng hiến cho ái tình. Trước khi thể xác đui mù, con tim bắt lý trí anh mù quáng. Thế nhưng, khi ánh thái dương lóe dạng, màu sắc rực rỡ của trời đất phủ đầy trước mắt. Những cánh đồng, những đóa hoa, những cánh chim và bầu trời xanh làm cho vạn vật hồi sinh sau một đêm. Người thanh niên tận hưởng những giây phút cuối cùng của cảnh trí, và nhủ thầm lời giã biệt ánh mặt trời. Bỗng anh giật mình. Không thể được, ta không thể chui đầu vào bóng đêm mãi mãi, không thể chịu kiếp tàn phế vì một tình yêu. Ta không phải sinh ra đã mù, ta đã có đôi mắt sáng và dù có chọc cho mù, lòng ta cũng không sao bình thản như họ. Ta sẽ suốt đời đau khổ. Và như điên cuồng chàng trại chạy như bay ra khỏi thung lũng trở về với loài người.

  Câu chuyện không chỉ thuần là một câu chuyện để giải trí. Nó dạy chúng ta một bài học. Nhân loại là một tập thể mù. Và loài người sẽ hạnh phúc với cái đang có, nếu không bỗng dưng có những kẻ sáng mắt nhìn được cái tối tăm. Cuộc đời lúc nào cũng là một cuộc tranh đấu gay go giữa kẻ mù, yên vui trong thế giới của họ và những người tìm được những điều mới và dám nhìn vào những điều họ thấy. Thế nhưng loài người không chấp nhận như thế. Biết bao nhiêu nhà bác học đã phải im tiếng, nhiều người phải lên giàn hỏa, lên đoạn đầu đài vì họ nhìn ra một điều mới hơn những gì mà người khác đã tin. Giản dị nhất là ta nên thức thời. Thức thời là chấp nhận một cái giá phải trả. Nhẹ nhàng, không đau đớn, bảo đảm như cuộc mổ mắt mà chàng thanh niên trong câu chuyện trên toan chấp nhận.

 Nhắm mắt lại, đừng nghĩ ngợi, đừng tách mình ra khỏi đám đông. Từ bỏ cặp mắt mình, từ bỏ quan điểm của mình, từ bỏ tự do của mình. Thật dễ dàng. Ðám đông sẽ nhiệt liệt tán thưởng ta, sẽ bảo vệ ta, kính trọng ta. Cuộc đời sẽ êm đềm và có mọi thứ.

Trừ chính con người THỰC của mình.


- Nguyễn Duy Chính

Wednesday, November 27, 2024

Trịnh Y Thư: Nghệ thuật hay trò bịp: Nhân chuyện một quả chuối được bán với giá 6,2 triệu Mỹ kim

  


 Một tác phẩm Nghệ thuật Khái niệm gồm một quả chuối đơn giản, được dán bằng băng keo lên tường, đã được bán với giá 6,2 triệu đô-la tại một cuộc đấu giá ở New York vào thứ Tư, 20 tháng 11 năm 2024.

    Sự kiện này đã gây xôn xao không ít chẳng những trong thế giới nghệ thuật mà cả dư luận công chúng bên ngoài.

    Tác phẩm với nhan đề Comedian/ Diễn viên hài, của nghệ sĩ người Ý Maurizio Cattelan, đã trở thành một hiện tượng khi ra mắt vào năm 2019 tại Art Basel Miami Beach. Những người tham dự lễ hội nghệ thuật này cố gắng tìm hiểu xem liệu một quả chuối màu vàng đã chín có những đốm đen được dán trên bức tường trắng bằng băng keo bạc loại dán thùng gửi hàng là một trò đùa hay là lời bình luận đầy thách thức láo xược về các tiêu chuẩn đáng ngờ trong giới sưu tập nghệ thuật. Có lúc, một nghệ sĩ khác đã lấy quả chuối ra khỏi bức tường và điềm nhiên bóc vỏ ra ăn.

    Tác phẩm này thu hút quá nhiều sự chú ý đến mức ban tổ chức phải lấy nó xuống cất đi. Nhưng ba phiên bản đã được bán với giá từ 120.000 đến 150.000 đô-la, theo phòng trưng bày xử lý việc buôn bán vào thời điểm đó.

    Năm năm sau, 2024, ông Justin Sun, người Trung Quốc, sáng lập viên công ty tiền tệ điện tử (cryptocurrency) TRON, đã trả mức giá cao hơn 40 lần tại cuộc đấu giá của Sotheby’s. Chính xác hơn, ông Sun đã mua một chứng chỉ xác thực cho phép ông dán một quả chuối lên tường và gọi nó là Comedian.

 


Quang cảnh phòng đấu giá Sotheby’s (New York) với tác phẩm Nghệ thuật Khái niệm Comedian của Maurizio Cattelan.

 

Tác phẩm này đã thu hút sự chú ý lớn tại phiên đấu giá nhộn nhịp của Sotheby’s, khi những người tham dự trong căn phòng đông đúc giơ điện thoại lên để chụp ảnh trong khi ba người xử lý mặc tạp-dề, đeo găng tay trắng đứng ở hai bên quả chuối.

    Giá đấu giá bắt đầu ở mức 800.000 đô-la và chỉ trong vài phút đã tăng lên 2 triệu, rồi 3 triệu, rồi 4 triệu và cao hơn nữa. Giá biểu đấu giá cuối cùng được công bố trong phòng là 5,2 triệu đô-la, và nếu tính luôn chi phí 1 triệu đô-la cho công ty đấu giá người mua phải trả thì ông Sun đã mua một quả chuối với giá 6.2 triệu đô-la.

    Một sự kiện vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nghệ thuật hay bất cứ lịch sử gì!

    Sau khi mua, ông Sun tuyên bố rằng tác phẩm này “biểu hiệu cho một hiện tượng văn hóa kết nối thế giới nghệ thuật, meme và cộng đồng tiền tệ điện tử”. Nhưng ông cho biết phiên bản mới nhất của Comedian sẽ không tồn tại lâu. “… trong những ngày tới, tôi sẽ đích thân ăn quả chuối như một phần của trải nghiệm nghệ thuật độc đáo này, tôn vinh vị trí của nó trong cả lịch sử nghệ thuật lẫn văn hóa đại chúng.” Ông Sun nói thêm như thế.

    Công ty đấu giá Sotheby’s thì gọi Maurizio Cattelan là “một trong những nghệ sĩ khai phóng và khơi gợi nghệ thuật đương đại xuất sắc nhất… Ông đã liên tục phá vỡ hiện trạng, status quo, của thế giới nghệ thuật theo những cách có ý nghĩa, bất kính và thường gây tranh cãi.”

    Dễ hiểu thôi, sau những sự kiện như thế, thường nổ ra những cuộc tranh cãi gay gắt giữa phe theo và phe chống. Phe theo thì bảo đây là thành quả to tát của Nghệ thuật Khái niệm, đã gần như bứt phá mọi rào cản, tất cả cho sự tiến bộ và khai phóng trong nghệ thuật. Tờ Washington Post ca ngợi nó là “lời phê phán sắc sảo về cách nghệ thuật bị thương mại hóa… và sử dụng một cách tinh tế tính hài hước, tính sân khấu và ý thức phi lý để làm như vậy.” Phe chống thì giận dữ bảo phẩm vị con người đã xuống đến tận cùng đất đen, chẳng còn gì để nói nữa. Nghệ thuật trở nên cặn bã bẩn thỉu của những đầu óc cuồng điên, xuẩn động. Chỉ làm giàu cho bọn con buôn như Sotheby’s. Thậm chí, có người bảo đây chỉ là trò bịp bợm, trò hề múa rối của bọn thừa tiền lắm của, ăn không ngồi rồi, dửng dưng trước sự đau khổ của đồng loại, v.v.

    Ai cũng có lý của mình. Và những cuộc tranh cãi như vậy thường chẳng bao giờ đi đến một kết luận trung dung tốt đẹp, một tương nhượng dung hòa, mà chỉ khiến sự phân hóa càng lúc càng trầm trọng, hết thuốc chữa.

    Nhân đây ta nên tìm hiểu sơ qua để biết thêm Nghệ thuật Khái niệm là gì.

    Nghệ thuật Khái niệm xuất hiện như một phong trào vào những năm 1960, khi ý tưởng được xem là ưu tiên hơn sáng tạo trực quan hoặc vật thể. Các nghệ sĩ hướng đến việc thách thức các khái niệm truyền thống về cái đẹp và tay nghề, nhấn mạnh vào sự tham gia của trí tuệ. Đặc điểm của Nghệ thuật Khái niệm là lấy ý tưởng làm cứu cánh trung tâm. Ý tưởng thường được giải thích thông qua tài liệu, văn bản hoặc đối thoại. Phương tiện của nghệ sĩ sáng tạo là phi truyền thống: Các nghệ sĩ thường sử dụng các vật thể tìm thấy sẵn, hình ảnh, văn bản hoặc thậm chí là hành động làm phương tiện sáng tạo. Nhiều tác phẩm Khái niệm không có “vật thể” hữu hình, thay vào đó, tồn tại dưới dạng lời hướng dẫn hoặc các sự kiện có tính cách phù du, thoáng chốc.

    Một vài nghệ sĩ Nghệ thuật Khái niệm đương đại đáng nêu tên gồm có:

    Sol LeWitt, được biết đến với những bức bích họa tối giản, thường được người khác thực hiện dựa trên hướng dẫn của ông.

    Yoko Ono (quả phụ ca nhạc sĩ “The Beatles” nổi tiếng John Lennon) với những bức tranh hướng dẫn của bà mời người xem tưởng tượng hoặc thực hiện các hành động được mô tả trong văn bản do chính bà viết.

    Joseph Kosuth, nổi tiếng với One and Three Chairs, một tác phẩm khám phá ngôn ngữ, phong cách biểu diễn và ý nghĩa.

    Nghệ thuật Khái niệm gắn liền với tư duy cách mạng: Nó định nghĩa lại nghệ thuật, và đặt câu hỏi “Điều gì làm nên nghệ thuật?” thay vì tập trung vào tính cách thẩm mỹ của tác phẩm. Nó có thể được trải nghiệm mà không cần vật liệu hoặc một quá trình đào tạo trường ốc chính quy; nó mở rộng đối tượng bởi đối tượng có thể sáng tạo và tham gia vào nghệ thuật.

    Marcel Duchamp thường được xem là người đi tiên phong trong Nghệ thuật Khái niệm với tác phẩm nhan đề Fountain/ Bồn nước.

 

Tác phẩm Bồn nước của Marcel Duchamp.

 

Bồn nước, thực chất là một bồn tiểu bằng sứ với chữ ký “R. Mutt” trên thành bồn được Duchamp gửi đến dự triển lãm của Hiệp hội Nghệ sĩ Độc lập tổ chức tại Grand Central, New York năm 1917. Khi giải thích mục đích của tác phẩm điêu khắc làm sẵn của mình, Duchamp tuyên bố rằng, “nó là tượng trưng cho những vật dụng hằng ngày được nâng lên thành tác phẩm nghệ thuật theo hành động lựa chọn của nghệ sĩ.” Tác phẩm Bồn nước không bị ủy ban từ chối, vì quy định của Hiệp hội nêu rõ rằng tất cả các tác phẩm sẽ được chấp nhận từ các nghệ sĩ đã trả chi phí, nhưng tác phẩm không bao giờ được đặt trong khu vực triển lãm.

    Tuy vậy, tác phẩm đã được các nhà sử học nghệ thuật và lý thuyết gia tiên phong đánh giá là dấu mốc quan trọng trong nghệ thuật thế kỷ XX.

    Câu nói của Duchamp làm bật lên ý nghĩa cốt lõi của động thái Nghệ thuật Khái niệm. Rằng tác phẩm sẽ chẳng có ý nghĩa gì, tự thân nó chẳng hề là nghệ thuật, nếu nó không có nghệ sĩ đứng đằng sau với những diễn ngôn và giải thích. Ta phải hiểu, hơn bao giờ hết, tác phẩm và nghệ sĩ là một, đi vào linh hồn của tác phẩm là đi vào linh hồn của nghệ sĩ. Nếu hiểu như thế thì ta mới hiểu tại sao quả chuối của Cattelan được trưng bày trong gian phòng trang trọng của công ty đấu giá Sotheby’s trước sự trầm trồ của hàng trăm khán giả thuộc giới trí thức thượng lưu ngồi dưới tranh nhau mua với giá nhiều triệu đô-la. Quả chuối của một bà nội trợ nào đó có thể đẹp đẽ trông ngon lành hơn quả của Cattelan, nhưng sẽ không ai mua dù với giá 3 xu và bà nội trợ đó sẽ bị quy kết là kẻ điên khùng. Chính quá trình sáng tạo và con người nghệ thuật của Cattelan đã khẳng định cho giá trị tác phẩm của ông.

    Nói chung, Nghệ thuật Khái niệm tìm cách kích thích diễn ngôn và thảo luận, đồng thời thách thức nhận thức về bản thân nghệ thuật. Nếu kể từ thời Duchamp thì Nghệ thuật Khái niệm đã có mặt từ trên trăm năm nay, một trong những trường phái hội họa có sức trường tồn mạnh mẽ nhất, và không có dấu hiệu gì nó sẽ chìm vào quên lãng. Nó là diễn ngôn, hoặc nói một cách bình dân, “trò chơi” của giới trí thức khoa bảng, người bình thường như tôi và bạn có lẽ không “cảm” được.

    Tuy vậy, nghệ thuật này cũng bị nhiều người chỉ trích cho rằng nó quá trừu tượng, khó tiếp cận, hoặc phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các giải thích lý thuyết. Ví dụ, Nghệ thuật Trình diễn của nghệ sĩ Chris Burden với tác phẩm Shoot, trong đó anh bị bắn vào cánh tay để tra vấn các vấn đề về bạo lực, sự bấp bênh (của kiếp người) và vai trò của nghệ sĩ. Hoặc tác phẩm Date Paintings của nghệ sĩ Kawara về những bức tranh đơn giản về ngày anh tạo ra chúng nhằm nhấn mạnh vào thời gian và sự hiện hữu.

    Gạt sang bên những tranh luận có tính phiến diện, theo hoặc chống, xung quanh Nghệ thuật Khái niệm, nhân chuyện gây nhiều tranh cãi này, tôi chỉ muốn nói đến ở đây một khía cạnh khác của cuộc nhân sinh.

    Tôi hoàn toàn kính trọng và kính phục thiện ý cũng như tài năng của các nghệ sĩ Nghệ thuật Khái niệm, nhưng tôi thấy họ đã đi quá xa, quá trớn – như trong trường hợp tác phẩm Comedian của Cattelan đang nói đến ở đây – trong vai trò áp đặt nhận thức lên con người.

    Sự Thật hay chân lý, nói chung, là kết quả của nhận thức trong đầu óc chúng ta về chúng.

    Xin kể bạn nghe câu chuyện của tôi.

    Chiều thứ Bẩy tôi đến thăm người yêu. Cô đón tôi ở cửa bằng một nụ hôn đằm thắm, ngọt ngào. Năm phút sau, tôi thú nhận với cô rằng tôi có Người đàn bà khác và muốn chia tay với cô. Cô nổi giận đùng đùng, đứng lên nhổ vào mặt tôi một bãi nước bọt và đuổi cổ tôi ra khỏi nhà cô. Tôi lủi thủi ra về, vừa đi vừa lấy khăn tay lau sạch bãi nước bọt trên mặt mình.

    A, cùng là nước bọt trong miệng cô, cùng một tố chất vật lý-hóa học, cách nhau chỉ có năm phút, nhưng ở nụ hôn thì tôi thấy nó ngọt ngào quyến rũ vô cùng trong khi ở bãi nước bọt trên mặt thì tôi thấy sao tởm lợm ghê ghê, chùi mãi vẫn không thấy sạch.

    Sao vậy? Sao có thể vô lý như vậy được?

    Tất cả là do nhận thức trong đầu tôi. Sự vật y như cũ, hoàn toàn không thay đổi, nhưng nhận thức mình bắt nó là cái gì thì nó là cái đấy. Và, nhận thức của ta thì như làn sương mỏng, một làn gió nhẹ cũng có thể uốn nó giạt về một chiều nhất định, không nhất thiết là chiều cho ta tìm thấy chân lý hay Sự Thật.

    Cattelan dán một quả chuối lên tường, chỉ vào nó, và bảo tôi hãy xem nó như là một tác phẩm nghệ thuật. Vâng, tôi hiểu ý ông, và tôi cũng trân trọng cái thiện ý ấy của ông – cái tát vào chủ nghĩa vật chất hay gì gì đó, những điều cao đẹp hướng thượng cốt làm đẹp cho cuộc nhân sinh – nhưng tôi có phản ứng trước hành động áp đặt (nếu không muốn nói là nhồi nhét) nhận thức của ông, vô tình hoặc cố ý, được hỗ trợ bởi những thế lực mạnh mẽ, lên tôi. Vì sao?

    Áp đặt nhận thức có thể dẫn đến những hậu quả nguy hiểm.

    Nhận thức ảnh hưởng đáng kể đến suy nghĩ và hành vi của cá nhân vì nó định hình tính cách cá nhân đó diễn giải và phản ứng với thế giới xung quanh. Nó đóng khung trải nghiệm, diễn giải hiện thực, chắt lọc thông tin tiên khởi vào cảm xúc và gán ghép ý nghĩa cho thông tin đó. Ta đang sống trong một thời đại mà trí óc ta bị giội bom hằng giờ, hằng ngày bởi nhận thức của kẻ khác, từ nhận thức của các bậc hiền triết thông thái cho đến kẻ phàm phu giả hiệu, và nhất là những thành phần lãnh đạo chính trị dân túy, độc tài. Những nhận thức đó biến cuộc sống ta thành một bãi rác khổng lồ, ngập ngụa bùn nhơ và cặn bã, và một khi những nhận thức đó được hệ thống hóa thành một ý thức hệ thì hậu quả sẽ độc hại khôn lường bởi ý thức hệ dễ biến ta thành kẻ cuồng tín, sẵn sàng nhân danh ý thức hệ làm những điều tồi tệ nhất mà lương tâm ta không hề bị tổn thương sứt mẻ.

    Bạn là một nghệ sĩ có tâm hồn và tài năng vượt trội hơn người, bạn đang cống hiến tài năng và tâm hồn mình với mục đích làm đẹp cho nhân sinh. Vâng, tôi biết ơn bạn, điều đó hay lắm, nhưng chắc gì tài năng và tâm hồn bạn sẽ giúp cá thể tôi hay bất kỳ cá thể nào khác trong cõi nhân sinh khốn khổ này tốt đẹp hơn. Xin bạn đừng áp đặt nhận thức của bạn lên tôi, mà hãy để nó tự chuyển hóa, tự hòa quyện vào dòng chảy chung của cơn lũ cuồng nộ để biết đâu những đợt sóng dữ đục ngầu đó biến thành dòng nước nhẹ nhàng thanh mát cho chúng ta cùng nhau hân hoan chia sẻ.

    Nghệ thuật có nghĩa là khuấy động lên, như danh họa Georges Braque từng phát biểu, nhưng hơn ai hết, nghệ sĩ cũng hiểu là con người không ai giống ai, tám tỉ khối óc là tám tỉ biến tấu cá tính và cảm xúc. Nghệ sĩ không tin vào đa số, không chạy theo số đông, hắn chỉ biết lắng nghe tâm hồn của chính mình, nhưng hắn cũng không bao giờ là kẻ độc tài.

    Chiều nay, trước bữa cơm tối, tôi cũng sẽ lấy một quả chuối dán lên tường, nhìn ngắm tác phẩm của mình trong lúc ăn, rồi sau khi ăn cơm, tôi sẽ lấy nó xuống bóc vỏ ăn để xem cái “trải nghiệm nghệ thuật độc đáo này, tôn vinh vị trí của nó trong cả lịch sử nghệ thuật lẫn văn hóa đại chúng” này mùi vị ra sao.

 – Trịnh Y Thư